Lich su Dai doi Lam Son

Lich su Dai doi Lam Son

1 Pages 1-10

▲back to top

1.1 Page 1

▲back to top
NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP đ ồ n g n ai

1.2 Page 2

▲back to top
LỊCH SỬ ĐẠI ĐỘI LAM SƠN
(8/1945 - 7/1954)

1.3 Page 3

▲back to top

1.4 Page 4

▲back to top
Lf-
4r
BAN LIÊN LẠC TRUYỀN THốNC cựu CHIẾN BINH
ĐẠI ĐỘI LAM SƠN
LỊCH SỪ
Đ^I ©)ộĩ
scxn:
(8/1945 - 7/1954)
2018/BC/vv 00001210
rTHặ^í&n
9 .. *Nt1
Ịl
t - ŨÒMi-N4I J
„-Đ_/-'?QG 3 /
NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP đ ô n g n a i

1.5 Page 5

▲back to top
LÃNH ĐẠO BIÊN SOẠN
Ban Thường VỊI Tỉnh ủy Đồng Nai
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Nai
CHÌ ĐẠO BIÊN SOẠN
Ban Liên lạc truyền thống cựu chiến binh
Đại đội Lam Sơn
BIÊN SOẠN
Trần Quang Toại
Nguyễn Thị Tuyết Hồng

1.6 Page 6

▲back to top
LỜI GIỚI THIỆU
Đại đội Lam Sơn lạ một đơn vị trang từ
nhân dân ra, hình thành lớn lên từ những
đội dân quân, du kích, chiến đấu sự nghiệp giải
phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam quang vinh, trực tiếp Tỉnh ủy Biên
Hòa (từ năm 1951 tỉnh Thủ Biên), Huyện ủy
Vĩnh Cửu.
Đại đội Lam Sơn đứng chân hoạt động trên
một chiến trường rộng lớn so với thực lực của mình
(bao gồm địa bàn các huyện Vĩnh Cửu, Thống Nhất,
thành phố Biên Hòa một phần huyện Long
Thành ngày nay); đồng thời chiến trường rất ác
liệt, vừa phải đánh địch, vừa phải bảo vệ Chiến
khu Bình Đa, bảo vệ đường giao thông chiến lược từ
Chiến khu Đ về Biên Hòa, xuống Long Thành
ngược lại.

1.7 Page 7

▲back to top
Trong chín năm kháng chiến chống thực dân
Pháp, Đại đội Lam Sơn đã vượt qua nhiều khó
khăn, gian khổ, lúc tưởng chừng không vượt qua
đước (như trận bão lụt năm 1952), gắn với nhân
dân được nhân dân thương yêu, đùm bọc, giúp
đỡ tận tỉnh, đã góp phần làm nên những chiến
thắng ý nghĩa lịch sử như: Bàu Cá, Phước Cang
Long Điềm, Trảng Bom, Đại An, Giang Rế... Trong
quá trình chiến đấu, cán bộ chiến Đại đội Lam
Sơn đã xây dựng nên những truyền thống quý báu:
Kiên cường, sáng tạo trong chiến đấu, đoàn kết
quân dân chính Đảng, gắn với nhân dân “đi dân
nhớ, dân thương... Đại đa số cán bộ, chiến của
Đại đội Lam Sơn trong thời kỳ kháng chiến chống
Mỹ cứu nước trở lại chiến trường miền Nam
chiến đấu, trở thành những cán bộ lãnh đạo, chỉ
huy trên các chiến trường. Ngày nay nhiều đồng chí
đã nghi hưu, trở thành nòng cốt gương mẫu trong
các hoạt động doàn thể Cựu chiến binh, tiếp tục
vận động quần chúng trong sự nghiệp xây dựng
bảo vệ Tổ quốc.
Được Tỉnh ủy, ủy ban nhân dân, Hội Cựu
chiến binh tỉnh Đồng Nai giúp đỡ tạo điều kiện,
Ban Liên lạc truyền thống cựu chiến binh Đại đội
Lam Sơn đã tiến hành viết lại lịch sử hỉnh thành
phát triển của đơn vị trong cuộc kháng chiến

1.8 Page 8

▲back to top
chống thực dân Pháp. Trong quá trình biên soạn,
Ban Liên lạc đã được những cán bộ, chiến Đại
đội Lam Sơn cung cấp nhiều liệu thông qua hồi
ức, tọa đàm lịch sử, Phòng Nghiên cứu lịch sử
Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Hội Khoa học lịch
sử tỉnh giúp đỡ về liệu, chuyên môn.
Quyển“Lịch sử Đại dội Lam Sơn (8/1945 -
7/1954) đã thể hiện được những sự kiện, nhân vật,
tập thể anh hùng của đơn vị; thể hiện được quá
trình hình thành, thành tích chiến đấu, xây dựng
truyền thống của Đại dội. Đó vốn quý của lịch
sử lực lượng trang tỉnh nhà, đồng thời niềm
tự Hào của quân dân địa phương.
Quyển sử đã hoàn thành không thể tránh
được sai sót bởi một thực tể những sự kiện đã
diễn ra trên nửa thế kỷ, số cán bộ, chiến của Đại
đội còn lại không nhiều so với số đã hi sinh qua
đờL
Tuy vậy đây một tài liệu quý trong công
tác giáo dục tường truyền thổng cách mạng,
đặc biệt với thế hệ trẻ địa phương. Quyển sử như
một lời tri ân gởi đến những gia đình, sở cách
mạng từng đùm bọc, chở che Đại đội Lam Sơn
suất chín năm kháng chiến; gởi đến vong linh

1.9 Page 9

▲back to top
những cán bộ, chiến của đơn vị đã anh dung hi
sinh đã khuất.
Xin trân trọng giới thiệu quyền sách quý đến
bạn đọc xa gần.
BAN LIÊN LẠC TRUYEN THốNG
cựứ CHIẾN BINH
ĐẠI ĐỘI LAM SƠN

1.10 Page 10

▲back to top
ĐẶC ĐỊỂM CHIẾN TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG
CỦA ĐẠI ĐỘI LAM SƠN <*>
Chiến trường hoạt động, tác chiến chủ yếu của
Đại đội Lam Sơn trong cuộc kháng chiến chông thực
dân Pháp rất rộng bao gồmcác huyện Long Thành,
Châu Thành Vĩnh Cửu (thành lập năm 1948, tách
ra từ quận Châu Thành), ngày nay tương đương với
địa bàn các huyện Long Thành, Vĩnh Cửu, Thông
Nhất thành phô' Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Đây những địa bàn vị trí chiến lược của
tỉnh Biên Hòa, một cửa ngõ quan trọng để vào thành
phô' Sài Gòn, xuống miền Tây Nam bộ, đồng thời
cửa ngõ án ngữ căn cứ địa Chiến khu Đ anh hùng của
miền Đông Nam bộ. Trên chiến trường những
đường giao thông chiến lược: Quô'c lộ 1 nô'i liền Nam
Bắc; đoạn từ ngã ba Dầu Giây nô'i với quốc lộ 20 lên
Tây Nguyên; quô'c lộ 15 từ Biên Hòa về Rịa-Vũng
Tàu; đường sông Đồng Nai nô'i liền sông Lòng Tàu ra
biển Đông về Sài Gòn, miền Tây Nam .bộ; đường
sắt Bắc Nam. thể hình dung khu vực chiến trường
hoạt động của Đại đội Lam Sơn như một rẻ quạt,
Xem Địa bàn hoạt động của Đại dội Lam Sơn trong phần phụ bàn
ảnh

2 Pages 11-20

▲back to top

2.1 Page 11

▲back to top
trong đó quận Châu Thành (nay thành phố Biên
Hòa) trung tâm tỉnh lỵ của Biên Hòa.
Trong kháng chiến chông thực dân Pháp, đây
chiến trường rất quyết liệt. Thực dân Pháp sau khi
đánh chiếm Sài Gòn đã triển khai ngay binh lực đánh
chiếm khu vực này để làm bàn đạp mở rộng chiếm
đóng khu vực cao su (Xuân Lộc, Long Khánh hiện
nay), một trong những nguồn cung cấp chiến phí cho
cuộc chiến tranh xâm lược của chúng; mở đường đánh
lên Tây Nguyên xuống khu vực ven biển Rịa -
Vũng Tàu. Chiếm đóng làm chủ khu vực này, thực
dân Pháp còn tạo một bàn đạp quan trọng để thể
đánh vào căn cứ địa quan trọng của Biên Hòa, miền
Đông như Chiến khu Đ, Chiến khu Rừng Sác. Quận
Châu Thành nơi thực dân Pháp đặt những quan
chỉ huy như tiểu khu Biên Hòa, đặc cảnh miền Đông,
quan tình báo (2e Bureau) của Pháp mỉền Đông,
Bộ chỉ huy trung đoàn 22 Pháp nhiều trại giam...
Địa hình hoạt động tác chiến khu vực này cũng
hết sức phức tạp: Vừa đô thị, vừa rừng, sông suôi
chằng chịt, nơi trú quân tốt, đồng thời cũng gây không
ít khó khăn, nguy hiểm cho đơn vị trong tác chiến,
trong vận động trước sự phòng dày đặc của kẻ thù.
Đặc biệt, nơi đứng chân hoạt động chính của
đơn vị Chiến khu Bình Đa, một căn cứ kháng
chiến của huyện Châu Thành, huyện Vĩnh Cửu, chỉ
cách trung tâm tỉnh lỵ Biên Hòa khoảng 3 km theo
10

2.2 Page 12

▲back to top
đường chim bay, mổì đe dọa thường xuyên với thực
dân Pháp. Nhiệm vụ của Đại đội Lam Sơn không chỉ
bảo vệ Chiến khu Bình Đa, bảo vệ Đảng nhân
dân, đánh giao thông, làm nòng cốt cho phong trào du
kích chiến tranh trong địa phương, còn đảm
đương một công việc quan trọng đưa đón, bảo vệ
các đoàn cán bộ, đảm bảo tuyến giao thông huyết
mạch từ Chiến khu Đ về Hố Cạn, Bình Đa vượt các lộ
1, 20, 15, đường sắt để về hướng Xuân Lộc (bao gồm
cả huyện Long Khánh ngày nay).
Thuận lợi bản của Đại đội Lam Sơn trên chiến
trường sông chiến đâ'u trong sự yêu thương, đùm
bọc, giúp đỡ của quần chúng nhân dân. Khu vực Long
Thành, Châu Thành nơi phong trào nghĩa quân
kháng chiến dưới cờ Bình Tây Đại Nguyên soái
Trương Định, căn cứ Bàu (nay thuộc huyện
Thông Nhát) từ sau năm 1861 khi thực dân Pháp
chiếm Biên Hòa lần thứ nhát. Đây cũng địa bàn
hoạt động của hội kín Thiên Địa hội những năm đầu
thế kỷ 20, nổi bật với nhà Nho yêu nước Đoàn Văn Cự
xây dựng căn cứ kháng chiến Bưng Kiệu (nay thúộc
phường Tam Hiệp, thành phố" Biên Hòa); nơi tổ chức
yêu nước Lâm Trung Trại kháng Pháp từng tổ chức tâ'n
công Tòa bố Biên Hòa giải thoát nhiều thanh niên bị
thực dân Pháp bắt đi lính sang Pháp năm 1916.
Nhân dân trên địa bàn truyền thống yêu
nước đoàn kết cao, đa đồng bào nông dân

2.3 Page 13

▲back to top
sinh sông lâu đời địa phương, những lao động nghèo
thành thị. Đặc biệt tại đây còn dội ngũ công nhân
cao su, xuất thân từ nông dân từ miền Trung, miền
Bắc đi công tra làm phú các đồn điền của bản,
một tầng lớp chịu nhiều áp bức bóc lột của bản nên
tinh thần cách mạng rất cao, đồng thời nguồn
bổ sung lực lượng quan trọng cho đơn vị.
Với những thuận lợi khó khăn như trên, Đại
đội Lam Sơn trong quá trình chiến đấu đã kiên cường
bám trụ địa bàn, vận .động quần chúng không
ngừng sáng tạo trong mọi công tác, lập nên những
thành tích trong cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp.

2.4 Page 14

▲back to top
CHƯƠNG I
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
(1945 -1948)
I. VÀI NÉT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
THỐNG NHẤT CÁC Lực LƯỢNG TRANG, BƯỚC
ĐẦU HÌNH THÀNH BA HÌNH THỨC Tổ CHỨC
TRANG CÁCH MẠNG BIÊN HÒA (1945 - 1946)
Cách mạng tháng Tấm thà-nh công sự kiện
lịch sử cùng trọng đại, đưa đất nước nhân dân
Việt Nam thoát khỏi ách thông trị của thực dân, trở
thành quốc gia độc lập, tự do, dân chủ. Nước Việt Nam
Dân chủ cộng hòa ra đời với Tuyên ngôn Độc lập do
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 2 tháng 9 năm 1945,
Nhà nước công nông đầu tiên Đông Nam châu Á.
Không từ bỏ .dã tâm cướp nước ta, đêm 22 rạng
23-9-1945, thực dân Pháp nổ súng tiến công Sài Gòn,
mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta một lần
nữa. Theo lời kêu gọi của Xứ ủy Nam bộ, nhân dân
Sài Gòn Gia Định đã nhâ't tề đứng lên chông Pháp
mở đầu cuộc kháng chiến chông thực dân Nam bộ.
Cùng với nhân dân Nam bộ, nhân dân Biên Hòa sục
sôi ý chí chiến đâu chông kẻ thù xâm lược. Tình hình
hết sức khẩn trương, đặt ra cho lãnh đạo tỉnh phải

2.5 Page 15

▲back to top
gấp rút xây dựng bộ máy, sẵn sàng lãnh đạo nhân
dân kháng chiến.
Tối 23-9-1945, tại nhà hội Bình Trước, quận
Châu Thành, đồng chí Huy Giáp thay mặt Xứ ủy
triệu tập hội nghị cán bộ toàn tỉnh Biên Hòa. Hội
nghị đã bầu ra Ban chấp hành lâm thời của Tỉnh ủy
gồm 11 đồng chí quyết định nhiều vâ'n đề lớn trước
mắt, trong đó đặt ra vấn đề xây dựng lực lượng
trang kháng chiến (1).
Thực hiện nghị quyết của hội nghị Bình Trước
để gấp rút đào tạo, xây dựng lực lượng trang
địa phương sẵn sàng cho cuộc kháng chiến sắp diễn
ra trong nay mai trên địa bàn tỉnh, ngày 26-9-1945,
Trại huấn luyện du kích Vĩnh Cửu (xã Tam Hiệp,
quận Châu Thành) khai giảng khóa học đầu tiên. Học
viên khoảng 70 người gồm thanh niên, nông dân các
quận Châu Thành, thanh niên công nhân Nhà
máy cưa BIF, lực lượng chiến đấu Sài Gòn, Biên
Hòa..., đặc biệt một tiểu đội lính Nhật Tân Vạn
theo kháng chiến gia nhập Trại làm nhiệm vụ hướng
dẫn sử dụng khí, dạy chiến thuật tác chiến.
Trường đang mở khóa thứ hai (mỗi khóa học nửa
tháng) thì địch tổ chức càn quét phải dời về ấp Bình
Đa, An Hảo rồi về Sở Tiêu (Tân Uyên). Hầu hết trại
viên sau này đều trở thành cán bộ quân đội nòng côt
cho lực lượng trang Biên Hòa, Rịa một số
Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tình Đồng Nai 1930-
1995 - tập I - NXB Đồng Nai-1997
14

2.6 Page 16

▲back to top
tỉnh miền Đông trong suốt chín năm kháng chiến.
Cũng ngay sau ngày Cách mạng tháng Tám
thành công, việc gấp rút xây dựng lực lượng trang
được Uy ban nhân dân cách mạng lâm thời các
quận xúc tiến khẩn trương. Trên địa bàn tỉnh Biên
Hòa lúc bấy giờ nhiều tổ chức trang yêu nước
gồm:
Vệ quốc đoàn quận Châu Thành: Thành lập một
đơn vị trang, lực lượng gồm 5 tiểu đội, trang bị 30
khẩu súng do Doãn Tiến Nghiệp sau đó Văn
Ngọc chỉ huy. Đơn vị đứng chân huấn luyện tại
Thường Lang (hữu ngạn sông Đồng Nai). Ngoài ra còn
các đơn vị trang khác của Nhà máy cưa BIF, đề
xe lửa An, bộ đội Hồ Văn Giàu, bộ đội Nguyễn
Chức Sắc...
Vệ quốc đoàn quận Long Thành: Được thành lập
vào tháng 9-1945 trên sở hợp nhất đơn vị cộng hòa
vệ binh Long Thành, Thủ Đức, công nhân cao su
Thành Tuy Hạ, học viên Trại huấn luyện Vĩnh Cửu -
Bình Đa, được tổ chức thành ba phân đội (mỗi phân
đội tương đương trung đội). Thành phần chủ yếu
thanh niên, công nhân, nông dân các sở cao su các
thuộc địa bàn quận. Đến tháng 10-1945, Vệ quốc
đoàn Long Thành phát triển thành bôn phân đội với
khoảng 200 người 50 súng các loại:
Phân đội 1: do Nguyễn Văn Toàn làm Phân
đội trưởng.

2.7 Page 17

▲back to top
Phân đội 2: do Minh Như làm Phân đội
trưởng.
Phân đội 3: do Nguyễn Văn Mỹ làm Phân đội
trưởng.
Phân đội 4: do Dương Ngọc Thạch làm Phân
đội trưởng.
Lần lượt chỉ huy chung Đội Giám, Nguyễn
Tam Nguyên, Huỳnh Văn Đạo, Nguyễn Văn Lung.
Vệ quốc đoàn Biên Hòa: Sau khi Pháp chiếm thị
xã. Biên Hòa các vùng phụ cận thuộc quận Châu
Thành, ủy ban kháng chiến miền Đông Nam bộ tan
rã, Huỳnh Văn Nghệ cùng khoảng 40 tay súng rút về
Tân Hòa, Tân Tịch, Mỹ Lộc, Đất Cuốc (quận Tân
Uyên) xây dựng lực lượng trang, xây dựng căn cứ
kháng chiến lâu dài. Tại đây, Huỳnh Văn Nghệ đã
nhanh chóng tập hợp nhóm trang do Nguyễn Văn
Quỳ chỉ huy (tồn tại từ sau sự kiện Nam kỳ khởi
nghĩa 1940), lực lượng Trại huấn luyện Vĩnh Cửu,
Trại huấn luyện quân sự Sở Tiêu, cùng với số quân
hiện từng bước phát triển lực lượng trang. Lần
lượt, các bộ phận trang nhỏ lẻ về qui tụ trong lực
lượng của ông ngày càng đông với tên gọi Vệ quốc
đoàn Biên Hòa. Thành phần hợp thành lực lượng bộ
đội Vệ quôc đoàn Biên Hòa công nhân các đồn
điền cao su, công nhân Nhà máy cưa BIF; thanh niên,
học sinh trí thức; nông dân các ấp; cả thanh
niên các dân tộc Stiêng, Mạ, Chơ ro một bộ phận
lính Pháp, Nhật theo kháng chiến. Đơn vị tổ chức
16

2.8 Page 18

▲back to top
thành 5 phân đội do Huỳnh Văn Nghệ làm chỉ huy
trưởng.
+ Phân đội 1: Trần Ngọc Ngộ - Phân đội trưởng
(địa bàn hoạt động các Lạc An, Tân Tịch, Mỹ
Lộc, Tân Hòa,Thường Lang).
+ Phân đội 2: Nguyễn Văn Lắm Phân đội
trưởng (hoạt động các Tân Ba, Bình Chánh, Thái
Hòa, Phước Thành).
+ Phân đội 3: Trần Quarig Khải Phân đội
trưởng (hoạt động các Tân Dân, Bình Hòa, Bình
Mỹ).
+ Phân đội 4: Nguyễn Chức sắc Phân đội
trưởng (hoạt động Đồng Lách, Đại An Tân
Định)?
2018/ẻC/VV 00001210
+ Phân đội 5: Thoa Phân đội trưởng (còn
gọi phân đội "Quốc tế" gồm 20 lính Nhật, 6 lính
Đức, 10 lính Việt; địa bàn hoạt động chủ yếu Bình
Đa, Vĩnh Cửu, Tân Mai, Tân Phong, Tam Hiệp) (1).
Ngoài các lực lượng trên, các đồn điền cao su
còn nhiều đội dân quân tự vệ, tự vệ chiến đấu. Vệ
quốc đoàn quận Châu Thành, Vệ quốc đoàn Biên Hòa,
Vệ quốc đoàn Long Thành ba lực lượng quân sự
mạnh, chủ yếu Biên Hòa. Từ cuối năm 1945, quá
trình vận động để thống nhất các lực lượng trang
này đã diễn ra nhưag do thiếu sự lãnh đạo thông
nhất nên không thành công.
------------------- ---------- D /3.0O3/V
(1) Theo Lịch, sử lực lượng trang tỉnh Đồng Nai (1945-1995) - NXB
Quân đội nhân dân-Hà Nội 1999,--Trang-35-36i--r.--<.
THƯ.-VIỆM J
17
‘NiM
i
©«•••.G N.AÍ

2.9 Page 19

▲back to top
Cuối tháng 4-1946, đồng chí Nguyễn Đức Thuận,
thư Khu ủý Khu 7, triệu tập hội nghị cán bộ toàn
tỉnh Biên Hòa tại lao Vịt (xã Bình Hòa quận
Châu Thành, nay huyện Vĩnh Cửu). Trong hội nghị,
đồng chí giải thích về sách lược của Đảng qua chỉ
thị Đảng Cộng sản Đông Dương tự giải tánngày 11-
11-1945. Nhiều vấn đề được hội nghị đặt ra, trong đó
công tác Đảng phải lãnh đạo lãnh đạo toàn
diệnlực lượng trang. Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Biên
Hòa được Khu ủy chỉ định do đồng chí Trần Minh Trí
làm thư, đồng chí Huỳnh Văn Lũy, Phó thư;
đồng chí Huỳnh Văn Nghệ được cử làm úy viên Uy
ban phụ trách quân sự tỉnh. Đây sở thuận lợi
cho việc thống nhất lực lượng trang tỉnh Biên Hòa.
Tiếp theo hội nghị lao Vịt, tháng 5-1946, hội
nghị quân sự tỉnh Biên Hòa được tổ chức tại Chiến
khu Đ. Hội nghị quyết định thống nhất lực lượng Vệ
quốc đoàn quận Châu Thành, Vệ quôc đoàn Biên Hòa
du kích Sở Tiêu, lấy tên Vệ quốc đoàn Biên Hòa
do Huỳnh Văn Nghệ làm chỉ huy trưởng. Đồng thời
hội nghị cũng quyết định xây dựng Chiến khu Đ
thành căn cứ kháng chiến của tỉnh. Riêng lực lượng
Vệ quốc đoàn quận Long Thành do thiếu liên lạc nên
vẫn còn hoạt động riêng lẻ (1).
Để đáp ứng kịp thời tình hình thực tế cuộc
kháng chiến, tạo điều kiện cho lực lượng trang
(1) Theo Địa chi Đồng Nai Tặp Lịch sử - NXB Tổng hợp Đồng Nai
2001, trang 258.

2.10 Page 20

▲back to top
hoạt động, Ban chỉ huy Vệ quốc đoàn Biên Hòa đã tổ
chức các "quận quân sự" Mỗi quận quân sự phụ trách
một xã, từ một đến hai tiểú đội trang làm
nòng cốt để phát triển phong trào dân quân du kích
tổ chức cho lực lượng này canh gác nắm tình
hình địch, diệt tề trừ gian, phôi hợp tác chiến với lực
lượng của trên, đồng thời vừa đảm nhận một phần
công việc chính quyền vận động nhân dân đóng góp
ủng hộ tiếp tế cho bộ đội, thu thuế... Từ Tân Uyên
đến Châu Thành lên tận Xuân Lộc, tất cả 9 quận
quân sự. Riêng quận Long Thành giữ nguyên hình
thức tổ chức khu vực. Sự ra đời của các quận quân sự
đã góp phần đẩy mạnh các hoạt động trang trên
địa bàn tỉnh Biên Hòa.
Tháng 6-1946, thực hiện sự chỉ đạo của Khu ủy
Khu 7 Bộ lệnh Khu về việc thống nhất tổ chức
chỉ huy lực lượng trang toàn Quân khu, tỉnh Biên
Hòa Vệ quốc đoàn Biên Hòa Vệ quốc đoàn Long
Thành sáp nhập thành Chi đội 10, đứng chân hoạt
động chủ yếu tỉnh Biên Hòa, do Tỉnh ủy trực tiếp
lãnh đạo. Quân số lúc đầu khoảng 800 người, với 150
súng trường, 15 súng lửa, 4 súng máy, 16 súng lục
200 lựu đạn(1). Ban chỉ huy gồm Huỳnh Văn Nghệ,
Chi đội trưởng; Huỳnh Văn Đạo sau đó Nguyễn
Văn Lung, Chi đội phó; Phan Đình Công, Chính trị
viên. Các tiểu ban quân nhu, quân trang, quân y, kho
(1' Sách đã dẫn Lịch sử lực lượng trang tỉnh Đồng Nai 11945-
1995) - NXB Quân đội nhân dân, 1999- trang 54.

3 Pages 21-30

▲back to top

3.1 Page 21

▲back to top
khí, binh công xưởng, chi quân báo, tiểu ban sản
xuất tự túc... dược thành lập để phục vụ các yêu cầu
chiến đấu sinh hoạt của Chi đội. Chi đội tổ chức
thành ba đại đội (mỗi đại đội tương đương một tiểu
doàn ngày nay) gồm:
Đại đội A: Do Tính Quân làm Đại đội
trưởng, Nguyễn Văn Quang, Đại đội phó; Nguyễn
Đình Vị, Chính trị viên. Địa bàn tác chiến chủ yếu
thuộc quận Tân Uyên bảo vệ Chiến khu Đ (hữu
ngạn sông Đồng Nai). Đại đội chia làm 3 trung đội
(tương đương đại độí ngày nay):
+ Trung đội 1: Ban chỉ huy gồm Trần Ngọc Ngộ,
Trung đội trưởng; Hoàng Phùng Đức, Trung đội phó;
Nguyễn Văn Được, Chính trị viên.
+ Trung đội 2: Ban chỉ huy gồm Nguyễn Văn
Lắm, Trung đội trưởng; Hoàng Lập Trung, Trung đội
phó; Hoàng Đình Cận, Chính trị viên.
+ Trung đội 3: Ban chỉ huy gồm Nguyễn Khải,
Trung đội trưởng; Nguyễn Văn Nhiếu, Trung đội phó;
Nguyễn Thanh Đạm, Chính trị viên.
Đại đội B: Do Văn Ngọc làm Đại đội
trưởng; Đinh Quang Ân, Thoa, Đại đội phó;
Nguyên Văn Khoa, Chính trị viên. Địa bàn hoạt động
ơ tả ngạn sông Đồng Nai, thuộc quận Xuân Lộc
Châu Thành.
Đại đội chia làm 3 trung đội:
+ Trung đội 4: Ban chỉ huy gồm Đinh Quang Ân
20

3.2 Page 22

▲back to top
kiêm Trung đội trưởng; Văn Chừng, Trung đội
phó; Ngô Đình Tiêu, Chính trị viên.
+ Trung đội 5: Ban chỉ huy gồm Thoa kiêm
Trung đội trưởng; Nguyễn Văn Quảng, Trung đội phó;
Mạnh Xuân Tâm, Chính trị viên.
+ Trung đội 6: Do Văn làm Trung đội
trưởng.
Đại đội C: Do Lương Văn Nho làm Đại đội
trưởng; Nguyễn Văn Toàn, Đại đội phó; Lưu Văn
Phảng, Chính trị viên. Địa bàn hoạt động chủ yếu
quận Long Thành. Đại đội chia làm 2 trung đội:
+ Trung đội 7: Ban chỉ huy gồm Minh Như,
Trung đội trưởng; Nguyễn Điện, Trung đội phó;
Nguyễn Dự, Chính trị viên.
+ Trung đội 8: Ban chỉ huy gồm Nguyễn Văn
Mỹ, Trung đội trưởng; Nguyễn Hữu Nhẫn, Trung đội
phó; Trần Trọng Đức, Chính trị viên.
Chi đội còn xây dựng một quân y viện, các đại
đội đều trạm xá, trung đội y tá, phân đội cứu
thương vừa làm nhiệm vụ cứu chữa cho bộ đội, vừa
điều trị cho nhân dân khu vực đóng quân.
Tháng 12-1946, căn cứ vào sự phát triển của
chính quyền sở trong tỉnh đã tương đối mạnh, Ban
chỉ huy Chi đội 10 quyết định giải thể các quận quân
sự thành lập các Ban công tác liên thôn (tức Ban
chỉ huy quân sự liên thôn). Ngoài 9 Ban công tác liên
thôn từ 9 quận quân sự chuyển sang, Ban chỉ huy

3.3 Page 23

▲back to top
thành lập thêm 5 ban mới. Trên địa bàn toàn tỉnh
tất cả 14 Ban công tác liên thôn. Đây tổ chức quân
sự trực thuộc giúp việc cho úy ban hành chánh
quận, chịu sự chỉ đạo của Quận ủy đồng thời do Ban
chỉ huy Chi đội 10 chỉ đạo về chuyên môn. Đến tháng
11-1947, thực hiện chỉ thị của úy ban kháng chiến
hành chánh Nam bộ, Tỉnh đội dân quân Biên Hòa
được thành lập do đồng chí Cao Văn Bổ làm Tỉnh đội
trưởng. Các huyện thành lập Huyện đội bộ trên sở
sáp nhập các Ban công tác liên thôn tại dịa bàn huyện.
Các dội du kích tập trung của Ban công tác liên thôn
hợp nhất thành lực lượng du kích tập trung của huyện
(mỗi huyện từ 1 dến 2 trung đội). Các đều hình
thành quan dội bộ (mỗi từ 1 dến 2 tiểu đội
du kích bán tập trung). Đến cuổì năm 1947, hệ thông
tổ chức quan quân sự địa phương tỉnh Biên Hòa
dược xây dựng xong từ tỉnh xuống huyện, (1).
Việc thành lập Chi đội 10 Biên Hòa đánh dấu
sự thông nhất lãnh đạo, chỉ huy lực lượng trang
trong tỉnh. Đồng thời, với việc thành lập các Ban
công tác liên thôn (có du kích tập trung), các đội du
kích xã, đến cuối năm 1946, trên địa bàn tỉnh Biên
Hòa đã sớm hình thành ba loại hình tổ chức lực lượng
trang. Đây tiền đề hết sức quan trọng để tỉnh
xây dựng phát triển lực lượng trang ba cấp về
sau này.
Theo Lịch sủ lực lượng, trang tỉnh Đồng Nai (1945-1995) - NXB
Quân dội nhân dân, 1999- trang 64.

3.4 Page 24

▲back to top
Ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc
bùng nổ. Trung ương Đảng chỉ đạo cho Xứ ủy Nam bộ
"không để cho giặc Pháp đem tài sản chiếm được
Nam bộ ra đánh Trung, Bắc" Biên Hòa nằm trên các
tuyến đường chiến lược quan trọng như quốc lộ 20,
quốc lộ 1, đường sắt xuyên Việt, những đường giao
thông vận chuyển quân sự của địch từ Nam ra Bắc.
Cuối tháng 1-1947, trong hội nghị triển khai kế
hoạch năm 1947, Ban chỉ huy Chi đội 10 chủ trương
mở một loạt trận đánh giao thông để tiêu diệt, tiêu
hao sinh lực địch, mặt khác hạn chế sự chuyển quân,
tiếp tế của địch từ Nam bộ ra chiến trường Bắc,
Trung bộ theo hướng chỉ đạo của Trung ương.
Ngày 19-5-1947, Chi đội 10 mở màn trận đánh
giao thông tấn công đoàn tàu hỏa của địch trên đoạn
đường sắt Bảo Chánh (Xuân Lộc) diệt gọn bọn lính áp
tải, thu hết khí đạn dược trên tàu. Đầu tháng 6-
1947, đánh trận Trảng Táo - Gia Huynh, bộ đội men
theo bìa rừng truy kích, diệt được toa xe bọc thép, thu
nhiều súng đạn. Cuối tháng 6-1947, Chi đội đánh tiếp
trận Bảo Chánh 2, bộ đội vận dộng tấn công diệt
được toán lính áp tải toa xe bọc thép, thu nhiều
khí rút lui an toàn. Đúng vào ngày kỷ niệm
cách mạng Pháp 14-7, Chi đội 10 đánh tiếp trận xe
lửa thứ 4 Bàu Cá. Địa điểm phục kích hai quả đồi
cách nhau khoảng 300 mét, theo hoạch ta đánh
vào cả hai đoàn tàu trận địa A B. Vào 12 giờ
trưa, đoàn tàu thứ nhất tiến vào trận địa. Mìn nổ. Bộ

3.5 Page 25

▲back to top
đội ạt tấn công, diệt gần 200 tên địch, thu khoảng
60 súng 3 máy thông tin tuyến điện cùng nhiều
lương thực. Đoàn tàu thứ hai rút chạy về Trảng Bom.
Sau hàng loạt trận đánh đường sắt Xuân Lộc,
toàn Chi đội rút về Chiến khu Đ tổ chức huấn luyện.
Qua dợt huấn luyện, đến cuối năm 1947, Chi đội
bước tiến bộ vượt bậc về trình độ tổ chức chỉ huy, kỹ
thuật, chiến thuật thực hành chiến đấu, ý thức tổ
chức kỷ luật chiến trường, nhận thức chính trị... của
bộ đội. Ban chĩ huv Chi đội 10 tổ chức một loạt trận
đánh giao thông dường bộ từ qui nhỏ nâng dần
lên đánh tập trung lớn. Tiêu biểu trận đánh giao
thông Phước Cang (Long Thành) tháng 11-1947
trận Đồng Xoài (đường 14) ngày 19-12-1947 diệt
nhiều sinh lực địch. Rút kinh nghiệm trận đánh Đồng
Xoài, ngày 1-3-1948, Chi đội 10 đánh trận giao thông
La Ngà (quốc lộ 20 Sài Gòn-Đà Lạt), tấn công đoàn
xe chở quan Pháp đi dự hội nghị quân chính Đà
Lạt. Trận đánh diễn ra đúng như hoạch của Ban
chỉ huy Chi đội 10. Sau gần 1 tiếng đồng hồ trận
đánh kết thúc. Ta giành thắng lợi lớn: phá hủy 59 xe
quân sự của địch, diệt 150 lính dương hộ tống, 25
tên quan chỉ huy, thu nhiều khí đồ dùng quân
sự. Đây trận đánh giao thông lớn nhất lúc bấy giò'
Nam bộ, gây tiếng vang trong ngoắi nước.
Sau trận La Ngà, Chi đội những bước chuyển
biến lớn cả về tổ chức lực lượng trình độ chiến
đấu. Ngày 27-3-1947, Bộ lệnh Khu 7 quyết định
24

3.6 Page 26

▲back to top
thành lập Trung đoàn 310 trên cosở của Chi đội 10,
thông nhât với tổ chức quân đội toàn quôc.
II. CÁC TỔ CHỨC TIỀN THÂN CỦA ĐẠI ĐỘI
LAM SƠN (TRONG ĐỘI HÌNH CHI ĐỘI 10)
J. Trung đội 8 - Đại đội c - Chi đội 10 (Long Thành)
Tháng 11-1946, dưới sự chỉ đạo của tỉnh, lực
lượng giải phóng quân Long Thành được củng cố lại,
thành lập một đại đội lấy tên Đại đội c do đồng
chí Lương Văn Nho làm Đại đội trưởng. Đại đội c
phiên chế vào Chi đội 10 của tỉnh nhưng vẫn hoạt
động trên địa bàn huyện Long Thành. Đại đội hai
Trung đội 7 8. Trung đội 8 lúc đầu do Nguyễn Văn
Mỹ làm Trung đội trưởng; Nguyễn Hữu.Nhẫn, Trung
đội phó; Trần Trọng Đức, Chính trị viên. Sau đó do
đồng chí Nguyễn Văn Toàn làm Trung đội trưởng,
Nguyễn Trung Đạm làm Trung đội phó. Các phân đội
được phân công đảm nhiệm từng khu vực, tham gia
phôi hợp độc lập tác chiến.
Như vậy, sau Cách mạng tháng Tám, trong tình
hình chung của những năm đầu kháng chiến chông
Pháp Biên Hòa, lực lượng trang quận Long
Thành được xây dựng, không ngừng tăng cường, củng
cố ngày càng phát triển lớn mạnh. Trên sở lực
lượng giải phóng quân của quận, Đại đội c được
thành lập, tuy biên chế vào Chi đội 10 của tỉnh nhưng
vẫn đứng chân hoạt động trên địa bàn quận Long
Thành, đóng quân căn cứ Bàu Bông. Nguồn lực

3.7 Page 27

▲back to top
tham gia gồm nhiều thanh niên yêu nước công
nhân, nông dân của các đồn điền cao su Hêlêna,
Balăngxi..., các Phước Thọ, Phước An, Tam An,
Tam Phước, Phú Hữu, Phước Khánh...; công nhân
Thành Tuy Hạ; cộng hòa vệ binh Long Thành, Thủ
Đức; Trại huấn luyện Vĩnh Cửu Bình Đa; một
lính Nhật theo kháng chiến một số quan, binh
lính giáo phái yêu nước về đầu quân... Đại đội hai
trung đội được phân công dảm nhiệm từng khu vực:
Trung đội 8 trung đội mạnh của Đại đội, một
trong những tổ chức tiền thân của Đại đội Lam Sơn
sau này, hoạt động chủ yếu vùng Long Bình Tân,
Tam An nhưng đồng thời cũng tham gia phôi hợp
động trong chiến đấu khi tình hình thực tiễn đòi
hỏi, thường động sang các phụ cận phôi hợp với
du kích địa phương các trung đội bạn chông các
cuộc càn quét, lấn chiếm của địch về sau này
nhiệm vụ tăng cường cho cấp trên.
Những nãm đầu kháng chiến còn gặp khó khăn
về nhiều mặt nhưng do thực hiện tốt công tác dân
vận, nên bộ đội được nhân dân đùm bọc, chở che,
nuôi dưỡng, tiếp tế lương thực, cung cấp thông tin về
địch... ba địa phương chính Đại đội c được hỗ
trợ thường xuyên các Phước Thọ, Xóm Hô' Phú
Hội và xã Long Điền, Phước Thọ tiền đồn của
Phước An nên Trung đội 8 luôn túc trực để chiến đấu
với bót giặc, đồng thời đây cũng những nơi
Đại đội c thường xuyên đi về hoạt động nhất, bộ đội

3.8 Page 28

▲back to top
được dân xem như người thán trong gia đình.
Cùng với phong trào đấu tranh của quần chúng,
lực lượng trang dán quân du kích tuy mới được
củng cố cũng đã tổ chức nhiều trận đánh với các hình
thức phong phú. Công tác địch ngụy vận, trang kết
hợp với binh vận đạt hiệu quả cao. Khoảng đầu năm
1947, đồng chí Lương Văn Nho, Đại đội trưởng Đại
đội c đã viết thư vận động được Vệ úy Trần
Thạnh đem một tiểu đội lính Cao Đài với đầy đủ súng
ông bót cầu Quản Thủ về với cách mạng.
Ngày 14-7-1947, Trung đội 8 thuộc Đại đội c
cùng du kích liên thôn 11 do Nguyễn Văn Xuât làm
Trưởng ban, tập kết về Xuân Lộc tham gia với Chi đội
10 đánh trận Bàu Cá. Tháng 8-1947, bộ đội phôi hợp
với du kích địa phương diệt 18 lính Thổ Phước Lai
thu được 14 súng; tấn công đồn na diệt gần
một trung ởội lính; sử dụng nội tuyến đánh vào bót
Bến Gỗ. Cuối tháng 9-1947, bộ đội phôi hợp với lực
lượng Hoàng Thọ đánh chông càn quy lớn của
địch vào Chiến khu Phước An, bảo vệ vùng cãn cứ an
toàn. Ngày 19-12-1947, Trung đội 8 tham gia cùng bộ
đội phục kích địch trên đường 14.
Đầu năm 1948, Trung đội 8 phôi hợp với du kích
địa phương lập chiến công vang dội bằng trận đại
thắng ngã ba Long Điền. Trung đội 8 lúc này do
dồng chí Nguyễn Trung Đạm làm Trung đội trưởng.
Trước khi tham gia đánh trận Long Điền một ngày

3.9 Page 29

▲back to top
Trung đội 8 đã đánh chông địch càn quét Long
Tân, chiều về Xóm Hố (Phú Hội) đến tối thì rút ra
Long Điền nghỉ quân. Trung đội 8 về Long Điền, đóng
quân nhà ông Cả Khá, ông Năm Chà ông Năm
Hợi. Đêm đó, được trinh sát báo tin sáng hôm sau
địch sẽ càn quét, ruồng bô' Long Điền, trên ba
hướng: một từ Phước Thiền đi ra, một từ Tam An đi
lên một từ Phước Nguyên đĩ xuống, Trung đội cùng
lực lựợng dân quân du kích địa phương thông nhất sẽ
dón đánh địch trên đường chúng quay trở về.
Long Điền vùng đồng ruộng nằm phía tây
lộ 15, giáp ranh các Phước Thiền, Tam An, Phước
Nguyên, An Lộc. Từ sông Đồng Nai qua Long Điền
một con sông nhỏ gọi rạch Nước Trong, cắt đồng
Long Điền, chảy qua thôn An Định chia thành hai
nhánh: một nhánh chảy về phía đông bắc qua lộ 15;
một nhánh chảy về phía đông nam qua thôn Long
Điền gọi rạch Ngã Bắc. Nơi ngã ba của rạch Nước
Trong ngã ba Long Điền. Long Điền một tự
do, vựa lúa quan trọng của Long Thành. Do vị
trí quan trọng như vậy trong những năm 1946-
1947, Long Điền mục tiêu cướp bóc, càn quét của
địch. Từ cuối năm 1947, ta đã tăng cường về
đâyTrung đội 2 du kích tập trung của huyện để phôi
hợp cùng dấn quân du kích Long Điền đánh địch bảo
vệ vùng tự do, tiến hành chiến tranh du kích.
Quân địch với ý đồ phá nát Long Điền nên huy
động lực lượng khá đông (khoảng đại đội) gồm lính

3.10 Page 30

▲back to top
Pháp, lính Cao Đài phản động lính pạt-ti-dàng
(lính thân binh của Pháp), được trang bị súng ông đầy
đủ. Chúng đi bằng xuồng, lúc đi 18 chiếc, lượt về 21
chiếc, từ sông Đồng Nai tiến vào Long Điền. Ý đồ của
chúng sau khi cướp bóc xong sẽ hiệp nhau tại ngã
ba Long Điền rồi tiến về phía Phước Thiền, Tam An,
Phú Hội.
Lực lượng của ta một trung đội du kích tập
trung phôi hợp với du kích Long Điền Trung đội 8
thuộc Đại đội c cùng tham gia tác chiến. Yêu cầu tác
chiến phục kỉch tiêu diệt địch giữ vững Long
Điền, làm chùn bước tiến của địch. Tuyến phục kích
kéo dài khoảng độ 400 mét ngay tại ngã ba thuận
tiện cho việc tập trung lực lượng dễ dàng tiêu diệt
địch.
Đúng như dự kiến của ta, từ 2 3 giờ sáng ngày
12-1-1948 ta điều quân xuất phát. Mờ sáng nghe
tiếng súng nổ đều từ bôn phía, giặc đã bắt đầu càn
vào Long Điền. Ta không trực diện đánh địch Long
Điền phục kích ngã ba chờ chúng quay về lọt
vào trận mai phục mới nổ súng. Khoảng 11 giờ trưa,
21 chiếc ghe chở đầy lính đố- đạc cướp được của
đồng bào quẹo vào rạch Ngã Bắc. Chờ cho 18 chiếc
ghe đi đầu lọt vào đội hình phục kích của ta 3
chiếc đi sau tuy chưa qua khỏi khúc quanh nhưng cũng
đã lọt vào tầm bắn của Trung đội 2, cả trận địa đồng
loạt nổ súng. 18 chiếc đi đầu bị đánh chìm, còn 3 ghe

4 Pages 31-40

▲back to top

4.1 Page 31

▲back to top
sau ta dùng trung liên súng bắn tỉa. Hơn 50 tên
địch chết tại chỗ, số sống sót chạy về Tam An. Ta thu
trên 30 cây súng, trong đó 2 trung liên đầu bạc
(Bren) nhiều súng trường, súng cối các loại. Tổì
hôm đó, du kích Tam An, Long Điền khúc sông
xảy ra trận đánh thu được thêm mấy cây súng nữa.
Vài ngày sau thu thêm cây tiểu liên đeo trên ngực của
tên lính bị bắn chết sau đó nổi lên.
Trận Long Điền ta tiêu diệt lớn sinh lực địch,
trong đó tên xếp Ôm trưởng đồn Tam An tên
Mới, một tên Cao Đài phản động, khét tiếng ác ôn
(Khi hành quân, chúng rêu rao với đồng bào: kỳ này
đi phải lấy mấy cái đầu của Việt Minh về treo chơi).
Ta chủ động đánh địch nên thương vong ít. Một số
đồng chí thuộc Trung đội 8 hy sinh trong đó đồng
chí Đạm (chỗ hy sinh của đồng chí Đạm sát bên trái
bờ ruộng, thế hy sinh nằm nghiêng); đồng chí Hồ
(Tiểu đội trưởng); đồng chí Lý; đồng chí Áp... Đồng
chí Điện (lính của Trung đội) trong trận này bị
thương cánh tay được đưa về Bàu Bông phẫu
thuật bằng cưa sắt, mổ bằng dao lam. Đau đớn tột
cùng nhưng đồng chí vẫn cố gắng chịu đựng, miệng
không ngừng hát bài Tiến quân ca trong lúc bác
cưa tay để cứu chữa.
Chiên thắng Long Điền ý nghĩa to lớn, gây
được tiếng vang trong huyện. Ta bảo vệ được sở
cách mạng Long Điền cũng vựa lúa gạo lớn lúc

4.2 Page 32

▲back to top
bấy giờ của huyện. Sau trận này, quán dân chính
Đảng gắn keo sơn hơn, tin tưởng hơn. Ta đẩy địch
vào thế bị động làm chúng chùn chân không dám mở
rộng địa bàn lấn chiếm trong suô’t năm 1948. về mặt
chiến lược, chiến thuật thì sau trận Long Điền, năm
1948 năm nhiều khởi sắc cho ta: Chặn được bước
lân chiếm của địch ta mở rộng được vùng căn cứ,
Huyện ủy Long Thành dược củng cố, các ban ngành
cũng được tổ chức củng cố hệ thông hơn. Sau
trận Long Điền, Chiến khu Phước An khu vực an
toàn, thu hút nhiều lực lường các đơn vị kháng
chiên. Phước An không chỉ căn cứ của huyện
còn căn cứ của tỉnh. Sau thắng lợi vang dội Long
Điền, ngàyl-3-1948, Trung đội 8 tham gia đánh trận
phục kích La Ngà. Trung đội 8 trưởng thành về mọi
mặt, thực lực được tăng cường, tinh thần khí thế
dâng cao, tạo tiền đề cho sự ra đời của Đại đội Lam
Sơn đáp ứng kịp thời tình hình thực tế cuộc kháng
chiến lúc bây giờ. Trung đội đã được đồng chí Huỳnh
Văn Nghệ, Khu bộ trưởng Khu 7 biểu dương trong
chiến thắng Long Điền, Long Tân.
2. Trung đội 5 - Đụi đội B - Chi đội 10 (Biên Hòa)
Từ tháng 10 đến tháng 12 năm 1945, thực dân
Pháp tập trung xây dựng bộ máy chính quyền tay sai
trong thị Biên Hòa đồng thời mở nhiều cuộc hành
quân nhỏ thăm để mở rộng lấn chiếm trên các
hướng tỉnh lộ 24 (Vĩnh Cửu), quốc lộ 1 (Xuân Lộc),
quốc lộ 15 (Long Thành).

4.3 Page 33

▲back to top
Cũng thời gian này, Quận ủy Châu Thành rút
về Bình Đa, Bao (Tam Hiệp), Phước Tân (Long
Thành), Hố Cạn (Tân Phóng) xây dựng căn cứ kháng
chiến sát thị Biên Hòa.
Cùng với các đơn vị chiến đấu khác của Vệ quốc
đoàn Biên Hòa, Phân đội 5 tuy quân sô' ít, trang bị
khí còn thiếu thôn, thô nhưng đã đảm nhiệm tôt
vai trò của mình. Trên hướng đông nam thị (quốc
lộ 15) Phân đội 5 kết hợp với Trung đội du kích quận
Châu Thành chặn đánh địch quyết liệt, ngăn cản các
bước lấn chiếm của chúng. Tháng 12 năm 1945, Phân
đội 5 gồm các đồng chí Văn Mén, Nguyễn Văn
Quảng... nhiều lần tổ chức đột nhập vào nội ô thị
nghiên cứu kỹ các mục tiêu quan trọng của địch chuẩn
bị cho cuộc tập kích qui vào thị Biên Hòa vào
đầu năm 1946 của lực lượng Vệ quô'c đoàn. Khi giặc
tạo được lợi thế trong việc bao vây, kiểm soát nội ô,
Phân đội 5 lực lượng trang duy nhất còn áp sát
được thị xã, bám địa bàn hoạt động.
Do nhu cầu nhiệm vụ của lực lượng trang
tính Biên Hòa, khoảng giữa tháng 6 năm 1946, Phân
đội 5 phát triển lên thành Trung đội 5, nằm trong đội
hình của Đại đội B, Chi đội 10. Trung đội do đồng chí
Thoa vừa Đại đội phó kiêm Trung đội trưởng;
Nguyễn Văn Quảng, Trung đội phó; Mạnh Xuân Tâm,
Chính trị viên. Địa bàn hoạt động chủ yếu ỏ' vùng
Bình Đa, Vĩnh Cứu, Tân Phong, Tân Mai (quận Châu

4.4 Page 34

▲back to top
Thành); Đại An, Tân Định, Thiện Tân, Cây Gáo, Cây
Đào, Bình Ý, Bình Phước (quận Tân Uyên).
ơ những địa bàn do mình phụ trách, Trung đội
5 vừa đứng chân hoạt động chiến đấu, vừa thực hiện
các nhiệm vụ vận động quần chúng tham gia kháng
chiến, xây dựng lực lượng tự vệ, lực lượng dân quân
du kích các xã, các sở cao su thuộc quận Châu
Thành. Trung đội được sinh ra lớn lên trong sự
đùm bọc, nuôi dưỡng, chở che của đồng bẩo. Nhiều gia
đình đã vận động hầu hết các con em mình tham gia
"bộ đội Thoa" chiến đấu bảo vệ quê hương như gia
đình bác Năm Ký, Tám Vân Bình Đa...
Được nhân dân các địa phương tận tình giúp đỡ,
chăm lo, che chở, Trung đội 5 liên tiếp đánh vào các
đơn vị dương của Pháp. Ngày 17-9-1946, Trung đội
mật dùng lựu đạn tập kích diệt bót (xã
Thiện Tân), sau đó về đường số 8 phục kích diệt tiểu
đội dương Pháp gồm 12 tên, thu 4 tiểu liên, một
trung liên. Tháng 11-1946, Trung đội chặn đánh một
tiểu đội lính Cao Đài đi càn vào Xóm Hóc (Tam Hiệp)
thu trên 10 cây súng. Đầu tháng 3-1947, Trung đội
phôi hợp với Ban công tác liên thôn 4 du kích Tam
Hiệp đánh diệt bót Vĩnh Cửu. Ngày 11-3-1947 cùng
với du kích liên thôn 6, Trung đội 5 phục kích diệt
bọn địch ruồng bô' tuần tiễu dọc lộ 15 tại Truông Nước
Nhĩ (gần chùa An Hảo) diệt gọn một tiểu đội lính Âu
Phi, thu đựợc 1 súng máy FM đầu bạc một số

4.5 Page 35

▲back to top
khí khác. Trận đánh này làm ]ính các bót Bến Gỗ
bót máy cưa BIF lo sợ giảm mức độ đi ruồng bô\\ càn
quét.
Hoạt.động của Trung đội 5 đã góp phần tạo điều
kiện cho các cán bộ Việt Minh quận, đi sâu
xuống sở tổ chức xây dựng sở, phát động phong
trào kháng chiến, đồng thời củng cố các căn cứ lõm
liên hoàn, vây ép uy hiếp địch trong quận lỵ Châu
Thành, áp sát sân bay, góp phần bảo vệ phía Nam
Chiến khu Tân Uyên đường số 15. Những chiến
thắng quân sự này đã tạo điều kiện thuận lợi nôi liền
các căn cứ du kích Bình Đa, Bao, Hố Cạn, Đại An,
Phước Cang, Bình Ý... Các quan quân, dân, chính,
Đảng của quận Châu Thành đều tề tựu về đây.
Hưởng ứng chỉ thị "Đẩy mạnh đánh giao thông
địch" của Bộ lệnh Khu 7 Lời kêu gọi toàn quổc
kháng chiến của Hồ Chủ tịch, từ tháng 5-1947, Trung
đội 5 phôi hợp với lực lượng Chi đội 10 hành quân
đánh phá giao thông đường sát của địch giành nhiều
thắng lợi Bảo Chánh, Gia Huynh, Trảng Táo, Bàu
Cá.... Trong trận đánh ngã ba Tân Phong, Trung
đội, 5 đã tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực địch, bẻ
gãy kế hoạch đi càn quét của chúng vào khu vực Bình
Đa.
Cuối năm 1947, sau đợt luyện quân Chiến khu
Đ, Phân đội 5 6 của Trung đội 5 được điều về đứng
chân Bình Đa, Vĩnh Cửu, Tân Phong lộ 24, vừa

4.6 Page 36

▲back to top
cùng cán bộ dân chính Đảng quận củng cố các sở,
vừa được Quận đội Châu Thành hướng dẫn nghiên
cứu, chuẩn bị chiến trường tác chiến đánh địch trên
lộ 15 đoạn Phước Cang. Trong trận này, lực lượng tác
chiến được tăng cường thêm 2 trung đội của Đại đội c
(Long Thành) Đại đội A (Chiến khu Đ). Tháng 1-
1948, trận Phước Cang mở màn. Ta tiêu diệt gọn
đoàn xe quân sự 10 chiếc của Pháp, thu một trung
liên, nhiều súng trường, đạn dược. Chiến thắng Phước
Cang làm bọn địch bót Bến Gỗ giảm hẳn lùng sục,
ruồng bô'. Ngày 1-3-1948, Trung đội tham gia trận
phục kích La Ngà.
Từ trong thực tiễn chiến đâ'u, Trung đội 5 đã
dần khẳng định được khả năng, trình độ tác chiến
của đơn vị mình. Đồng thời cũng nhận thức được vai
trò to lớn của quần chúng nhân dân yêu nước, đã
đóng góp sức người, sức của ủng hộ cả vật châ't lẫn
tinh thần trong suốt quá trình Trung đội 5 được xây
dựng trưởng thành.
III. Sự RA ĐỜI CỦA ĐẠI ĐỘI LAM SƠN (TRONG
ĐỘI HÌNH TIỂU ĐOÀN QUANG TRUNG, TRUNG
ĐOÀN 310)
Từ cuối năm 1947 sang năm 1948, các binh
đoàn thuộc các đơn vị viễn chinh của quân đội Pháp
đã kết hợp với bọn Việt gian tại chỗ sau khi đánh
chiếm các mục tiêu trọng yếu tính lỵ, huyện lỵ
các â'p thuộc các vùng phụ cận dọc theo quô'c lộ sô'

4.7 Page 37

▲back to top
1, 15, tỉnh lộ 17, tính lộ 19 thuộc huyện Long
Thành, tiếp tục thực hiện kế hoạch mở rộng kiểm
soát, phòng thủ bình định nông thôn với qui mô,
lực lượng, cường độ ngày càng tăng. Các cuộc hành
quân càn quét của chúng sự phối hợp yểm trợ của
pháo binh, xe giới, máy bay bắn phá ném bom
vào các làng mạc dân kết hợp với đổ bộ đường
không. Bọn chúng nhảy vào các khu vực căn cứ
kháng chiến của ta nhằm tiêu diệt quan đầu não
các lực lượng trang kháng chiến, đồng thời uy
hiếp tinh thần yêu nước của nhân dân các địa
phương trong tỉnh. Đặc biệt nguy hiểm thủ đoạn sử
dụng tình báo, gián điệp để đánh vào nội bộ kháng
chiến; dùng vật chất xa xỉ để lôi kéo hòng làm lung
lạc, tha hóa cán bộ, chiến sĩ, nhân dân vùng kháng
chiến. Hoạt động đánh phá của địch gây không ít khó
khăn cho công cuộc kháng chiến Biên Hòa.
Trước tình hình hết sức khẩn trương của cục
diện chiến trường, mặt khác, trước sự trưởng thành
của lực lượng trang, đặc biệt của các đơn vị bộ
đội tập trung đặt ra yêu cầu câp bách cần được tổ
chức lại mức độ cao hơn để đáp ứng yêu cầu ngày
càng cao của cuộc kháng chiến. Ngày 27-3-1948, thực
hiện chỉ thị của úy ban kháng chiến hành chánh
Nam bộ, Khu ủy Khu 7 họp hội nghị thảo luận việc
xây dựng các trung đoàn địa bàn miền Đông Nam
bộ, trên sở các chi đội hiện phát triển thành
các trung đoàn, địa bàn hoạt động vẫn chủ yếu trong

4.8 Page 38

▲back to top
phạm vi của tỉnh. Thực hiện chỉ thị của Khu bộ
trưởng Khu 7 về việc xây dựng trung đoàn, toàn Chi
đội 10 phát triển thành Trung đoàn mang phiên hiệu
310. Biên chế của Trung đoàn 3 tiểu đoàn khinh
binh một đại đội trợ chiến. Mỗi tiểu đoàn 3 đại
đội khinh binh một trung đội trợ chiến. Mỗi đại
đội 3 trung đội khinh binh một tiểu đội trợ
chiến. Mật danh của tiểu đoàn mang tên các danh
nhân quân sự của đại đội mang tên các địa danh
lịch sử. Theo qui chế như trên, Trung đoàn 310 biên
chế cụ thể gồm:
Đại đội A phát triển lên Tiểu đoàn Lợi.
Ban chỉ huy gồm Nguyễn Văn Lắm (Tiểu đoàn
trưởng), Hoàng Phùng Đức (Tiểu đoàn phó), Hoàng
Lập Trung (Chính trị viên). Tiểu đoàn ba đại đội
khinh binh gồm: Đại đội Thái Nguyên (Trung đội 1);
Đại đội Đông Đa (Trung 'đội 2); Đại đội Chi Lăng
(Trung đội 3).
- Đại đội B phát triển lên Tiểu đoàn Quốc Tuấn.
Ban chỉ huy gồm Đinh Quang Ân (Tiểu đoàn trưởng),
Thoa (Tiểu đoàn phó), Nguyễn Văn Khoa (Chính
trị viên). Tiểu đoàn ba đại đội khinh binh gồm:
Đại đội Lạc An (Trung đội 4); Đại đội Bắc Sơn (Trung
đội 5); Đại đội La Nha (Trung đội 6).
Đại đội c phát triển lên Tiểu đoàn Quang
Trung. Ban chỉ huy gồm Lương Vàn Nho (Tiểu đoàn
trưởng), Nguyễn Văn Toàn (Tiểu đoàn phó), Lưu Văn

4.9 Page 39

▲back to top
Phảng (Chính trị viên). Tiểu đoàn ba đại đội khinh
binh gồm: Đại đội Đô Lương (Trung đội 7); Đại đội
Lam Sơn (Trung đội 8); Đại đội Bàu (Trung đội 9
thiếu).
Trên sở thành lập Trung đoàn 310, ngày 27-
3-1948 được xem ngày thành lập của Đại đội
Lam Sơn.
Theo chỉ đạo của Tỉnh ủy Biên Hòa, Ban chỉ huy
Trung đoàn đã điều Tiểu doàn Quang Trung từ Long
Thành chuyển lên hoạt động ngay sát thị Biên
Hòa kết hợp với các lực lượng bạn bảo vệ Chiến khu
Bình Đa, đánh giao thông, triệt phá đồn bót lẻ nhằm
hỗ trợ cho du kích hoạt động vùng tạm chiếm.
Đại đội Lam Sơn được Ban chỉ huy Tiểu đoàn
Quang Trung bô' trí phụ trách khu vực Bình Đa, An
Hảo, Long Bình, Tân Mai thay cho Trung đội 5 của
đồng chí Thoa phát 'triển lên thành Đại đội Bắc
Sơn chuyển sang hoạt động địa bàn khác. Ngoài
số thanh niên yêu nước các sở cao su, các ấp nơi
dơn vị đứng chân hoạt động trựớc đây Long Thành
hăng hái gia nhập bộ dội, khi lên Bình Đa, Đại đội
được bổ sung, tăng cường một bộ phận lực lượng nòng
cốt của Đại đội Bắc Sơn (Trung đội 5 cũ) những cán
bộ am hiểu, quen thuộc địa hình, địa bàn quận Châu
Thành một số thanh niên yêu nước du kích các
Hiệp Hòa, Tam Hiệp, Bình Đa. Thành phần chiến
trong Đại đội rất phong phú gồm thanh niên nông

4.10 Page 40

▲back to top
dân, công nhân cao su, công nhân BIF, viên chức, học
sinh, lao động nghèo thành thị, thanh niên đồng bào
dân tộc Chơro, Châu Mạ, Stiêng, Khơme.
Lúc mới thành lập, Đại đội chỉ hai trung đội
22 23, sau đó khi được tăng cường nguồn lực,
Đại đội xây dựng thêm Trung đội 24 một trung đội
trinh-liên. Ban chỉ huy đầu tiên của Đại đội gồm:
Hoàng Lập Trung (Đại đội trưởng), Nguyền Văn
Phòng (Đại đội phó), Trần Trọng Đức (Chính trị
viên). cấu Đại đội gồm:
- Trung đội 7 (do Trần Thạnh làm Trung đội
trưởng).
Trung đội 8 (do Dương Ngọc Tân làm Trung
đội trưởng)
Trung đội 9 (do Hoàng Quốc Thụy làm Trung
đội trưởng)
Trung đội trinh liên (do Trần Tấn Lộc làm
Trung đội trưởng)
Mỗi trung đội 4 tiểu đội. Ngoài các trung đội
trên, Đại đội còn bộ phận văn phòng, trong văn
phòng Ban quân nhu bộ phận quân y do
đồng chí Hồ phụ trách.
Trang bị của Đại đội được Ban chỉ huy Tiểu
đoàn tăng cường cho từng trung đội theo chủng loại
Tiểu đoàn xác định Lam Sơn đại đội động của
Tiểu đoàn. Trang bị khí gồm: Trung đội 22 súng