Lich su Dang bo huyen Cam My

Lich su Dang bo huyen Cam My

1 Pages 1-10

▲back to top

1.1 Page 1

▲back to top

1.2 Page 2

▲back to top
Lịch sử Đảng bộ huyện cẩm Mỹ
(1930-2010)

1.3 Page 3

▲back to top

1.4 Page 4

▲back to top
TỈNH ỦY ĐỒNG NAI
ĐẢNG Bộ HUYỆN CẨM MỸ
Lịch sử Đẳng bộ
Huyện Cẩm Mỹ
(1930-2010)
THƯVỉậNĩbỉKăGNGNAi
SÁCHTẶNG
2025/ĐC/VV 002063
NHÀ XUẤT BẢN ĐỒNG NAI

1.5 Page 5

▲back to top
Chỉ đạo thực hiện:
Ban Thường vụ Huyện ủy cẩm Mỹ
Ban biên soạn:
- Ban Tuyên giáo Huyện ủy cẩm Mỹ
- Ths. Trần Quang Toại

1.6 Page 6

▲back to top
Lòi giói thiệu
Eẩm Mỹ là một huyện của tỉnh Đồng Nai, chính thức
thành lập và đi vào hoạt động từ đầu năm 2004 (theo
Nghị định số 97/2003/NĐ-CP ngày 21-8-2003 của
Chính phủ). Tuy nhiên, thông qua kết quả khai quật khảo
cổ học thì vùng đất cẩm Mỹ đã có người sinh sống từ hàng
ngàn năm trước.
Huyện Cẩm Mỹ có vị trí quan trọng nằm dọc theo lộ 2
(nay là quốc lộ 56), hưong lộ 10... tiếp giáp với huyện Xuân
Lộc, thị xã Long Khánh, Long Thành của tỉnh Đồng Nai,
huyện Châu Đức, Xuyên Mộc của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Cư dân lâu đời ngoài dân tộc thiểu số Châu Ro, là đội ngũ
công nhân cao su vốn là nông dân các tỉnh miền Trung,
miền Bắc vào làm phu các đồn điền Cuộc-tơ-nay (nay là
Nông trường cao su cẩm Mỹ), Cam Tiêm (nay là nông
trường cao su Ông Quế) những năm đầu thế kỷ 20, có
truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ,
công nhân cao su cẩm Mỹ, Ông Quế, cẩm Đường... dọc lộ 2
và nhân dân Bảo Bình có phong trào du kích chiến tranh
phát triển, là noi đứng chân, cửa khẩu hậu cần của các lực
lượng kháng chiến miền Đông Nam bộ, tỉnh Biên Hòa, Bà
5

1.7 Page 7

▲back to top
Rịa - Long Khánh. Trong suốt 30 năm kháng chiến, công
nhân, nhân dân cẩm Mỹ chịu nhiều hi sinh mất mát, nhung
vẫn một lòng chiến đấu và phục vụ chiến đấu, tin tương vào
thắng lợi cùa cách mạng giải phóng dân tộc thống nhất đất
nước; góp phần xây dựng nên truyền thống “Miền Đông
gian lao mà anh dũng".
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, Đảng bộ, quân dân huyện cẩm Mỹ không
ngừng ra sức khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định cuộc
sống, lao động sản xuất giữ vũng an ninh chính trị, xây dựng
phát triển kinh tế, vàn hóa, xã hội không ngừng nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần, có nhũng đóng góp nhất
định vào công cuộc xây dựng tình Đồng Nai tùng bước tiến
lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Lịch sử phát triển của Đảng bộ, quân dân huyện cẩm
Mỹ thể hiện truyền thống đoàn kết của Đảng bộ, truyền
thống yêu nước cách mạng của nhân dân huyện nhà. Ghi lại
những thành tựu, đóng góp của Đảng bộ và quân dân địa
phưong trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc thống
nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội là cơ sở để giáo
dục truyền thống cách mạng, đồng thời củng cố niềm tin
cho Đảng bộ và nhân dân huyện nhà trong công cuộc xây
dụng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Nhân kỷ niệm 10 năm thành lập huyện cẩm Mỹ, sau
một thời gian sưu tầm, nghiên cứu tư liệu, Đảng bộ huyện
Cẩm Mỹ cho biên soạn và xuất bản Lịch sử Đảng bộ huyện
Cẩm Mỹ 1930 - 2010.
6

1.8 Page 8

▲back to top
Chúng tôi chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo,
cán bộ, chiến sĩ, cơ sở cách mạng trong và ngoài huyện đã
giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thực hiện quyển sử này.
Tuy nhiên, do nhiều điều kiện khách quan, chủ quan, ấn
phẩm không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận
được sự góp ý bổ sung của các đồng chí và nhân dân để ban
biên soạn hoàn thiện hon trong lần tái bản sau.
Xin trân trọng giới thiệu.
TM. BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ
Bí thư
Bùi Hữu Hạnh
7

1.9 Page 9

▲back to top
Mở đầu
HUYỆN CẨM MỸ
ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI,
TRUYỀN THỐNG
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH HUYỆN CẨM MỸ
Huyện Cẩm Mỹ được thành lập theo Nghị định số
97/2003/NĐ-CP ngày 21 tháng 8 năm 2003 của Chính phủ
trên cơ sở điều chỉnh và tách từ hai huyện Xuân Lộc và
huyện Long Khánh (nhưng chính thúc đi vào hoạt động từ
đầu năm 2004).
Huyện Cẩm Mỹ phía bắc giáp thị xã Long Khánh và
huyện Xuân Lộc; phía tây giáp huyện Thống Nhất và huyện
Long Thành tỉnh Đồng Nai; nam tây nam giáp huyện Xuyên
Mộc, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, diện tích
46.796 ha, dân số 151.696 người, gồm có 13 xã: Sông Nhạn,
Xuân Mỹ, Xuân Quế, Thừa Đức, Nhân Nghĩa, Bảo Bình,
Xuân Đường, Xuân Bảo, Long Giao, Xuân Tây, Sông Ray,
Xuân Đông, Lâm San.
8

1.10 Page 10

▲back to top
Tên huyện cẩm Mỹ tuy mới được đặt tù' năm 2003,
nhung vùng đất cẩm Mỹ ngày nay đã có lịch sử lâu đòi. Mùa
xuân 1698 (năm Mậu Dần), Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh
vào xây dựng bộ máy quản lý hành chính ở phía Nam, lấy
đất Đồng Nai (gần như Nam bộ) lập phủ Gia Định với huyện
Tân Bình có dinh Phiên Trấn và huyện Phước Long (Biên
Hòa) với dinh Trấn Biên. Năm 1806 thời vua Gia Long đổi
thành trấn Biên Hòa; đến thời vua Minh Mạng thứ 13 (1832)
đổi thành tỉnh Biên Hòa.
Vùng phía bắc của tỉnh Biên Hòa có nhiều cư dân
người dân tộc thiểu số sinh sống, thời vua Minh Mạng đã
thành lập hai thủ (một đon vị hành chánh ở vùng dân tộc) là
Long Giao và Hưng Phước. Đến năm 1824, thù Hưng Phước
đổi thành thủ Long An; thủ Long Giao đổi thành thủ Phước
Khánh. Đến triều Minh Mạng thứ 18 (1837), hai thủ Long An
và Phước Khánh nhập thành huyện Long Khánh thuộc phủ
Phước Tuy, tỉnh Biên Hòa. Đến thòi vua Tự Đức huyện Long
Khánh gồm 6 tổng 47 xã thôn, trong đó có tổng An Viễn.
Đến năm 1912 tổng An Viễn gồm 6 thôn người dân tộc thiểu
số: Cam Ngôn (sau 1956 giải thể), La Minh (sau 1956 giải
thể), Cam Đường (sau 1956 gọi là làng cẩm Đường), Cam
Mỹ (sau 1956 gọi là làng cẩm Mỹ), Cam Tiêm (sau 1956 gọi
là làng Cẩm Tiêm rồi Ông Quế), Thụy Hưong. Dân tộc thiểu
số được vua ban cho các chữ Tùng, Lâm, Đào, Lý, Dưong,
Mai để làm họ.
Ngày 24-4-1957, chính quyền Sài Gòn ban hành Nghị
định số 131-BNV/HC/NĐ thành lập tỉnh Long Khánh gồm
9

2 Pages 11-20

▲back to top

2.1 Page 11

▲back to top
có hai quận Xuân Lộc và Định Quán, trong đó quận Xuân
Lộc chỉ có 1 tổng Bình Lâm Thượng gồm 13 xã là:
Xuân Lộc, An Lộc, Tân lập, Thói Giao, cẩm Mỹ, cẩm
Tiêm, Gia Ray, Hưng Lộc, Dầu Giây, Gia Kiệm, Bình Lộc,
Bình Hòa, Bến Nôm. Trong đó các xã cẩm Tiêm, cẩm Mỹ,
Thới Giao nay thuộc huyện cẩm Mỹ.
Năm 1963, ngụy quyền tách xã Xuân Lộc thành hai xã
Xuân Lộc và Hiếu Kỉnh. Với chính quyền cách mạng, thường
gọi là xã Bảo Bình gồm 3 ấp Bảo Bình 1, Bảo Bình 2, Bảo
Bình 3.
Đến ngày 31-12-1974, chính quyền Sài Gòn ban hành
Nghị định 996-NĐ/NV nâng xã Gia Ray của quận Xuân Lộc
thành quận Bình Khánh với hai xã là Đồng Tâm và Xuân An.
Trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp và
giai đoạn đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ (1945-1954;
1954-1960), vùng đất huyện cẩm Mỹ ngày nay thuộc về
quận Xuân Lộc (từ năm 1948 gọi là huyện Xuân Lộc).
Tháng 10-1960, sau sự kiện Đồng Khởi, để lãnh đạo
phong trào cách mạng và bố trí chiến trường theo địa lý
hành chính của chế độ Sài Gòn, Trung ương Cục miền Nam
thành lập tỉnh Long Khánh gồm hai huyện Xuân Lộc và
Định Quán. Địa giới huyện cẩm Mỹ ngày nay vẫn thuộc
huyện Xuân Lộc tỉnh Long Khánh. Trong quá trình kháng
chiến chống Mỹ, vùng đất thuộc huyện cẩm Mỹ ngày nay
lúc thuộc tỉnh Bà Biên (1963), lúc thuộc tỉnh Bà Rịa - Long
Khánh (từ tháng 10-1966 đến tháng 5-1971), khi thuộc Phân
10

2.2 Page 12

▲back to top
khu Bà Rịa (từ tháng 5-1971 đến tháng 8-1972), rồi lại về
tỉnh Bà Rịa - Long Khánh (tháng 8-1972 đến tháng 12-1975).
Từ tháng 1-1976, vùng đất nay là huyện cẩm Mỹ thuộc
huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai. Ngày 10-4-1991, Hội đồng
Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra quyết định số 107/HĐBT
tách huyện Xuân Lộc ra thành hai huyện Xuân Lộc và huyện
Long Khánh (nay là thị xã Long Khánh). Đêh tháng 8-2003,
trên cơ sở điều chỉnh một số xã từ huyện Xuân Lộc và thị xã
Long Khánh, huyện cẩm Mỹ thành lặp như hiện nay.
II. HUYỆN CẨM MỸ, VÙNG ĐẤT CÓ TRUYỀN
THỐNG VĂN HÓA
Những phát hiện khảo cổ ở vùng đất Long Khánh tiếp
giáp huyện cẩm Mỹ ngày nay cho thấy cẩm Mỹ là vùng đất
đã có người cổ sinh sống lâu đời.
Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thực dân
Pháp bắt đầu công cuộc khai thác thuộc địa ở Biên Hòa
nhằm bóc lột tài nguyên thiên nhiên phong phú ở vùng đất
đỏ bazan Xuân Lộc (gồm cả cẩm Mỹ), trong đó có việc xây
dựng các đồn điền cao su, mở đường quốc lộ 1, tỉnh lộ số 2
(nay là quốc lộ 56) từ Xuân Lộc về Bà Rịa.
Năm 1927, khi mở con đường số 2, ông Jean Bouchot
(kỹ sư người Pháp) đã phát hiện mộ Cự thạch Hàng Gòn.
Mộ Cự thạch Hàng Gòn nằm trên phần đất của Công
ty cao su Xuân Lộc, tổng Bình Lâm Thượng, tỉnh Biên Hòa;
sau đó thuộc ấp Hàng Gòn, ấp Xuân Thanh, xã Xuân Tân,
huyện Xuân Lộc, nay là phường Xuân Tân thị xã Long
11

2.3 Page 13

▲back to top
Khánh tỉnh Đồng Nai, cao độ 250 m (so mặt nước biển),
cách tỉnh lộ 2 (nay là quốc lộ 56) khoảng 100 m về phía tây,
cách Xuân Lộc 8 km về phía nam và cách Biên Hòa 50 km về
phía đông. Mộ hình hộp ghép bởi sáu tấm đá hoa cuông có
kích thước dài 4,20 m, ngang 2,7 m, cao 1,6 m được bào mài
khá nhẵn ở mặt ngoài, bên trong đẽo gọt sơ sài. Bốn tấm
đan thẳng đúng dùng làm vách đứng, hai tấm nằm ngang
làm mặt đáy và mặt đậy. Nắp mộ dày 30 cm hơi cong trong
khi các vách mỏng hon đôi chút (từ 21 - 25 cm). Jean
Bouchot đã làm một bài tính căn cứ vào tỷ trọng của đá hoa
cương, nắp mộ nặng khoảng 7 tấn.
Mộ Cự thạch Hàng Gòn là một loại hình Dolmen (kiến
trúc mộ đá) lớn nhất so với nhũng ngôi mộ thời tiền sử phát
hiện ở châu Á, một kiến trúc tín ngưỡng của người xưa có
niên đại tù 3.000 đến 2.500 năm cách ngày nay. Di tích mộ
Cự thạch Hàng Gòn cho thấy nghệ thuật, kỹ thuật độc đáo
của người cổ từng sinh sống trên địa bàn này. Sự tồn tại của
mộ Cự thạch Hàng Gòn vẫn còn những câu hỏi chưa có lời
đáp: Chất liệu đá làm mộ không có ở Đồng Nai (một số nhà
nghiên cứu cho loại đá này có thể có ở Phú Yên trở ra miền
Trung). Thế thì người xưa ở vùng đất này bằng cách nào có
thể khai thác được những khối đá khổng lồ và bằng phương
tiện nào để có thể vận chuyển các khối đá để về xây dựng
nên mộ cổ?
Những năm tiếp sau đó, nhiều cuộc thám sát, khai
quật khảo cổ học ở nhiều địa điểm xung quanh Hàng Gòn,
tìm thấy nhiều hiện vật đồ đá, cho phép khẳng định đây là
12

2.4 Page 14

▲back to top
vùng đất có người cổ sinh sống cách ngày nay hàng ngàn
năm.
Năm 1986, trong quá trình điền dã và thám sát khảo cổ
học, tại nông trường cẩm Mỹ, công nhân đã giúp cho Bảo
tàng Đồng Nai phát hiện và thu hồi nhiều hiện vật cổ bằng
đá, bằng đồng, đặc biệt trong đó có con trúc đồng bằng chất
liệu đồng (hiện nay đang được trưng bày tại Bảo tàng Đồng
Nai và đã dược đơn vị lập hồ sơ trình Bộ Văn hóa Thể thao
và Du lịch đưa vào danh sách bảo vật quốc gia). Ngoài mộ
cổ Hàng Gòn, trúc đồng phát hiện ở cẩm Mỹ cho thấy được
trình độ văn minh của người xưa trên vùng đất này, một
hiện vật thể hiện trình độ thẩm mỹ, trình độ kỹ thuật đúc
đồng tinh diệu của người xưa.
1. Đặc điểm tự nhiên và nhân văn
về khí hậu, huyện cẩm Mỹ nằm trong khu vực nhiệt
đới gió mùa, mỗi năm có hai mùa mưa nắng, mùa mưa bắt
đầu tháng 5 đến tháng 11. Mùa nắng từ tháng 12 đến tháng
4 năm sau; lượng mưa bình quân từ 1956 - 2113 mm. về thổ
nhưỡng, huyện cẩm Mỹ nằm trong khu vực núi lửa phun
trào cách nay hàng triệu nàm. Những phún xuất thạch tạo
nên vùng đất đỏ bazan phì nhiêu rất thích họp cho các loại
cây công nghiệp như cao su, tiêu, cà phê, điều và các loại
cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn trái. Ngoài ra, cẩm Mỹ
còn có loại đất đen thích hợp các loại cây công nghiệp, cây
ăn trái.
13

2.5 Page 15

▲back to top
Hầu hết các sông suối trên địa bàn huyện cẩm Mỹ đều
nhỏ, ngắn và không sâu, do vậy nguồn nước mặt phục vụ
cho sản xuất và sinh hoạt bị hạn chế. Tuy nhiên, các sông
suối được phân bố rộng, có khả năng cung cấp nước trong
mùa khô như sông Ray, suối Cả, suối Râm, suối Thề... Đặc
biệt sông Ray đoạn chảy qua huyện dài 25 km, lưu lượng
trung bình 10,6m3/s, dòng sông chính có nước quanh năm,
còn đại bộ phận các nhánh suối đều cạn kiệt vào mùa khô.
Nhiều công trình hồ, đập đã được xây dựng nhằm khai thác
sử dụng nguồn nước từ các sông suối nói trên, bao gồm hồ
Suối Vọng, hồ suối Đôi, hồ suối Cả, hồ cầu Mới, hồ suối
Rang, hồ Long Giao... Các đập đã được xây dựng như đập
suối Sấu (xã Sông Nhạn), suối nước Trong (xã Xuân Bảo),
đập Giao Thông (xã Lâm San), đập Cù Nhí (xã Sông Ray),
đập suối Nhác...
Với địa thế tự nhiên, nhiều hồ đập, huyện cẩm Mỹ có
thể quy hoạch nhũng khu du lịch sinh thái, đón khách từ
Vũng Tàu về, Long Thành qua.
Huyện Cẩm Mỹ còn có tài nguyên đá có thể khai thác
làm vật liệu xây dựng, làm bàn ghế đá, đất làm gạch; tổng
khu vục có thể khai thác đá xây dựng trên 8,8 ha; hàng năm
có thể khai thác từ 25.000 đến 30.000 m3 đá cho nhu cầu xây
dựng, sản xuất trên 2.000 bộ bàn ghế đá các loại. Nguồn đất
sét tại chỗ mỗi năm có thể khai thác sản xuất trên 5 triệu
viên gạch.
Trên địa bàn huyện cẩm Mỹ, có 4 đường giao thông
chính: Quốc lộ 56 (lộ 2 cũ) là đường trục chính của huyện từ
14

2.6 Page 16

▲back to top
Hảng Gòn qua xã Nhân Nghĩa, xã Long Giao, xã Xuân Mỹ
xuống huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; đường 764
từ ngã ba xã Xuân Mỹ xuống xã Sông Ray tiếp giáp huyện
Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; đường 765 từ xã Lang
Minh, huyện Xuân Lộc qua xã Xuân Đông, Sông Ray và xã
Lâm San tiếp giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; hưong lộ 10 từ xã
Long Giao qua cẩm Đường, Suối Trầu, Bình Son (Long
Thành) ra thị trấn Long Thành nối liền với đường quốc lộ
51A.
Là một huyện nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía
Nam, có các đầu mối giao thông thuận lợi về đường bộ,
Cẩm Mỹ đang có rất nhiều điều kiện để mở rộng giao luư
phát triển kinh tế, trao đổi hàng hóa với các địa phưong
trong cả nước. Đặc biệt, theo quy hoạch của trung ương và
của tỉnh, huyện cẩm Mỹ nằm trong một vùng kinh tế phát
triển với nhiều công trình được xây dựng quy mô lớn, có tác
động mạnh đến đời sống kinh tế - xâ hội của địa phương,
như: Sân bay quốc tế Long Thành (kế cận huyện cẩm Mỹ);
đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu
Giây (dài 54,94 km, đoạn đi qua huyện cẩm Mỹ dài 8 km);
Cụm cảng nước sâu Vũng Tàu - Thị Vải... Các công trình
này khi xây dựng hoàn thành có thể thu hút rất nhiều nguồn
nhân lực, giải quyết việc làm cho người lao động ở địa
phương.
về dân cư, huyện cẩm Mỹ có mật độ dân số 324
người/km2 (tỉnh Đồng Nai 369 người/km2), cao hơn mật độ
dân số 3 huyện Tân Phú, Định Quán, Xuân Lộc, trong đó
mật độ dân số cao như xã Sông Ray (519 người/km2), Xuân
15

2.7 Page 17

▲back to top
Mỹ, Xuân Bảo (trên 400 người/km2); các xã Xuân Đường,
Sông Nhạn, Xuân Quế mật độ chỉ trên dưới 200 người/km2.
Cư dân bản địa huyện cẩm Mỹ là những dán tộc thiểu số
như Châu Ro, S’tiêng và những người vốn xuất thân từ
những công nhân công tra cao su vào lao động trong các
đồn điền cao su dọc lộ số 2 những năm dầu thế kỷ XX.
2. Vị trí chiến lược
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ,
vùng đất huyện cẩm Mỹ có vị trí quan trọng: Địa bàn huyện
hầu hết là rừng tự nhiên và rừng cao su (Cẩm Mỹ, cẩm Tiêm
tức Ông Quế), liền với cao su cẩm Đường, Bình Son của
huyện Long Thành và nhiều đồn điền tư nhân (trên lộ số 2)
như Việt Cường, Quang Minh, Hoàng Quân, Hòa Lạc,
Quỳnh Hưong, sở Bà Đầm... tiếp giáp với huyện Xuân Lộc,
huyện Châu Đức, Xuyên Mộc (Bà Rịa - Vũng Tàu), trong đó
xã Sông Ray từng là căn cứ, noi đứng chân chỉ đạo của Tỉnh
ủy Bà Rịa - Long Khánh. Lộ số 2 (nay là tỉnh lộ 56) là con
đường vận chuyển nguyên liệu cao su về Sài Gòn; đồng thời
là đường vận chuyển quân sụ của thực dân, đế quốc Mỹ về
Vũng Tàu.
Năm 1957, chính quyền Sài Gòn thành lập tỉnh Long
Khánh (bao gồm cả các huyện Tân Phú, Định Quán, Xuân
Lộc, Cẩm Mỹ, thị xã Long Khánh). Khi Mỹ bắt đầu đổ quân
vào miền Nam thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ,
miền Đông Nam bộ trở thành chiến trường quan trọng
trong toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở miền
Nam.
16

2.8 Page 18

▲back to top
Trong kháng chiến chống Mỹ cún nước (1954-1975),
huyện Cẩm Mỹ có xã Bảo Bình thuộc huyện Xuân Lộc và các
đồn điền cao su như cẩm Mỹ, Hàng Gòn, Ông Quế, cẩm
Đường và một sô' đồn điền tư nhân (lộ số 2) thuộc huyện
Cao Su tỉnh Long Khánh (sau tháng 12-1966 là tỉnh Bà Rịa -
Long Khánh).
Để bảo vệ con đường huyết mạch liên tỉnh số 2, hỗ trợ
chi viện cho chiến trường miền Đông và cực Nam Trung bộ,
đặc biệt các quốc lộ 1, quốc lộ 15, Mỹ xây dựng căn cứ
Trung đoàn 11 thiết giáp ở Suối Râm, ở Long Giao (thường
gọi căn cứ Suối Râm) với trên 650 xe tăng thiết giáp. Địch
xây dựng chi khu Xuân Lộc với 1 tiểu đoàn bảo an cơ động.
Lực lượng địch bố trí trên địa bàn gồm Sư đoàn 18 bộ binh;
tại dinh điền cẩm Đường bố trí 1 đại đội bảo an; Ông Quế,
Cẩm Mỹ có 1 đại đội bảo an và trung đội dân vệ, thanh niên
chiến đấu, phòng vệ xung kích và hệ thống tề xã, ấp.
Ngoài ra, lực lượng chi viện và cơ động hỗ trợ bình
định gồm có Trung đoàn Hoàng gia úc và pháo binh Tân
Tây Lan đóng tại Núi Đất (Hòa Long, Bà Rịa) thường xuyên
hành quân càn quét, đánh phá phạm vi đến cẩm Đường,
Cẩm Mỹ, Lâm San, Sông Ray. Tại khu vực Long Thành có Sư
đoàn Mãng xà vương Thái Lan đứng chân ở căn cứ Nước
Trong phạm vi hoạt động đánh phá đến khu vực Thừa Đức,
Cẩm Đường, Sông Nhạn, ông Quế... Từng đợt chiến dịch
địch còn tăng cường Lữ dù 173 và Lữ bộ binh 199 của Mỹ
tham gia đánh phá, càn quét khu ỵưc đông tây lộ 2.
THƯVlậXTtóNGNAll 2C25/ĐC/VV
SÁCH TẶNG
002063
17-

2.9 Page 19

▲back to top
Quốc lộ I, quốc lộ 15 và đường liên tỉnh số 2 (nay là
quốc lộ 56) trong kháng chiến được xem là khu tam giác
quan trọng, nơi hoạt động, đứng chân xây dựng hậu cần của
kháng chiến. Lộ số 2 với các đồn điền cao su, công nhân có
truyền thống yêu nước, yêu cách mạng là nơi đứng chân
hoạt động của các lực lượng vũ trang chủ lực Miền và Quân
khu 7 như Trung đoàn 4, Trung đoàn 33, Tiểu đoàn 445,
Tiểu đoàn 440 tỉnh Bà Rịa - Long Khánh, nơi đứng chân chỉ
đạo của huyện Cao Su tỉnh Bà Rịa - Long Khánh...; đồng
thời trên tỉnh lộ 2 các đơn vị hậu cần của tỉnh Bà Rịa - Long
Khánh, hậu cần Khu miền Đông... cũng mở nhiều cửa khẩu
hậu cần thu mua hàng hóa thiết yếu cho cách mạng (như
gạo, thực phẩm, các thiết bị y tế...).
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Bảo Bình,
Cẩm Mỹ là vùng chiến sự ác liệt. Địch liên tục đánh phá
vùng nam - bắc lộ 1, đông - tây lộ 2 và nam - bắc lộ 15, gom
dân về các ấp chiến lược, kìm kẹp công nhân các đồn điền
Cẩm Mỹ, Cẩm Đường, Ông Quế..., dùng xe ủi phá rừng hai
bên đường số 2 nhằm bóc các căn cứ của ta, đánh phá các
cửa khẩu mua lương thực của hậu cần ta.
III. TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH
1. Sự ra đời và nỗi khốn khổ của công nhân cao su
Thực dân Pháp với kinh nghiệm trong việc khai thác,
bóc lột thuộc dịa đã sớm nhìn thấy Biên Hòa (trong đó có
Xuân Lộc, Cẩm Mỹ) là vùng đất đầy tiềrh năng để Ịàm giàu.
18

2.10 Page 20

▲back to top
Tuy nhiên phải đến khi Pôn Đu-me (Paul Doumer) lên
làm Toàn quyền Đông Dương, thì chính sách khai thác
thuộc địa của thục dân Pháp mới thật sự được thực thi một
cách có bài bản và kế hoạch: “Đẩy mạnh nền sản xuất và
thương mại bằng việc phát triển công cuộc thực dân hóa
của người Pháp và bằng sức lao động của người bản xứ"
(theo dự án ngày 23-7-1798 do Pôn Đu-me soạn gửi cho Bộ
trưởng thuộc địa Pháp) (1).
Theo dự án này, nền sản xuất ở thuộc địa chỉ nhằm
cung ứng cho nước Pháp các nguyên liệu mà nền công
nghiệp Pháp đang cần hay những vặt phẩm với giá rẻ mà
nước Pháp không có; nền công nghiệp thuộc địa không
phương hại đến công nghiệp ở chính quốc, đồng thời biến
thuộc địa thành thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp
Pháp.
Với dự án này, Pôn Đu-me được giới tư bản Pháp đánh
giá là “vị toàn quyền tài giỏi nhất, từ lâu xứ thuộc địa này
chưa từng có và cũng sẽ không có” (2). Chính sách Pôn Đu-
me đề ra cũng khởi đầu cho việc đẩy mạnh công cuộc trồng
và khai thác cao su - một loại vàng trắng mang lại siêu lợi
nhuận cho tư bản thực dân Pháp.
1 p. Doumer, ưindochìne/ranẹaise (Souvenữ) Đông Dương thuộc Pháp (Hồi
ký), dẩn theo Đinh Xuân Lâm và nnk: Đại cương Lịch sừ Việt Na/nt T.n,
lr.96, Nxb Giáo dục 1998.
2 Arnaud de Voguel: Ainsi la SIPH \\’int du nionde, Paris, 1993.
19

3 Pages 21-30

▲back to top

3.1 Page 21

▲back to top
Cuối những năm 90 thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nhiều
tư bản Pháp triển khai các dự án trồng và khai thác các sàn
phẩm trong nông nghiệp, nhưng đa số trồng mía, tiêu, ca
cao, thu lợi không cao.
Năm 1910, Công ty đồn điền Đất Đỏ (Société des
plantations des terres rouges, viết tắt là SPTR) được thành
lập, trụ sở đặt tại Sài Gòn. Công ty khai thác cao su ở Biên
Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một. vốn ban đầu của công ty là
2.300.000 franc với 23.000 cổ phần. Đến năm 1923, số vốn
tăng lên đến 36.000.000 franc; năm 1925 tăng lên 46 triệu và
năm 1935 vốn tăng lên đến 110 triệu. Công ty này có 2 đồn
điền ở Đồng Nai là đồn điền Long Thành (gồm Bình Son và
An Viễn) thuộc huyện Long Thành và đồn điền Cuộc-tơ-nay
(Cẩm Mỹ) nay thuộc huyện cẩm Mỹ.
Năm 1910, Bi-ê-tri (Biétry), vốn là thủ lĩnh công đoàn
vàng ở Pháp, được chính phủ thuộc địa cấp cho 20.000 ha
đất đỏ ở Cam Tiêm. Sau đó do làm ăn thất bại, năm 1924 Bi-
ê-tri bán lại vùng đất đỏ Cam Tiêm cho Gi-ra (Girad) để
kinh doanh trồng mía và làm đường từ năm 1927, nhưng do
thất bại liên tiếp từ 1928-1930, Gi-ra chuyển sang trồng cao
su, lấy tên là đồn điền Ông Quế.
Những năm 20 của thế kỷ XX, trên địa bàn huyện cẩm
Mỹ có hai công ty cao su của thực dân Pháp hoạt động. Đó
là công ty đồn điền cao su Xuân Lộc (SPHXL: Société des
plantations d'hévéas de Xuan Loc), công ty Đất Đỏ (SPTRL:
Société des plantations des Terres rouges), trong đó những
đồn điền trực thuộc như: Đồn điền Cam Tiêm đã trồng 150
20

3.2 Page 22

▲back to top
ha/ 2.000 ha tổng diện tích; đồn điền Cuộc-tơ-nay
(Courtenay). Từ năm 1926, công ty đồn điền nông nghiệp
Sông Ray ra đời.
Cao su là một nguồn lợi lớn của tư bản thực dân, bọn
chủ tư bản các đồn điền cấu kết với chính quyền thuộc địa
phong kiến ở địa phương bóc lột công nhân một cách trắng
trợn. Người dân tộc thiểu số sống lâu đời trong buôn sóc,
bản làng trên mảnh đất đỏ phì nhiêu bị tư bản Pháp cấu kết
chính quyền thuộc địa đuổi đi để lấy đất lập các đồn điền
cao su.
Việc mộ phu từ miền Bắc, miền Trung vào lao động
trong các đồn điền cao su là món mồi béo bở cho bọn mộ
phu, bởi cứ mộ được một phu, bọn chúng được hưởng lợi từ
10 đến 12 đồng. Do vậy, bọn mộ phu đã tuyên truyền lừa mị
người nông dân nghèo khổ đăng ký vào Nam, nào là mỗi
ngày làm việc được lãnh 80 xu, được cấp gạo trắng, có cá,
thịt, chỗ ở đàng hoàng, ốm đau được chăm sóc, ngày làm 6
giờ...
Thực tế hoàn toàn trái ngược. Đây là bức thư của một
công nhân đăng trên báo Echo Annamite ngày 19-9-1928:
"... Họ phát trước cho chúng tôi mỗi người 5 đồng,
chúng tôi lên xe ngồi, xe chạy thì họ trở mặt ngay, động một
tí là họ chửi, họ đánh, gần đến Phan Thiết thì 2 cu ly đánh
liều nhảy xuống, không biết sống chết ra sao. Đến nơi
chúng tôi còn nhiều điều thất vọng nữa.
Tiền công mỗi ngày chỉ trả 0,3 đồng thay vì 0,80 đồng
như họ đã nói, động một tý thì phạt lương, gạo chỉ phát vừa
21

3.3 Page 23

▲back to top
đủ ăn, nuớc mắm thì hôi thối không ăn được, cá khô và thịt
thì đừng mong đến mà rầy...”.
Đồng chí Trần Tử Bình trong “Phú Riềng đỏ" kể lại có
người còn bị lừa ký họp đồng bàng cách: "Chúng bảo chụp
hình để trình nhà nước. Có thế saư này xảy ra chuyện gì,
chính phủ mới bênh vục cho. Thế rồi chúng đưa người phu
đi chụp ảnh... Sau đó, chúng đưa giấy bảo người ấy điểm
chỉ để sau nhận ảnh. Sau đó mới biết té ra giấy đó lại chính
là một tờ họp đồng in sẵn. Cái người bị lừa ấy không bao giờ
biết là mình đã điểm chỉ vào giấy bán đứt tính mạng và tự
do của mình cho chủ tư bản”(1).
Người lao động (tức đi mộ phu) ký giao kèo (Contrat)
đi phu thường là 3 năm hết hạn. Nội dung ký giao kèo có
nhiều điều khoản như: Công nhàn có quyền về xứ, đi nod
khác làm hoặc tiếp tục ký lại công tra..., nhung có những
điều chúng chỉ hứa hẹn mà không đưa vào giao kèo, đa
phần người phu bấy giờ ít học, không biết chữ cứ tin theo,
người nào không biết ký tên thì lãn tay vào tờ giao kèo.
Trong thời gian giao kèo người công nhân không được
tự do đi lao động cho chủ khác, không được thôi việc khi
chưa hết hạn giao kèo dù có lý do chính đáng... Tóm lại,
trong thời gian giao kèo, người phu đã bán mình cho chủ
đồn điền có thời hạn. Nói có thời hạn nhưng đa số dân công
tra ít người về được quê hưcrng.
1 Trần Tứ Bình, Plui Riềng đõ, Nxb Lao động, Hà Nội, 1965, ir.241.
22

3.4 Page 24

▲back to top
“Trước khi ởBắc kỳ ra đi, người ta hứa phát gạo không
mất tiền cho phu, nhưng khi đến đồn điền thì người ta trừ
tiền gạo vào lương. Vợ cai, xu (giám thị) bán chịu gạo vớigiá
2 đồng một hộc, gạo này rất xấu, phu phải tự nấu ăn. Phu
phải uống nước suối hay nước nguồn vì không có nước
uống, vài người lấy lá cây rừng về nấu uống. Công tra là 3
năm, nhưng công ty tìm cách kéo dài thành 4 năm bằng
cách vin cớ chủ nhật và những ngày lễphu không đi làm.
Nhưng sau 4 năm ngườiphu may mắn sống sót cũngkhông
có cách nào quay về xứ vi không có tiền và quần áo. Họ
buộcphải ởlại và ký thêm giao kèo nữa. "(1)
Theo nghị định ngày 25-10-1927 cùa chính quyền thực
dân, phu đồn điền mỗi ngày làm việc nhiều nhất 10 giờ, kể
cả thời gian đi và về; mỗi tuần được nghỉ 1 ngày hay hai
tuần nghỉ 2 ngày liền; tết nghỉ 4 ngày; ngày 5 tháng 5 và rằm
tháng bảy âm lịch cũng được nghỉ. Chủ quy định cho người
phu tối thiểu đạt 25 công trong tháng. Phụ nữ sau khi sinh
con được nghỉ 1 tháng ăn lưong.
Nhưng thực tế hoàn toàn trái ngược. Trong một bài
viết đăng trên báo Phục Sinh tháng 12-1928, viên thanh tra
các vấn đề chính trị Đờ-la-ma (De Lamare) viết: " Tuy nhiên
tất cả những lời khai của những ngườiphu mà tôi thu thập
được đều nhất trí rằng, giờ lao động là như sau: 3 giờ sáng
thúc dậy, 4 giờ tập họp, nhưng vì có hàng ngàn phu phải
1 Paul Monet: Entre deux feux, dẫn iheo Lịch sứ phong trào công nhân cao su
Việt Nam.
23

3.5 Page 25

▲back to top
đến nên chắc chắn giờ khởi hành không thể trước 4 giờ 30,
giữa ngày được nghimộtgiờrưỡi, nhưng tất cả nhữngngười
phu đều đoán chắc rằng chỉ đến tối mịt thì họ mới được trở
về nhà"(1).
Như vậy, tính ra mỗi ngày người công nhân phải làm
từ 13 giờ đến 14 giờ đồng hồ. Bắt đầu 1 ngày làm việc khi
trời còn tối, công nhân đã phải ra lô, con họ chưa thức dậy.
Đến tối khi về nhà thì con đã ngủ rồi.
Người công nhân lao động ngoài lô cao su, phải đối
đầu với nhiều hiểm nguy, tai nạn ngoài việc bị cai, xu, sếp
đánh đập. Vào nhũng năm khai phá rùng già để trồng cao
su, vói công cụ hết sức thô sơ lại cùn lụt, và do chưa có kinh
nghiệm chặt hạ cây nên nhiều nguôi bị cây đè chết. Ở Láng
Lớn (sở Cuộc-tơ-nay) vào những năm đầu phá rừng trồng
cao su, có ngày hàng chục công nhân bị gãy chân, gãy tay.
Có người khi cây sắp đổ còn không biết cây đổ hướng nào,
chạy không kịp bị cây đè chết. Nhũng người bị chết được
chất lên xe bò chở ra chôn ngoài nghĩa địa Láng Lớn.
Rùng ẩm thấp, nên muỗi, vắt, mối càng, kiến độc... có
mặt khắp nơi. Loại kiến nhọt chích đau không thua ong
chích. Loại mòng đỏ tía bằng hạt thầu dầu, cắn vào chân tay
có thể gây sâu quảng (tức ghẻ hờm) rất khó chữa, nhiều
công nhân phải cưa tay, chân vì không điều trị được. Mối
rùng cấn gây sốt có người sốt nằm ở lô, bị mối ăn đến chết.
Báo Phục sinh (Laresurection) xuất bản ờ Pháp số tháng 2-1928.
24

3.6 Page 26

▲back to top
Để quản lý không cho dân phu bỏ trốn, ngay khi vào
đồn điền làm phu, người lao động được phát một thẻ số để
thay tên gọi. Cách quản lý công nhân của tư bàn đồn điền
quả không khác gì trong trại tù.
Bộ máy quản lý và cai trị đồn điền cao su gồm chủ,
sếp, xu, cai, ký. Ngoài ra, còn có lính tuần tra.
Chúng đã chia những người làm việc ở đồn điền làm 4
hạng:
- Hạng chủ, sếp. Loại này hoàn toàn người Pháp, bọn
này chính là những hung thần nắm trọn quyền sinh sát
trong tay đối với công nhân.
- Hạng thầy. Loại này gồm xu, ký, cai chiếm khoảng
10% tổng số công nhân viên đồn điền. Những người này
được chù Tây ưu đãi hon, (đặc biệt là xu, sếp, ký). Họ là
những người thay mặt chủ, trực tiếp điều khiển công nhân.
Những người này cũng phải bán sức lao động kiếm tiền
lưong. Dù rằng mỗi ngày họ gần gũi với công nhân nhưng
việc làm và sinh hoạt của họ rất cách biệt. Họ là tầng lóp
trên của đồn điền được công nhân gán cho là hạng "khạc ra
lửa, mửa ra tiền”. Thông qua bộ máy xu, ký, cai này mà bọn
chủ tư bản kiểm soát và bóc lột công nhân. Sử dụng hạng
thầy này, nhũng nhà tư bàn Pháp đã làm cho người công
nhân khó thấy được những thủ đoạn bóc lột tàn bạo của
chúng. Người công nhân khi chưa được giác ngộ cách
mạng, thường dễ nhận thấy đối tượng căm ghét chính của
mình là loại này hon là chủ, sếp Tây. Cho nên, có khi công
nhân nói: "Thằng Tây không ác bằng người Việt”.
25

3.7 Page 27

▲back to top
- Hạng thợ: Gồm thợ mộc, rèn, hồ, điện, cơ khí, tài
xế... lương thợ thấp hơn thầy nhưng khá hơn dân phu,
chiếm độ 5% tổng số công nhân.
- Hạngphư. gồm có phu cạo mủ, phu linh tinh, phu
thời vụ, phu làm thường xuyên, số này chiếm khoảng 85%
tổng số công nhân trong sở. Công nhân cạo mủ chiếm tỷ lệ
ngày càng cao trong quá trình vườn cây đưa vào khai thác
ngày càng nhiều.
Công nhân là nguồn lực làm ra loại “vàng trắng” cho tư
bản, nhưng đồng thời cũng là lực lượng chịu nhiều bóc lột
nhất trong đồn điền. Cao su là lãnh địa riêng của tư bản, là
"địa ngục trần gian” của công nhân. Người phu cao su trong
đồn điền tư bản có thể bị đánh đập, cúp phạt lương vì hàng
chục tội sau đây:
1. Bắt kiềng lệch và không đúng kích thước.
2. Đặt chén hứng mủ hơi nghiêng, lau chén mủ
không sạch.
3. Cạo không ngay, đường cạo không thẳng.
4. Cạo không đúng quy định Imm (không được nông
hoặc sâu hơn)
5. Cạo phạm xương cây.
6. Để mủ rơi xuống đất, dù chỉ vài giọt.
7. Trời mưa để mủ tràn dính cây mà không gỡ kịp.
8. Không cạo hết phần cây khoán.
9. Bệnh chưa liệt giường mà không đi làm.
26

3.8 Page 28

▲back to top
10. Thu không đủ số mủ quy định.
11. Không biết “phải, quấy" với cai, xu.
12. Có vợ xinh mà không dâng cho sếp.
13. Để gốc cây bẩn...
Đây chính là những tội trạng mà bọn chủ Tây đề ra để
hành hạ công nhân, nhiều người phu thường than vãn “trên
đầu công nhân có bao nhiêu tóc thì có bấy nhiêu tội”.
Ở sở Cuộc-tơ-nay (nay là cẩm Mỹ), ai vào làm sở này
đều ghê sợ khi nghe đến tên chủ sở Bu-du. Hắn đánh phu
cạo rất ác, ngày nào ra lô nó mặc quần dài thì thôi, còn thấy
nó mặc quần “soọc” đi vào lô là ngày đó nó đánh người rất
dữ. Tên “Rô-ba-trê méo miệng” đánh người phu đến mức
chưa thấy đổ máu, nó nhào đến cắn vào người cho đổ máu
ra mói chịu thôi. Ở đây còn có tên sếp Bô-lanh mà công
nhân quen gọi là sếp “mũi lõ" hoặc Tây “ướt lung”, nó rất
siêng đi lô để đánh phu. Một hôm vào mùa đông, đã hon 9
giờ sáng rồi mà rùng cao su Láng Lớn vẫn còn âm u, sưong
lạnh dày đặc, anh 68 (người phu được đặt số 68) hát chèo
đang ngon tay cạo ở hàng cây đầu đường, anh tập trung tâm
lực vào việc cạo để tránh nhũng lỗi kỹ thuật như cạo vô
xưong, hay cạo đầy dăm, nên thằng sếp Bô-lanh đến bên
anh lúc nào anh không hay biết. Anh còn thanh niên có sức
khỏe, cạo rất nhanh, thường ngày anh cạo một mạch đến
khi nào gần hết phần cây mà rộng thời giờ anh mới nghỉ cạo
một chút cho khỏe rồi mới cạo tiếp. Hôm ấy vì không để ý
thằng sếp đến bên cạnh, anh vừa ngồi phịch xuống đất thở
phì khoan khoái, thì bất ngờ tên Bô-lanh đi đến đá vào mặt,
27

3.9 Page 29

▲back to top
vào người anh nhiều cái nảy lửa. Anh chỉ biết kêu lên thất
thanh và ngã xuống đất bất tỉnh, máu đổ dầy mặt. Một lúc
lâu, anh 68 tỉnh lại, nó nắm tay lôi anh đứng dậy và nói "giỏi
cho mày lơi công việc, mày làm mà chẳng có mồ hôi thấm
lưng”, rồi tiếp tục đánh. Không được chăm sóc thuốc thang,
ba hôm sau anh tắt thở. Tên sếp Bô-lanh, hàng ngày còn bắt
cai đánh phu cho nó coi, ai có "tội” bắt đánh 50 roi vào
mông, cai đánh phu nhẹ, nó bắt cai nằm xuống cho phu
đánh lại. Thấy gái được mắt, nó hỏi và ghi số, tối đến sai
“gác dan” xuống bất lên cho nó làm nhục. Nó đến kíp "đi
ve” của đàn bà, cai không biết ý bỏ đi mà còn luẩn quẩn ở
đó thế nào cũng bị nó đánh.
Đến đồn điền Cuộc-tơ-nay, được nghe công nhân
nhắc đến cái chết của anh phu 70 trong mùa mưa dầm
tháng 6-1941 thật là thê thảm. Anh bị sốt rét nặng, sáng đi
điểm danh, anh xin xu Lu ở Láng Lớn cho anh khai "ma
lách” (malade tức khai bệnh). Nhung xu Lu không cho, buộc
anh phải ra lô cạo như mọi ngày. Vợ anh phu 70 thấy vậy,
chạy về nhà bắt con gà mái tơ chạy lên nhà xu Lu. Hắn nhìn
con gà mái tơ, mặt lạnh như tiền, rồi lắc đầu: “Đem gà về đi,
vợ chồng mày có đôi, mày đem gà lên chi mà lẻ loi vậy?”.
Chị 70 hiểu ý xu Lu, nhung khổ nỗi, đào đâu ra con gà nữa.
Anh 70 phải ráng lết ra phần cây của mình để cạo.
Thế rồi, trời vần vũ sắp đổ mưa. Tiếng đập thùng rầm
lên báo hiệu lệnh trút mủ gấp. Anh 70 mệt lả, nhung cũng
ráng xách thùng di trút mủ, nhung kiệt lực anh đã xỉu tại
gốc cây cao su. Vừa khi ấy xu Lu tới, hắn xấn tới không cần
hỏi han, đá tới tấp vào người anh. Rồi con mưa ào đến, hắn
28

3.10 Page 30

▲back to top
mặc vội áo mưa, nhảy lên xe đạp, đạp một mạch về hướng
nhà mủ. Dứt mưa, bác cai 3.000 điểm dân trong kíp thấy
thiếu anh 70 cho người đi tìm và gặp anh nằm xoài trên đất
đỏ, máu tươi rỉ bên mép, tay chân lạnh ngắt, cặp mắt nhắm
nghiền. Anh em trong kíp thay phiên nhau bế anh về nhà,
tối đó anh 70 đã tắt thở.
Ở đồn điền Ông Quế (trước kia có tên là Cam Tiêm),
nhũng dân phu cao su chết thật nhiều, chết như rạ, có trận
dịch tả chết hàng trăm người, nên dân phu gọi thêm cái tên
là Cà Rạ.
Cuộc sống của công nhân trong các đồn điền cao su
thời Pháp thuộc chính là cuộc sống lao tù khổ sai, hoàn
toàn trái ngược với cuộc sống nhung lụa, sống phè phỡn
của bọn tư bản, địa chủ, tay sai thực dân ở các đồn điền trên
mồ hôi, nước mắt và cả xương máu hàng ngàn công nhân,
lao động(1).
Bàng sự bóc lột hết sức tàn bạo, sức lao động của người phu cao su,
bọn tư bản thực dân Pháp đã tạo ra những món siêu lợi nhuận kếch
xù:
+ Công tỵ SIPH vốn ban đầu
29.600.000 fr
Năm 1937 lãi
4.945.000 fr
Nam 1951 lãi
1.300.000.000 fr
+ Công ty SPH-XL, vốn ban đầu 360.000 fr
Năm 1937 lãi
4.193.000 fr
Năm 1939 lãi
8.830.000 fr
+ Công tỵ Đất Dó, vốn ban đầu
2.300.000 fr
Năm 1939 lãi
75.070.000 fr
Nam 1953 lãi
1.071.000.000 fr
29

4 Pages 31-40

▲back to top

4.1 Page 31

▲back to top
2. Đầu tranh của công nhân
Trong cuộc sống tối tăm, bị áp búc bóc lột nặng nề của
tư bản Pháp, địa chủ và bọn tay sai, công nhân, người lao
động chỉ còn một con đường là vùng dậy đấu tranh.
Giữa năm 1925, Hội Thanh niên cách mạng Việt Nam
(còn gọi Thanh niên cách mạng đồng chí hội) được Nguyễn
Ái Quốc thành lập ở Quảng Châu (Trung Quốc). Nhiều
thanh niên yêu nước được cử sang theo học các khóa huấn
luyện, sau đó trở về nước hoạt động. Tháng 10-1926, Phan
Trọng Bình và Nguyễn Văn Lợi được cử về Sài Gòn xây dựng
cơ sở. Mạng lưới Kỳ bộ Nam kỳ của Hội Thanh niên cách
mạng Việt Nam phát triển nhanh ở Sài Gòn và các tỉnh với
khoảng 500 hội viên. Thực hiện chủ trương vô sản hóa,
nhiều hội viên hòa mình vào đi làm trong các nhà máy, đồn
điền...
Tại Xuân Lộc, đồng chí Ngô Gia Tự (thuộc tổ chức
Đông Dương Cộng sản Đảng) cử Nguyễn Đức Văn (Nguyễn
Tam) về hoạt động trong đồn điền Cuộc-tơ-nay (nay là
nông trường cao su cẩm Mỹ).
Tháng 10-1926, hàng trăm công nhân đồn điền cao su
Cam Tiêm (ông Quế) đã nổi dậy đấu tranh với chủ đồn
điền: Chống đánh đập, cúp phạt, công nhân đau ốm phải
được điều trị đủ thuốc. Cuộc đấu tranh này thu được một
phần thắng lợi, chủ đồn điền phải đứng ra chấp nhận và xoa
dịu công nhân.
Ngày 20-9-1928, ở đồn điền Cam Tiêm (Ông Quế) lại
nổ ra một cuộc đấu tranh lớn của 500 công nhân. Công
30

4.2 Page 32

▲back to top
nhân đồng loạt nghỉ việc, kéo ra sân điểm (nơi điểm danh
công nhân trước khi ra lô cạo mủ vào sáng sớm) biểu tình,
phản đối chủ sở đánh đập, đưa yêu sách (kiến nghị) đòi tăng
lương cải thiện đời sống, đòi thực hiện đúng những điều
khoản trong bản "công tra” mà họ đã ký trước khi bước
chân đến đồn điền.
Cuộc bãi công này kéo dài từ sáng sớm đến chiều, đã
làm bọn chủ hoảng sợ. Tên Giám đốc đồn điền cấp tốc cử
tên phụ tá đến sở hiến binh Xuân Lộc vào lúc 14 giờ ngày
20-9 để xin hiến binh và lính đến can thiệp. Tỉnh trưởng
Biên Hòa đã cử 20 lính và 3 hiến binh đi bằng ô tô đến đàn
áp, làm nhiều người chết và bị thương, nhiều người khác
phải tản vào rừng. Tên chủ sở và bọn sếp phải chạy qua Dầu
Giây trốn, đến hôm sau hiến binh và lính ở Cam Tiêm đến
đưa về.
Trong bản điều tra của văn phòng viên Tỉnh trưởng
Biên Hòa, ngày 20-9 có ghi: "Sự việc nêu trên cho thấy hiến
binh Xuân Lộc khiếp vía nên phải đánh điện cho tòa bố
Biên Hòa yêu cầu gởi gấp lực lượng hiến binh và điều tra
viên để lập lại trật tự...”.
Vì sao đồn điền Cam Tiêm, công nhân bãi công lần thứ
hai? Dưới đầu đề: "Ai và cái gì mà các công nhân gây ra cuộc
nổi loạn”. Báo Echo Annamite ngày 20-9-1928 đã viết: "500
công nhân gốc Bắc kỳ ở đồn điền Cam Tiêm vừa nổi loạn,
trật tự trở lại mau chóng sau đó khi có sự can thiệp quyết
liệt. Đây là cuộc nổi loạn lần thứ 2 xảy ra trên đồn điền này.
Lần thứ nhất xảy ra vào tháng 12 năm 1926 cũng do 500
côngnhân này dựphần...
31

4.3 Page 33

▲back to top
Thay vì quy trách nhiệm cho các viên chức đại diện
chánh quyền và các viên chức trong đồn điền, chủ đồn điền
lại xoay qua phía công nhân để tìm nguyên do gây rối mà họ
có ý tự phụ là họ sẽ chế ngự được các công nhân gốc Bắc Kỳ
này. Báo chí An Nam bài bác các cung cách cùa người mộ
dân và lý giải nguyên nhân cuộc đấu tranh như sau: Nhiều
hứa hẹn đẹp đẽ đểphỉnh gạt nhừng người nghèo khổ, kể cả
việc cho mượn tiền trước và bàng cách đểcho họ ký tên vào
bản "công tra"mà chính họ chẳng biết điều khoản thứlnói
gì. về phía các phụ nữ, thiếu nữ, người mộ dân còn nhẫn
tâm tước đoạt hết một sôquyền lợi mà đănglý ra người dân
sắp làm công tra phải được hưởng.
Ngày mà bản công tra bắt đầu có hiệu lực, người dàn
công tra mới nhận thấy rằng mình bị đặt dưới quyền lực của
chủ nhăn, bị đày đọa khổ sai ở các vườn cao su, và cảm thấy
mình bị lừa một cách đốn mạt. Từ nỗi thất vọng này mới
nảy sinh ra mối bất bình dẫn đến việc gây rối...
Điều cần lưu ý, đây là cuộc đấu tranh đầu tiên nổ ra
trong thời kỳ vận động thành lập Đảng.
Cuộc đấu tranh của công nhân Cam Tiêm và sự đàn áp
bằng bạo lực của thực dân Pháp đã làm xôn xao và gây xúc
động dư luận quần chúng trong nước và ở Pháp. Tổng liên
đoàn lao động Pháp đã lên tiếng phản đối sự đàn áp của
bọn thực dân Pháp đối với công nhân ở đồn điền này và bày
tỏ sự đồng tình ủng hộ cuộc đấu tranh của giai cấp công
nhân Việt Nam nói chung, công nhân Cam Tiêm nói riêng.
Béc-na-đô-ni (Bernardoni), ủy viên ban chấp hành
Tổng liên đoàn lao động Pháp, đã vạch trần tội ác của bọn
32

4.4 Page 34

▲back to top
tư bản thực dân: “ Hỡi người thợ thuyền ở sở cao su. Anh có
biết giá trị cao su bây giờ hạ lắm, thếmà bọn nghiệp chủ
ngày càng giàu không? Anh làm lụng vất vả suốt ngày như
thếmà tiền công có đủ ăn không?Anh bị bóc lột rồi anh ạ!
Những sự nghiệp lớn lao làm cho người ta phải kinh hãi đó,
tức là mồ hôi, nước mă't của hàng nghìn người lao độngnhư
anh vậý’. Và ông còn kêu gọi:
“Hỡi anh em cu-ly trong các sở cao su. Nếu anh em
muốn bọn nghiệp chủ phải thừa nhận lời yêu cầu chính
đáng của anh em, thì anh em nên đoàn kết nhau lại cho
thành một Công đoàn có thếlục...
Các anh hãy đoàn kết nhau lại, chưa muộn đâu.r (1).
Lời kêu gọi Béc-na-đô-ni (Bernardoni), ủy viên ban
chấp hành Tổng liên đoàn lao động Pháp, đã tiếp thêm sức
mạnh đoàn kết của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động Pháp, cho công nhân cao su trong cuộc đấu tranh
chống đế quốc, thực dân tư bản.
Công nhân cao su là lực lượng lao động đông nhất ở
Cẩm Mỹ, Cam Tiêm cũng là đội ngũ có truyền thống đoàn
kết và đấu tranh, cùng với nông dân và các tầng lóp lao
động khác trở thành lực lượng chính trong cuộc đấu tranh
giành độc lập dân tộc khi có Đảng lãnh đạo.
Báo Tiếng Dân số ra ngày 13-11-1928.
33

4.5 Page 35

▲back to top
Chương I
PHONG TRÀO ĐẤU TRANH
THỜI KỲ 1930-1945
Năm 1929, Ban chấp hành Trung ương lâm thời của
“Đông Dương Cộng sản Đảng” đã cử đồng chí Ngô Gia
Tự vào miền Nam hoạt động, gây dụng cơ sở Đảng trong
quần chúng công nhân ở các nhà máy, đồn điền... miền
Đông Nam bộ.
Đồng chí Nguyễn Đức Văn (tự Nguyễn Tam) được
đồng chí Ngô Gia Tự cử về những đồn điền cao su Biên Hòa,
Bà Rịa để vận động cách mạng, xây dựng cơ sở Đảng, lãnh
đạo công nhân đấu tranh.
Ngày 28-10-1929, Chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng
được thành lập ở đồn điền cao su Phú Riềng gồm 6 đảng
viên: Trần Tử Bình, Nguyễn Xuân Cừ, Nguyễn Mạnh Hồng,
Tạ, Hòa, Doanh do Nguyễn Văn Cừ làm Bí thư Chi bộ.
Từ ngày 3 đến ngày 7-2-1930, đồng chí Nguyễn Ái
Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản Đảng chủ trì hội nghị gồm
đại diện 3 tổ chức Đảng trong nước, thành lập Đảng Cộng
34

4.6 Page 36

▲back to top
sản Việt Nam và ra lời kêu gọi, ban hành bản khởi thảo Luận
cuông chính trị của Đàng, Cuông lĩnh và Điều lệ Đảng...
Sự xuất hiện của Đảng Cộng sản Việt Nam bấy giờ là
một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam,
bởi sụ kiện này chấm dứt thời kỳ cách mạng Việt Nam ở
trong tình trạng đen tối, không có đường ra, chấm dứt thời
kỳ bế tấc, khủng hoảng về đưông lối hon 2/3 thế kỷ, kể từ
khi nước ta bị thực dân Pháp xâm lược.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào đấu tranh cách
mạng của nhân dân Việt Nam nói chung, công nhân cao su
ở Biên Hòa được đẩy lên một bước mới: đấu tranh tự giác.
Đặc biệt, từ khi Chi bộ Đông Dưong Cộng sản Đảng ở Phú
Riềng được thành lập, phong trào đấu tranh chống lại bọn
chủ, sếp, đốc công người Pháp ngày càng lên cao và lớn hơn
về quy mô và mục đích.
Ở làng Đất Đỏ, đồn điền Bình Sơn vào năm 1932, nổ ra
một cuộc đấu tranh của công nhân với 2 khẩu hiệu “Chống
đánh đập, chống cúp phạt”. Tháng 5-1934, công nhân đồn
điền các công ty cao su ở Biên Hòa đã bãi công 2 ngày
chống hạ thấp tiền lương, chủ sở phải nhượng bộ.
Nãm 1934, Chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương tỉnh Bà
Rịa đầu tiên được thành lập tại xã Phước Hải. Từ đây, những
đảng viên trong Chi bộ đã đến các đồn điền cao su Bình Ba,
Xà Bang, Láng Lớn, cẩm Mỹ và các đồn điền cao su trên lộ 2
để hoạt động, xây dựng cơ sở cách mạng trong quần chúng
công nhân.
35

4.7 Page 37

▲back to top
Tháng 6-1936, Mặt trận nhân dân Pháp, trong đó có
Đảng Cộng sản Pháp làm nòng cốt giành thắng lợi lớn trong
cuộc tổng tuyển cử ở Pháp.
Triệt để lợi dụng tình hình chính trị có những điều
kiện thuận lợi diễn ra ở nước Pháp, Đảng Cộng sản Đông
Dương chủ trương chuyển hình thức hoạt động từ bí mật,
không họp pháp sang hoạt động công khai họp pháp và nửa
họp pháp, tận dụng sức mạnh của báo chí cách mạng, tiến
bộ nhằm tập họp và hướng dản đông đảo quần chúng đấu
tranh từ thấp đến cao, chủ yếu đòi dân sinh dân chủ, cải
thiện đời sống, thông qua đó giáo dục, phát triển đội ngũ
cách mạng.
Phong trào Đông Dương đại hội đã dấy lên sôi nổi
trong cả nước. Các đồng chí Trương Văn Bang (nguyên Bí
thư Xứ ủy Nam kỳ năm 1933), Lê Quang Sô, Trần Vân Cừ (từ
Bà Rịa qua), Nguyễn Văn NghTa (tự Xược, từ Biên Hòa lên)
và nhiều cán bộ khác đã về vùng Xuân Lộc và các đồn điền
cao su lập ra các ủy ban hành động để tập họp, lãnh đạo
công nhân đấu tranh. Các tài liệu của Đảng như: "Lời hiệu
triệu của các ủy ban hành động”, báo Lao động, Dân
chúng... được phổ biến khá rộng rãi trong các đồn điền cao
su. Qua đó, phong trào đã tập họp rất nhiều trí thức, kể cả
một số cai, xu tiến bộ trong các sở cao su tham gia phong
trào cách mạng.
Trước không khí cởi mở trong nước, nhiều tổ chức
quần chúng công khai và bán công khai được phát triển
nhanh khắp các đồn điền cao su: Hội ái hữu, tương tế...
36

4.8 Page 38

▲back to top
nhằm mục đích đoàn kết công nhân và bảo vệ quyền lợi
công nhân.
ủy ban hành động tỉnh Biên Hòa do đồng chí Nguyễn
Văn Nghĩa làm Chủ tịch. Các đồng chí Truông Vãn Bang,
Nguyễn Văn Nghĩa ở Biên Hòa, Lê Văn Sô, Trần Văn Cù,
Nguyễn Thị Sáu ở Bà Rịa đã về các đồn điền cao su trên lộ 2
(nay thuộc huyện cẩm Mỹ), đi vào vùng đồng bào dân tộc,
các đồn điền cao su, thị trấn vận động cách mạng, khcri dậy
lòng yêu nước trong các tầng lớp quần chúng. Báo Dân
chúng, báo Lao độngđược phổ biến trong các đồn điền cao
su. Nhiều tổ chúc công khai họp pháp được tổ chức trong
đồn điền như Hội tương tế, Ái hữu, Hội đồng hương... để
tập họp quần chúng.
Thông qua các hoạt động, một số quần chúng yêu
nước, giác ngộ đã được kết nạp vào đảng: sở cao su Hàng
Gòn có đồng chí Xê, công nhân cạo mủ; sở cao su Cam Tiêm
(Ồng Quế) có đồng chí Nguyễn Văn Lắm (Ba Nghệ), thợ
máy, đồng chí Lê Văn Vận (Năm Vận) ở thị trấn Xuân Lộc;
các đồng chí nguời dân tộc Châu Ro như Điểu Xiển, Đoàn,
Hậu...
Tháng 2-1937, tại khu rẫy Bàu Trâm thuộc tổng Bình
Lâm Thượng, quận Xuân Lộc, đồng chí Phạm Hồng Hải, cán
bộ do Tỉnh ủy lâm thời Biên Hòa tăng cường, đã triệu tập
cuộc họp và thống nhất xây dụng chi bộ Đảng đầu tiên ở
Xuân Lộc (cũng là của cẩm Mỹ). Đồng chí Nguyễn Văn Huệ
được cử làm Bí thư; đồng chí Nguyễn Văn Lắm Phó bí thư,
37

4.9 Page 39

▲back to top
các đảng viên Lê Văn Vận, Nguyễn Thành Danh, Nguyễn
Minh Duỡng, Lê Vàn Như, Huỳnh Công Mật, Điểu Xiển...
Chi bộ phân công đồng chí Nguyễn Vãn Lắm phụ
trách phong trào các đồn điền cao su; đồng chí Điểu Xiển
phụ trách các vùng đồng bào dân tộc; đồng chí Nguyễn
Thành Danh, Nguyễn Minh Dưỡng, Lê Văn Như... phụ
trách các xã Gia cấp, Võ Quang, Bình Lộc...
Ngày 15-9-1936, Chính phủ Pháp đã ra lệnh giải tán
các ủy ban hành động, cấm tất cả các cuộc hội họp của
nhân dân, bắt giam và xét xử những người đứng đầu các ủy
ban hành động, tịch thu các báo cổ động cho Đại hội Đông
Dưong. Bọn thực dân ở thuộc địa được lệnh của Mu-tê
(Moutet), Bộ trưởng Bộ thuộc địa, cho phép dùng mọi biện
pháp thích đáng như truy nã, đàn áp để chặn đứng cuộc vận
động.
Ngày 1-1-1939, toàn thể công nhân các đồn điền cao
su trong tỉnh Biên Hòa đã bãi công đòi tăng lưong, đòi cải
thiện đời sống: cho lấy nước trong sở để dùng, trại phải có
ván nằm, đòi thả những người bị bắt, không được đuổi thợ
vô cớ...
Trước tình hình đó, các đồng chí tổ chức hội "Những
người công nhân nghèo” để tiếp tục cuộc vận động cách
mạng trong công nhân cao su.
Tháng 9-1939, chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ.
Thực dân Pháp chủ trưong "tập trung lực lượng đánh vào
Đàng Cộng sản một cách toàn diện và mau lẹ”, để rảnh tay
đối phó với phát xít Đức. Mặt khác, chúng tâng cường bóc
38

4.10 Page 40

▲back to top
lột nhân dân ta nặng nề hơn lúc nào hết, để chuẩn bị chiến
tranh. Tháng 5-1940 Pháp đầu hàng phát xít Đức. Ngày 22-
9-1940, Nhật đưa 6.000 quân lính chiếm Lạng Sơn, mở đầu
sự xung đột Pháp - Nhật, tình thế Đông Dương bước sang
một bước ngoặt mới.
Ngày 23-11-1940, khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra ở một số
địa phương ở Nam bộ. Chủ trương khởi nghĩa bị thực dân
phát hiện, nhiều đồng chí Trung ương và Xứ ủy bị thực dân
Pháp bắt, nên cuộc khởi nghĩa bị thất bại. Ở Biên Hòa, thực
dân Pháp tổ chức tấn công bất ngờ vào rùng Tân Uyên, một
số đồng chí trong Tinh ủy Biên Hòa bị hi sinh, bị bắt. Đội vũ
trang phải rút vào rừng sâu để bảo tồn (cho đến Cách mạng
tháng Tám 1945).
Tình hình chung, nhiều nơi địch khủng bố rất ác liệt,
phong trào lắng xuống, tổ chức tan vỡ. Cán bộ một số lớn bị
bắt, bị đày, một số phải chuyển vùng lánh đi nơi khác.
Trong lúc tình hình khó khăn, nhưng ở các đồn điền cao su
Biên Hòa phong trào cách mạng tiếp tục phát triển. Được sự
bảo vệ của công nhân, đây là nơi ẩn náu tốt và là chỗ rất
thuận lợi cho cán bộ lánh vào tiếp tục hoạt động.
Cuối năm 1940, đồng chí Hồ Văn Đại (Sáu Đại) đã về
làng Cấp Rang (sở An Lộc), đồng chí Nguyễn Văn Long về sở
Dầu Giây, Bình Lộc và một số đồng chí nữa cũng về các sở
Cuộc-tơ-nay, Cam Tiêm, Hàng Gòn, Túc Trưng, Cây Gáo...
hoạt động, xây dựng và phát triển cơ sở cách mạng trong
phong trào công nhân cao su.
39