Giac den nha

Giac den nha

1 Pages 1-10

▲back to top

1.1 Page 1

▲back to top

1.2 Page 2

▲back to top
GIẶC ĐẾN NHÀ

1.3 Page 3

▲back to top

1.4 Page 4

▲back to top
THỊ NÃO
Í7„' z
6/ẶC
ĐẾN NHÀ
Nguyễn Yên Tri ghi
THƯ VIỆN TỈNH ĐỒNG NAI
SÁCH TẶNG
2024MC/VV 001893
NHÀ XUẤT BẢN TỔNG Hộp ĐồNG NAI
2003
,749.14

1.5 Page 5

▲back to top

1.6 Page 6

▲back to top
Ngạn ngữ: "Giặc (tổn nbà. dàn crinỊi dánb"
Qtôi làng An Nhơn - lúc đổi
Hòa Hiệp - thời nhà Nguyễn
thuộc tổng An Thủy, tỉnh Biên Hòa, qua trào
thuộc Pháp thì thuộc tổng An Thủy Đông,
quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định. (Theo sách
Nghiên cứu địa bạ triều Nguyền (quyển Biền Hòa)
của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, làng
An Nhơn thoạt thủy xóm Suôi Sâu (tên
chữ xứ Thượng Tuyền: xứ Ngọn Suối) ít nhất
thành lập trước năm 1836 (cách nay gần 200
năm)). Phía Đông làng tôi giáp các làng Tân
Hạnh Bình Trị; phía Tây Bắc giáp Đông
Tác Chiêu Liêu; phía Nam giáp Tân Ninh
(sau đổi là Tân Phước rồi Tân Hiệp). Hồi Nhật
sắp (1940), chính quyền thực dân sáp nhập
5

1.7 Page 7

▲back to top
các làng Hòa Hiệp, Đông Tác, Chiêu Liêu
thành Tân Đông Hiệp (quận Thủ Đức, Gia
Định).
Thời chín năm chông Pháp, từ năm 1951
đến Hiệp định Giơneo (7/1954)(1) do ta sắp xếp
lại chiến trường, tôi thuộc tỉnh Thủ Biên.
Dưới^chế độ Sài Gòn, Tân Đông Hiệp nằm
trong quận (mới lập) An, tính Biên Hòa. về
phía cách mạng, do yêu cầu của chiến trường
từng thời kì, Tân Đông Hiệp lúc thuộc
huyện Bắc Thủ Đức, huyện Thủ - Dĩ (Gia
Định), lúc thuộc huyện Lái Thiêu (tỉnh Thủ
Dầu Một), lúc thuộc huyện An Đức (phân khu
5)... Từ ngày đâ't nước thông nhất, An Nhơn
tách khỏi Tân Đông Hiệp, nhập với hai
làng Bình Trị Tân Phước thành Tân
Bình, huyện Thuận An, tỉnh Sông (nay
huyện An, tỉnh Bình Dương).
Làng An Nhơn nằm giữa vùng đất
khác hẳn các làng Tân Hạnh, Tân Ba, Hóa
An... Ven sông Đồng Nai nhiều ruộng, địa
hình tương đối bằng phẳng. Làng nhiều rẫy
thơm - con thường gọi rừng thơm (có nơi
gọi thơm lả khóm, dứa), củng rừng cây lớn
(1) Hiệp định Genève (Giơneo) (Bt).
6

1.8 Page 8

▲back to top
chạy dài tít tắp qua Thuận-An-Hòa, Khánh
Vân... nối vào rừng đại ngàn Chiến khu Đ.
làng ít ruộng nên phần đông dân An
Nhơn không ruộng, muốn cây cày phải
mướn ruộng nơi xa, hoặc đi làm mướn, nếu
may mắn hơn thì, được chủ diền cho cấy rẽ.
Thuở tôi mới lớn, cả hai xóm của An Nhơn
chín mươi ba nóc gia. Một sô' ít nhà đủ ăn,
phtần đông thiếu đói vài tháng, mỗi năm trên
vùng đất Nam huyền thoại lắm nhiều tôm.
Áo quần nói chung mốc cời, đen đúa; mỗi
người thường chỉ bộ mặc, bộ giặt chớ ít ai
bộ thứ ba... Vải không mắc lắm, ngặt nỗi
không mấy ai dả tiền mua. Mặc quần áo
chuyện bình thường, mấy hay nhắc
nhở dạy con gái từ nhỏ "áo rách khéo hơn
lành vụng may" Trào Nhật khan hiếm vải,
nhiều người phải mặc bao bô', trẻ con chín,
mười tuổi phần nhiều truồng. Guốc gỗ
không nhiều, phần dông con đi chân đất;
chỉ những nhà khá giả mới mua giày dép. Cho
nên gót chân mọi người lao động đen đúa
nhám xì, nứt nẻ như mặt ruộng mùa khô; lớp
da chân dày cộp, giá đạp trúng gai, chẳng
sao. Cuộc đời người dân thời lệ cực thế
đó!
7

1.9 Page 9

▲back to top
Pháp xâm lược nước ta, bọn thực dân tha
hồ cướp đất mở dồn điền. Từ Thủ Đức qua
An lên Biên Hòa, Thú Dầu Một... chúng mở
nhiều plăngtaxiông™ (đồn điền) cao su. Ngay
Tân Đông Hiệp, sỏ Hội rộng cả mấy trăm
mẫu. Các cụ già kể lại, bọn Tây cho tay chân
vác máy đi đo, cắm đâ't "lây không" chủ
đất - phần lớn nông dân ít ruộng - phải nín
khe. Dân An Nhơn đi làm phu cạo mủ khá
đông. Cũng một số đàn ông trong làng làm
thợ đềpô xe lửa An. Không tới một chục
hộ theo đuổi nghề mở vựa heo, buôn bán heo
thịt. Họ mua heo từ Tho, Công, Cai Lậy
lên, gần đây từ miền Trung chở vào. Số'
heo con đem bán cho con trong vùng nuôi
thành heo thịt.
An Nhơn ba ngôi miễu: một cái của
nhà ông Bảy Vẽ, một cái của họ Ngô, cái thứ
ba ngôi miều cũ. Tôi nghe ông nói lại
chớ mắt tôi không nhìn thây miễu lúc đó
mình chưa ra đời. Một toán nghía quân của
một tùy tướng dưới trướng Bình Tây đại
nguyên soái Trương Định chốhg nhau với
Pháp mạn dưới Lao Phố', Biên Hòa rút
111 Plantation (Bt).
8

1.10 Page 10

▲back to top
chạy về đây. Giặc đuổi theo vây bắt, giêt chêt
một số quân lính cả dân làng rồi đốt tiêu
ngôi miễu cũ. Nơi chôn cất các liệt nạn
nhân bị thảm sát sau thành nhị An Nhơn.
Hồi tôi đã biết (khoảng bảy, tám tuổi),
dân làng chung tiền xây cất ngôi đình và nhà
hội dốc An Nhơn. Nhà hội nơi mâ'y ông
trong ban hội tề làm việc, thu thuế. Cứ vào vụ
thuế, trông nhà hộì dóng dả thúc sô' đàn ông
từ 18 tuổi trờ lên ra nộp, ai thiếu bị dóng trăn
(cùm), gia đình chạy nộp đủ mới được tha.
Một số quá nghèo, trôn chui trôn nhủi trong
rừng trong rẫy, hết vụ thuế mới dám ra, chỉ
loanh quanh trong làng; nếu đi xa bị xét giấy
thuế thân không thì cầm chắc phú lít(1)
(cảnh sát) bỏ mười lăm ngày.
nrôi ra đời năm Quí Hợi (1923). Các cụ
bảo, tuổi này nói chung nhàn, chỉ nằm
ăn; nhưng thực tế đời tôi truân chuyên, vất
vả, ba chìm bảy nổi cho đến lúc nghỉ hưu.
Ông ngoại tôi ông Bảy Cang (Trần Văn
Cang), dân điền, mướn ruộng làm, đong
Police (Bt).
9

2 Pages 11-20

▲back to top

2.1 Page 11

▲back to top
thóc trả cho chủ điền sau vụ gặt. Tuy không
điền sản như một số hương chức, song ông
ngoại tôi uy tín với dân. Từ chức sắc hạng
dưới hương thân, hương quản, ông dần dần
được, cử làm hương chủ, hương cả đứng đầu
làng. Năm tôi mười tuổi, đã trí khôn đôi
chút, lần nghe ngoại thuật lại: ông bị
bệnh mạch lươn, lỗ tái đi tái lại hoài. Hồi
đó, ông làm hương quản đương chức, không ai
trong làng dám xét nhà t tử, nhờ vậy ông
ngoại tôi nuôi chứa một đôi vợ chồng "di nâu
về kho" - bây giờ ta hiểu họ hoạt động hội
kín chống Pháp, xưa con quen gọi Thiên
Địa hội. Hai người trên chuồng bò; ngoại
ngày ngày gánh nước cho họ tắm, nấu cơm
bưng ra cho đôi vợ chồng nọ ăn một thời gian
dài.
Tính ông ngoại tôi thẳng thắn, không ưa
xảo trá. Sau này, khi đạo Cao Đài lan truyền
tới An, một sốngười theo Cao Đãi thân
Nhật nổi lên. lần họ đãi tiệc, ngay giữa
buổi tiệc họ đãi, ông dám huỵch toẹt: "Ăn
mặn nói ngay hơn ăn chay nói dốì.
không ăn lại lấy bắp chuôi nấu kêu cá, thịt
khồng ăn lại ăn đậu kêu thịt..."
10

2.2 Page 12

▲back to top
vợ hương chức hội tề vai vế trong
làng, trong nên ngoại tôi đi chợ thường
mặc áo dài đen, đội chiếc thúng nhỏ đựng
mấy thứ mua bán. Để giữ thể diện gia đình,
ông bảo bà:
- Đi chợ An mua thì xách hay
gánh chớ đừng đội người ta kêu
cả Đội...
tôi tuân lời ông.
tôi thứ tư, tên thiệt Trần Thị Rỡ,
hồi còn con gái, dân làng gọi Năm Rỡ.
Các cậu, các tôi đều làm phu cao su sở Hội
ngay Tân Đông Hiệp.
Cùng dân cạo, cha tôi quen nhau
rồi thương nhau. Thời đại nào cũng thế, tình
yêu của tuổi trẻ thường nồng nàn, sôi sục.
Ngày nay, nam nữ thanh niên sướng thật, yêu
nhau thì lấy nhau, pháp luật bảo vệ hẳn hòi,
cứ tưởng đó cái quyền trời cho tự bao giờ.
Họ không hiểu kết quả lâu dài của các
thế hệ đi trước đấu tranh giải phóng dân tộc,
giải phóng con người khỏi bao hủ tục được
hưởng mọi quyền tự do. Cách nay hơn nửa thế
kỉ, dưới chế độ thực dân phong kiến, những
cản ngăn khó vượt biết bao bi kịch tình yêu
11

2.3 Page 13

▲back to top
đôi lứa đã xảy ra rất đau lòng. Cha tôi
trong hoàn cảnh đó. Hai người thương nhau
nhưng gia đình bên nội tôi mặc cảm về
chuyện môn đăng hộ đối, nhờ mai mốì dữ lắm
nhưng không được. Đến khi lỡ bầu, cha
tôi vẫn không dám đến gặp ông ngoại - vị
hương cả đứng đầu làng - nghe lời hăm bắn
tin qua ai đó:
- "Ông gặp, ổng đánh chết!"
Tôi ra đời trong nghịch cảnh: cha - cả
làng ai cũng biết - như không có. tôi
chắc phải gánh nhiều điều thị phi khe khắt.
Tôi không nghe nói lại nhưng cũng hiểu thân
phận khổ đau của người phụ nữ thời đó chịu
nhiều điều tiếng eo xèo.
Khi tôi lên bôn, ông ngoại gả chồng cho
tôi. Cha kế ông Hai Chỏ (Lê Văn Chỏ)
không còn cha mẹ, chuyên đi cắt cỏ ngựa cho
một số nhà trong làng. thế tôi mang họ của
cha kế tên Thị Não. tôi sanh hạ
thêm một số lần, tôi con lớn nhứt, chị
Hai của bầy em nhỏ. Cha ruột tôi không dám
léo hánh tới, song ông nội tôi thi thoảng đi
đâu về lại ghé thăm cháu gái.
12

2.4 Page 14

▲back to top
Lên bảy, tôi được ông ngoại cho đi
học trường làng. Nhưng tôi không
thích học, trôn hoài. Nhiều bữa, thầy giáo sai
các bạn đến nhà tìm, tôi ra lớp, nhưng cũng
chỉ được buổi đó thôi. Hồi đó nhân dân vùng
tôi luận đồn đại ác hại: "Con gái đi học
biết chữ chí để viết thư cho trai!" Hiểu viết thư
cho trai xâ'u thì học làm chi?
Sáng sáng, lùa đàn ra rẫy, từ lúc
thoải mái suốt ngày, tôi chẳng lo bị đòn, bị la
không thuộc bài, để rây mực ra tập vở hoặc
đi học trễ... Mâ'y cậu tôi rất quậy phá, gặp
nhà ai bới mồi ven bờ bụi lô'i xóm thì lén bắt
rồi đem ra góc rẫy vắng, đắp đâ't bọc ngoài
nổi lửa nướng chín rục, chia nhau ăn ngon
lành. Buổi trưa, cậu Ba tôi đi cạo mủ Bình
Thuận về qua, chở tôi về ăn cơm trưa, sướng
lắm!
Như mọi gái trong làng, tôi ham lao
động chân tay từ nhỏ, học làm đủ thứ: học
cấy, học tưới phơi thuốc rê, bắt sâu, làm
hàng bông (trồng rau), cạo mủ... chỉ không
chịu học chữ. Ông ngoại lần la rầy:
- Mày học làm nhiều thứ nhưng không
chữ, sau này cực lắm con ơi!
13

2.5 Page 15

▲back to top
(Quả thật, ít chữ nghĩa, công tác của
tôi suốt hai thời kháng chiến sau này gặp
không ít khó khăn. May quen lao động từ
nhỏ nên tôi tham gia cách mạng dễ dàng, chịu
đựng gian khổ, làm tròn mọi công tác Đảng
giao).
Như bao trẻ đồng quê, tôi rất ham nghe
ca hát. Một người cậu con rạp hát nhỏ
cho các đoàn của bầu Bàng, bầu Bo... lâu lâu
về diễn ít đêm; hai, ba cắc (hào) nhưng
không tiền mua; tối đến tôi ngủ một giác
cho đã, tỉnh giấc còn nghe trông lệnh
ra, tìm cách chun rào coi cọp" đoạn chót
cũng đỡ ghiền. Con nít mà! coi riết, ban
ngày cho trâu đi ăn, buồn ngủ quá, leo lên
lưng trâu khi bị "ịch" xuống dất đau
điếng tôi mới tỉnh rụi. Sau này lớn lên, đi
buôn bán cùng vài chị em bạn thân về ngang
qua chợ An, nếu thấy gánh cải lương Tân
Tân hay Thanh Thanh... hát các tuồng Tam
Quốc hoặc tuồng khác, thì tốì đó về nhà cơm
nước xong, thế nào bọn tôi cũng phải đi coi.
Gánh diễn mấy tối, chúng tôi mặt đủ mấy
tốì, không vắng tối nào, trời mưa gió, đi bộ
cả đi lẫn về xa hơn chục cây số... Ông ngoại
tôi cũng ham văn nghệ, các đoàn hát về làng
14

2.6 Page 16

▲back to top
vào dịp lễ yên hoặc đầu xuân đều được ông
đãi đằng tử tế.
Từ tuổi mười sáu tới hai mươi, tôi theo
người lớn đi cạo mủ kiếm cơm. Thấy cặp-
rằngw dánh chửi, cúp phạt công nhân như
cơm bữa, tôi sợ chán, bỏ không làm nữa.
Quay qua nghề bán heo mướn, tôi nhanh
chóng thâ'y cái thất đức: phải nói dối khách
mua, heo bệnh cũng dám ca heo lành... Tôi
lại bỏ, theo chị em đi bán đường tán, dường
cát chợ Bến (Bình Phước - Tân Triều)...
TTôi hoàn toàn không biết, không
khái niệm về cuộc Cách mạng
tháng Tám 1945 nổ ra quê tôi củng như
các nơi khác. Hồi này, tôi cùng vài chị đi buôn
hột vịt từ đây mang ra Phan Rí, Phan Thiết
bán. Mua một trăm mốt, bán một trăm mười
hai lời chút đỉnh cũng ham. Đi xe lửa ra tới
ga Mương Mán, tôi chứng kiến cảnh máy bay
ném bom tàn phá: toa goong đổ ngổn
ngang, dường rầy cong queo xoắn vặn, mâ’y
dãy nhà sập đô, hố to hố nhỏ đất đá vung vãi,
n’ Cai coi thợ (Bt).
15

2.7 Page 17

▲back to top
thóc gạo tung tóe bừa bãi... Ra tới Phan
bán hàng xong, bọn tôi tính ra không lời
nếu phải mua xe trở về, đã tính bài trôn vé.
Nhưng nhân viên xe lửa xét giây gắt, họ phạt
nặng về tội đi lậu. Một chị ngăn lại chưa cho
về ngay, sau tôi vẫn quyết di tàu lửa về
An.
Xuông ga, tôi thây khác khác trước,
về tới dầu làng gặp trai gái cùng trang lứa tập
"một... hai..." rầm rập. Không khí chung lập
tức cuốn hút, tôi xin chị Ba Vàng vào hội Phụ
nữ cứu quốc An NhoYi. Tham gia phong trào
sôi nổi do ham vui vậy thôi, tôi chưa hiểu
về tổng khởi nghĩa, về cách mạng.
Khi ta giành chính quyền khoảng một
tháng, tôi nghe mây ông lớn tuổi chuyện trò:
thực dân Pháp núp bóng quân Anh quay trở
lại xâm lược nước ta lần nữa. Dân An Nhơn
nghe tiếng súng lớn, thây máy bay lượn lờ
xa xa phía Sài Gòn; ban ngày khói bốc cuồn
cuộn từng đám lớn. ít bữa sau, mấy anh Quốc
gia tự vệ cuộc (ít lâu sau đổi công an'}
ông Bảy Đông Tác đứng đầu, về nhà tôi.
Ban ám sát trừ gian đóng nhà các ông Hai
Muốn, Năm Tầng, Sáu Tài... kế bên. Ai đi xe
16

2.8 Page 18

▲back to top
đạp vào làng, dân quân du kích xét không
giâ'y tờ thì bị bắt liền, nếu nghi Việt gian thì
đêm đó bị "chặt'' luôn. Sự ấu trĩ này xuất phát
từ tinh thần yêu nước, lòng căm thù bọn tay
sai đế quốc, từ sự cảnh giác mong diệt hết thù
trong để chông giặc ngoài cực hung hãn.
Chắc cũng một số người bị oan.
Cuối tháng 10/1945, quân Anh lấy danh
nghĩa Đồng Minh di giải giới lính Nhật bại
trận, mở đường cho quân Pháp từ Sài Gòn đi
Biên Hòa. Ta huy động dân các làng ra phá
hoại giao thông: đào Quốc lộ 1, làm nhiều vật
chướng ngại cản xe giặc... con chất cả
những bộ ván quí nhiều thứ khác ra đường,
chặt hạ cây lớn dọc hai bên đường đổ gục
xuống... gây cho địch nhiều trở ngại. Làng tôi
tổ chức đổ bánh bèo, nấu mấy thứ bánh khác
tiếp tế cho mây anh đào đường ngã Bình
Thung.
Xe giới của chúng lúc đẳu chỉ dám
chạy trên quốc lộ, phía trong rừng cây
mênh mông chúng chưa dám ngay. Nhưng
đến ngày ông Táo chầu trời (23 tháng Chạp
năm Ất Dậu),
mở cu<?c
"bố hội" (càn quét
An. Các
2024/ỡV/vy 001893

2.9 Page 19

▲back to top
nhà hội Tân Đông Hiệp, An Phú, An Nhơn...
bị đốt rụi. Đồng An có mấy chục người bị
giết, ai nghe cũng sợ, càng căm giận quân xâm
lược tàn ác man.
Sau khi đóng bót An, từ tháng Giêng
1946 trở đi, lính hay càn bôi Dân sợ lính Thổ
(lính người thiểu số hay Khmer, nói tiếng
lớ) ngang Tây trắng, Tây đen bọn Việt gian
ác ôn. Một chị con có đứa con nhỏ khóc èo
ẹo, người ta hù:
- Không dỗ nín, lính bắt đó!
Thỉnh thoảng đạn moọcchê (đạn côi) ĩại
làng. Trước tình hình đó, trai An Nhơn một
số đi kháng chiến luôn, một số sợ Tây bố thì
đi Sài Gòn kiếm việc lảm, ban ngày khỏi lo
Tây lính xách súng lùa ra lâp các đoạn
đường bị ta huy động dân đào xới phá hoại
đêm trước...
Trận địch càn đầu tiên vào làng tôi
không phải ngẫu nhiên. Một anh Quốc gia
tự vệ cuộc người Thổ (Khmer) do bất mãn
với chỉ huy, ra bót An dầu hàng, dẫn lính
vô. Anh em ta chủ quan không phòng bị,
chúng vào tới nơi mới biết, bôn anh bị bắn
chết căn nhà phía trên nhà tôi cùng với hai
18

2.10 Page 20

▲back to top
dân làng. Trận càn đầu tiên ập đến, nghĩ ỉại
nhiều điều tức cười. Lúc đó, tôi một, hai
bộ quần áo gói trong bọc, thây giàu chỗ nào
cũng không kín, các lùm bụi quanh nhà chỗ
nào cũng trống huơ trống hoác. Chúng vào
từng nhà lùa gom dân ra chỗ bãi trông, một
số rượt bắt heo, gà, trâu bò... Đến chiều,
chúng thả số cụ già, đàn bà, con nít; bắt về
bót một số đàn ông.
ít lâu sau, lính Cao Đài lên lập bót Tân
Phước sở đâ't nhà Tám Tỉ bên kia đường
đắp. Dân trong vòng rào gần bót gọi "ở
trong châu vi" một lần, quân báo ta tổ chức
đánh bót nhưng bị lộ. Lần khác, chúng đi
ruồng trên Cây Gõ, bộ đội du kích mai
phục diệt thằng quan hai Tây mấy tên lính.
Để trả thù, chúng tàn sát ba mươi lăm người
dân, chôn chung một ho', bây giờ kêu là mả 35
(không dân An Nhơn chết trong vụ này).
Thực hiện chính sách thâm độc "dùng
người Việt đánh người Việt", Pháp ra sức phát
triển lực lượng Cao Đài phản động chông phá'
kháng chiến. tay sai rêu rao toàn vụng DI
An: "Nếu ai bây giờ không Cao Đài thì ít
nữa nắm chéo áo cũng không cho theo"
Nghĩa chúng hăm: lính sẽ tự do bắt bớ, bắn
19

3 Pages 21-30

▲back to top

3.1 Page 21

▲back to top
giết ai không theo đạo này. Một số' con An
Nhơn sốhg gần bót giặc muôn được yên thân
đã ghi tên gia nhập, thứ "Cao Đài hứa"
Tôi vào hội Phụ nữ cứu quốc rồi
tham gia ban Tiếp tế của Quốc gia tự
vệ cuộc. Cũng như mọi người, tôi cơm nhà
việc nước. Để nuôi thân góp phụ nuôi
các em còn nhỏ, tôi di buôn chợ Lái
Thiêu, chợ Cầu Ông Lãnh (Sài Gòn). Đàn ông
liên tục bị lính xét giấy, đi lại khó khăn nhưng
đàn con gái ít bị hỏi hay khám xét. Xe đò
đổ khách xuống ngã ba Cây Lơn (Đồng Hòa),
em tôi ra đón. Hàng mua về, một phần bán
buổi chiều đó, còn lại sáng bữa sau bán nốt.
Vừa buôn bán, tôi vừa nắm tin tức, tình hình
địch, đêm mây anh về, tôi báo cáo lại. Các anh
đưa tài liệu bình dân học vụ vần ngược,
vần xuôi cho mình học. Tôi hầu như "chữ thầy
trả lại thầy" từ hồi thôi học trường làng.
anh giỡn:
- Không học thi cho đi Bắc bộ!
Chả hiểu Bắc bộ đâu, chỉ đoán
chắc xa lắm, nên tôi sợ, ráng học vần, thế
dần dần cọt quẹt biết đọc.
20

3.2 Page 22

▲back to top
Pháp đóng bót trên nổng(1) quãng năm
1947, tên Hiếu thông ngôn ác ôn, thâm độc.
hãm đàn dữ lắm. bắt dân, đănh
chết rồi nhét vào bao bố, liệng ra rẫy thơm,
không cho thân nhân người bị hại xin xác
mang về chôn cất. thường cùng bọn lính đi
bắt dân làm xâu. Ông giáo Kim cậu tôi, rất
lanh lẹ, nhiều lần che chở cho tôi bao người
khác; dòm hướng lính xóm để mách mọi
người chạy tránh giặc. Mỗi lần như vậy, tôi
một số anh em lủi rừng thơm từ sáng tới
chiều mới dám về.
Từ tháng 9/1947, tôi đi thoát li luôn. Cậu
tôi Phó ban Nông hội xã, quan cất nhà
đường ấp 5 An Phú (thuộc căn cứ du
kích dân quen gọi Chiến khu Thuận-An-Hòa).
Từ cớ quan, cậu đi đi về về An Nhơn, lúc thì
công tác, lúc lấy gạo, tiền của gia đình tiếp tế.
Hồi đó, cán bộ đâu lương bổng gì! Một số
anh em An Nhơn trôn lính cũng chạy lên đó.
quan cậu tôi hai người cậu con,
với một chị người Tho. ủy ban kháng chiến
hành chánh Tân Đông Hiệp biết tôi thạo
buôn bán, giao cho làm "công tác thành",
*” Phương ngữ (Pn.): (Bt).
21

3.3 Page 23

▲back to top
nhiệm vụ chính tìm gặp con quen biết
sống Sài Gòn để vận động đóng góp ủng hộ
kháng chiến. Anh Tuyển, dân Bắc, đi kháng
chiến, nhờ tôi móc người anh Bàn Cờ. Anh
Phi Long, Trưởng ban Quân báo huyện Tân
Uyên, giao công tác:
- Bây biết Sài Gòn, mua thuốc Tây giùm
cho quân báo.
Tôi được hai người giúp đỡ tích cực
anh ruột anh Tuyển anh Nhạc - cả hai làm
viên chức đềpô xe lửa Sài Gòn. Lần nào về, tôi
cũng thấy các anh in tài liệu, truyền đơn bằng
bột. Cứ sáng tới đưa tiền toa bác sĩ, thì các
anh hẹn quãng 12 giờ trưa tới phạcnưixi™ (tiệm
thuốc Tây) nào đó nhận hàng. Ban đầu, phải
người dẫn di, lâu dần quen dường tôi đến
một mình. Buổi trưa vắng khách, người bán
hàng mở các hộp ra, lây giấy vân các ông
thuốc nước, bơm tiêm... rồi đóng lại như cũ;
mỗi lần ít nhâ't một bao đệm đầy! Châ't lên
xích lô, tôi ra bến xe ngựa đi Thủ Đức rồi lên
Bình Chiểu (xã Tam Bình), băng qua than về
Bình Hòa, người ra đón mang hàng lên
Thuận-An-Hòa. Thuốc men đồ quốc cấm,
(1) Pharmacie (Bt).
22

3.4 Page 24

▲back to top
xét thấy bắn bỏ tại chỗ! Vậy tôi
làm gần hai năm. (Sau này, tôi rất bực vì
người bắt mình đi mua thuốc giá rẻ, về họ
tính với đơn vị giá gâp y lần không chi
cho mình đồng xu cắc bạc nào. Thế mới biết:
ngay trong lúc khó khăn gian khổ ây, mọi
người sấn sàng hi sinh cho cách mạng, vẫn
kẻ hội trục lợi len vào!)
Đồng chí thư Tân Đông Hiệp tạo điều
kiện cho tôi bán quán phê ấp 5 Đường
để sinh sống, ủy ban kháng chiến hành chánh
(UBKCHC) không cho tôi đi mua thuốc Tây
nữa, tôi mới giới thiệu chị Gia - quân báo
- đi nhận sỏ' mua giùm thuốc. Chị di được
mấy tháng thì bị bắt.
Từ năm 1948, địch nhiều lần càn quét căn
cứ Thuận-An-Hòa. quan cậu tôi bị đốt phá
chín lần. con chợ Tuy An tản bỏ đi nơi
khác. Bọn tôi dỡ ngói gánh về lợp nhà, riết rồi
cũng bị phá. Đồng chí thư nói:
- rời rạc kiểu này không được, phải
tập trung về một chỗ thôi!
An Nhơn, địch gom dân vào "chu vi",
nghĩa bắt dân trú quanh phía ngoài bót;
làm rào chắn bảo vệ chúng nếu lực lượng
23

3.5 Page 25

▲back to top
trang ta từ ngoài đánh vào; nguồn cung ứng
mọi thứ cho chúng. Gia đình mây cậu tôi
trong "châu vi", thỉnh thoảng mua chục giạ lúa
xay làm gạo lứt. Ban đêm mây ổng về đem lên
An Phú xã, giã trắng bán cho dân bộ đội,
cán bộ. Tiền lời thì chi tiêu ăn uống, vón lại
mang về cho nhà quay vòng.
17) ầu năm 1949, huyện Thú Đức mở
J-^Khoa đào tạo y tá. Mẩy anh giới
thiệu tôi đi học. Hồi nhỏ mình học hành
chi đâu, may sau anh em cán bộ thương mình,
bắt học chút đỉnh nên chữ biết, chữ không.
Bây giờ được cử đi học, tôi thâ'y khó quá!
Trước đó, anh Rình, người An Phú xã,
một anh nữa dạy tôi học chữ, làm tính cộng,
trừ. Bận buôn bán nhưng cũng ráng học nên
tôi biết chút đỉnh, không dến nỗi tịt như
lúc mới đi thoát li. Khi ủy ban kháng chiến
hành chánh chính thức quyết định, tôi nói
với mâ'y anh:
- mình bảy, tám ngàn dân thiếu
người biết chữ; cán bộ phụ nữ cũng mười mây
người sao không đưa, lại đưa tôi đi?
24

3.6 Page 26

▲back to top
- Chị đi được, chúng tôi viết thư giới
thiệu!
Anh Sáu Ngộ trình độ trung học Pháp
băng rừng qua nơi tôi ở, dạy cho từ tám giờ
sáng đến mười hai giờ trưa thì tôi thuộc hai
mươi mấy tên thuốc Tây, trong đó nhiều
món tôi đã mua cho quân báo trước đây.
Chiều dó, tôi cùng anh Hiếu xuống Long Bình
rồi tối nghỉ Long Phước. Chín giờ sáng hôm
sau, chúng tôi tới Phước Lai (thuộc huyện
Nhơn Trạch bây giờ). Trạm y tế Thủ Đức đóng
đó. Chị Huệ - phụ trách trạm - bảo tôi tắm
giặt, nghỉ ngơi cho khỏe.
Bước vào khóa học, tôi đâu học dược
thuyết, chẳng ghi chép được ráo, chỉ nghe
nhập tâm vài điều. Học thực hành dễ hơn: ban
đầu cả lớp tập rửa vết ghẻ, rồi rửa băng
vết thương, giặt quần áo lót cho dẻ...
Dần dần tôi mới học chích. Mây anh di
họp, quan tâm ghé qua thăm, hỏi chị Huệ phụ
trách lớp học:
- Chị Hai Não học được không?
- Chị ấy ít chữ nhưng học khá lắm, thực
hành tôt lắm!
Một lẳn chị Huệ hỏi tôi:
25

3.7 Page 27

▲back to top
- nhà, chị làm công việc gì? Biết tên
thuốc không?
- Tôi công tác xã, không biết chữ mấy
nhưng một anh dạy cho một sô' tên thuốc...
Chị mừng quá, tính xin tôi lại đây công
tác đê’ đào tạo tiếp. Mấy anh viết thư trả
lời, đại ý: Tân Đông Hiệp đang bệnh sốt rét
dữ, đêchị Hai Não dưới, trên này anh em
chết hết thì sao? Cho chị ấy về phục vụ địa
phương...
Học xong khóa 29 ngày, tôi về lại xã.
Huyện cấp thuốc chủng đậu ngừa cho dân.
Hồi đó, các bệnh đậu, dịch tả, sô't rét, kiết lị...
những bệnh thời khí phôbiến. Nền y tế
kháng chiến non trẻ tuy nhiều khó khăn về
thuốc men, song lo phòng được bệnh nào, quí
thứ đó. Bác Hóa đơn vị 306 anh y
Vàng đi cùng tôi. Dân tập trung đông ấp
Đông Nhì, một mình tôi chủng đến tháo mồ
hôi hột. Bác phải đề nghị con cho giải lao
xả hơi ít phút. Hai ba ngày sau tôi không
xuống, mấy anh cán bộ văn hóa - thông tin
thấy một số dân bị sốt do thuốc hành; về đến
quan, hãm tôi:
- Chích người ta làm sao bây giờ bịnh
26

3.8 Page 28

▲back to top
la liệt. Thế nào cũng phải đi trại giáo hóa (tức
đi cải tạo)...
Tôi hoảng, lên văn phòng đơn vị 306 gặp
bác Hóa:
- Tôi chủng đậu sao bây giờ con bịnh
dữ vậy?
Mây ảnh cười:
- Nếu phản ứng thuốc tốt đó; thuốc
không phản ứng làm giá trị.
Bây giờ mình mới an tâm, thở phào trút
được nỗi lo.
Lúc đi học, tôi còn được hướng dẫn cách
chế thuốc trị sốt rét. Mỗi người một ngày phải
uống bôn viên kinacrin, nay chế để chích thì
chữa được cho hai người, thuốc khan hiếm
khó mua vẫn tạm đủ để chữa trị cho
người bệnh.
Từ An Phú về An Nhơn lối bôn cây
số, nếu đi Đông An, Đông Nhất, Đông Nhì thì
khoảng bảy cây. Đêm nào tôi cũng lặn lội các
ấp do tình hình vệ sinh kém, bệnh ghẻ hờm
lan tràn rộng. Tuy không chết, song người mắc
ghẻ ngứa gãi luôn tay làm trầy trụa da, máu
mủ rất tanh hôi bết vào quần áo khó giặt (lúc
27

3.9 Page 29

▲back to top
đó bông ít, nhiều người không tiền
mua). Bọn con nít thây tôi thì sợ lắm, người
lớn cũng ngán mình phải đè ra chùi rửa,
xức thuốc. Cứ vậy, bệnh ghẻ hờm từng bước
bị đẩy lui rồi biến mất.
Anh Phú, cán bộ văn hóa - thông tin, cho
hay: chị Ba Gừng bị ápxe do vết chích nhiễm
trùng. Bác thành đòi ba ngàn đồng mới
nhận chữa. Đó món tiền quá lớn hồi đó. Chị
Ba nghèo không tiền, đau nhức la khóc
đêm ngày. Tôi tới coi, mình chỉ cái panh
(kẹp) để gắp kim chích xơranh (bơm tiêm),
mới mua thêm lưỡi ỉam (cạo râu) đem khử
trùng bằng cồn đúng bài bản; rồi động viên
chị ráng chịu đau để tôi mổ. Lau rửa cẩn thận,
thay băng hàng ngày, mây bữa sau chị lành.
Đến bây giờ, may người lớp tuổi tôi hoặc lớn
hơn một chút nhớ lại còn quí mình. (Nếu
bây giờ, chắc chẳng ai dám làm như thế,
nhưng lúc đó thương chị em cũng tự tin
thực hành đúng điều đã học nên tôi dám uống
mật gấu làm kết quả).
Anh Đặng Văn Hai, thư chi bộ, nhỏ
hơn tôi một tuổi, lần nói vui:
- Chỉ nhìn chị quét nhà, tôi thấy đã
thể giới thiệu chị với tổ chức...
28

3.10 Page 30

▲back to top
Chắc ảnh nói quá, chớ chi bộ liên tục
theo dõi, giáo dục, thử thách thực tế qua việc
giao công tác cho tôi từ lâu. Thấy tôi hội đủ
tiêu chuẩn nhất định, tháng 3/1949, chi bộ Tân
Đông Hiệp xét kết nạp tôi vào đội ngũ tiên
phong. Việc tuyên truyền thủ tục kết nạp
hồi đó râ't đơn giản. Hai đồng chí giới thiệu
thư Đặng Văn Hai chủ tịch Nguyễn
Văn Trừng. Lễ kết nạp tổ chức quan
UBKCHC tại â'p 3 Đường, An Phú xã;
chỉ mặt vài đồng chí trong chi bộ. (Lúc đó
Đảng rút vào mật, không cho người ngoài
Đảng biết ai đảng viên; mỗi khi chi bộ sinh
hoạt thì cử anh em trong quan đi công tác
hết). Tôi rất phân khởi quan phụ nữ
hơn một chục chị em, mới mình tôi
đảng viên, chuyên làm công tác y tế.
Bôn giờ sáng dậy, tôi lo nâ'u cơm chuẩn
bị, nếu dịch đi càn thì mọi người vọt vào
rừng; nếu yên tôi mới xếp dụng cụ để làm
việc. Căn cứ du kích Thuận-An-Hòa lớn
ngành y tế không người, tôi phải gánh luôn
các An Phú, Bình Hòa... Chỗ tôi thêm
một chị giao liên cùng, kế bên quan
phụ nữ hơn chục chị. Anh Bảo phụ
trách Thanh niên cứu quốc Tân Đông Hiệp
29

4 Pages 31-40

▲back to top

4.1 Page 31

▲back to top
toàn nhờ tôi nấu ăn giùm cho các đoàn Thủ
Đức di Hố (Củ Chi) ghé ngang qua.
ần giữa năm 1950 bị bệnh, tôi chuyển
về gần làng; nếu cứ căn cứ An
Phú thì không điều kiện chữa trị.
Tháng 5/1950, anh đội trưởng Tân
Đông Hiệp chú tôi, ủy viên hội của
UBKCHC xã, bị Tây đi càn bắn chết. Chị Nở,
đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc xã, bị bắt.
củng cố ban châp hành phụ nữ, tính đưa tôi
qua phụ trách rồi lại thôi. Ngày 28/10, đồng
chí thư chi bộ từ An Phú về thăm, tôi
đang nằm trong chòi rừng thơm gần nhà.
Anh động viên tôi ráng chữa trị. Chiều hôm
đó, anh bị dịch phục kích bắn chết trên đường
đi lên căn cứ. Tôi bị bệnh do kiệt sức, hồi đó
bồi dưỡng đâu. cơm, rau, mắm quí;
tuy làng tôi bán heo nhưng ít người tiền
mua thịt ăn hàng ngày.
Chiều ngày 11/11, tôi đang lúi húi sắc
thuốc chòi thì mấy chị sở trong làng
ghé thăm:
- Uống thuốc đi cho bọn tao còn về kẻo
tốì.
30

4.2 Page 32

▲back to top
- Còn nóng mà, em thủng thỉnh uốhg.
Mấy chị cứ về đi.
Trời nhá nhem nhìn không mặt người.
Tây lính đi tuần cách chòi một khúc, chắc
chúng nghe tiếng bọn tôi chuyện trò xôn xao
nên sục vào. Vừa phát hiện chúng, tôi vọt
chạy mấy bước ra tới cây chuối, nghe súng nổ
"bốp" Tôi lủi vào bụi tầm vông, nhào đại
trỏng. Tây lính vào hỏi, mấy chị trả lời:
- Không thấy ai hết...
Mấy tên theo dấu chân tôi nhưng trời tôi
nên chúng không phát hiện ra. Chun bụi,
tôi dòm thấy chúng lờ mờ, nhắm mắt lại tính
thầm trong bụng: "Nếu kêu ra, mình sẽ
chửi để bắn tại chỗ, không để dẫn về
đồn..." Nằm hoài, chúng rút bao giờ không
hay, tôi cứ nằm nghe động tĩnh. Trăng sáng
vằng vặc. Kiến nghe mùi máu, bu vào vết
thương phần mềm mông râ't ngứa. Im ắng
bao trùm xóm làng, nhiều con chắc đã yên
giâ'c sau một ngày vất vả, lo toan, khiếp sợ.
Tôi đứng dậy, viên đạn trúng mông phá một
lỗ bự, đau lắm. Rút khăn rằn vân chặt lại, tôi
lần theo hàng ranh đường mòn thì nghe tiếng
lao xao. Em tôi cùng một chị anh Luận,
31

4.3 Page 33

▲back to top
sở, từ trong chu vi nghe tiếng đạp gai rào
thơm chà tre gãy, bèn hỏi:
- sao không?
- BỊ thương chớ sao!
- Nặng hay nhẹ?
- Nhẹ thì mới đi tới đây; nặng làm sao
đi!...
Máu tuôn ra làm tôi muốn xỉu. Mấy anh
chị dỡ tấm ván căn nhà bỏ trống gần dó, đặt
tôi nằm lên. Anh Luận hỏi:
- muôn đưa lên chiến khu không?
- Mình bị thương, Tây càn bô' trển hoài,
ai khiêng tôi chạy?
Tôi bảo mấy anh chị về trong "chu vi"
kiếm bông, băng, thuốc đỏ... dặn:
- Mấy anh chị qua rừng thơm Vải, coi
chỗ nào trông, không dấu chân ai đi tới
chồi nhiều, mấy người làm cho tôi hai tấm
bảng đưa tôi qua đó. Chiều đến, cho y
xuống rửa rồi thay băng cho tôi...
Em gái thứ của tôi Long Phước về
chơi, xuốhg thay băng cho tôi. ít bữa sau, tôi
tự thay băng, chích thuốc. Chiều chiều, em tôi
32

4.4 Page 34

▲back to top
anh Luận làm củi xong, giở cơm mang cho
tôi. Họ lại cùng tôi ban đêm. Bốn giờ khuya,
họ dậy chẻ củi cao su bán. Tới ngày
28/11/1950, vết thương lành được tám chục
phần trăm.
Cậu Chín tôi từ An Phú về địa phương
vào dịp gần Tết, mời một số sở ra rừng
thơm, chuẩn bị cho ngày kỉ niệm thành lập
Đảng. Tôi qua đó thì đã hơn một chục
người gồm cán bộ xã, trinh sát sở mật.
Anh em bẻ bông trang trí rồi làm lễ. 12 giờ
trưa, mọi người giải tán. Anh Hai Phước,
đội trưởng, cậu Chín (Trần Ngọc Chí) Phó chủ
tịch phụ trách nông hội tôi lại. Đứa
em út của tôi út Dừa, mới khoảng mười
tuổi, quanh quẩn gần đó. Tôi nhờ:
- Em à, về nói với mua cho chị vài
cái bánh tráng.
già mua xong, dùng dằng không
muốn đi; giàng thun (bắn chim) treo (ịần
cổ, phụng phịu:
- Cứ bắt con đi hoài! Con đi lần này nữa
thôi đó, à!
Tôi giăng võng nằm. Một số chị làm củi,
sở mật bảo vệ cuộc mít tinh, mặt: chị Dĩ,
33

4.5 Page 35

▲back to top
chị Sét, chị Khói... Cậu Chín nằm đường
mương, gần chỗ anh Hai Phước. Mây chị ngồi
làm củi. Khoảng hơn hai giờ chiều, bọn lính đi
tuần thấy khói xông củi tiếng chẻ củi "cộp,
cộp" mới lần theo đường cộ vô. Thằng Tây
cao to đi đầu, tôi vừa phát hiện, la to: "Tây!"
nổ súng liền. Lính bắn tiếp tới tấp. Tôi lập
tức nhào vào mây lùm bụi. Nghe súng chát
chúa, nhà em tôi đoán:
- Thôi rồi, tụi này chắc chết hết rồi!
Hồi lâu sau, lính rút hết về bót, em gái
thứ ba tôi từ nhà tông lên. út Dừa chết nằm
đó. Hai chị bị thương đang rên, một chị bị bắt
đi. hỏi:
- Cậu Chín đâu? Chị sao không?
- Chị không sao. Cậu Chín khi bị địch
bắn chết rồi. Súng nổ, tao nghe ông châm"
tiếng Tây chửi nó, khi bắn chết ổng
bên kia...
Quả vậy, ông nằm im lìm cách đó không
xa, máu đông cứng vết lỗ đạn. con dân ấp
lo lên xã xin ban hội tề bót cho chôn cất
mấy người chết. Gia đình ông ngoại vợ
Luân trong "chu vi" cho mượn cái hòm (để
giành sấn cho ông già) chôn cậu Chín. Anh em
34

4.6 Page 36

▲back to top
trên về đưa tôi lên căn cứ An Phú xã. ít lâu
sau, tôi mạnh hẳn, được chi bộ bô' trí qua công
tác phụ nữ.
/"•hiểu mùng 7 tháng ta năm 1951
(tức 12/5/1951), tôi đi công tác
Dũng Việt (thuộc â'p Đông Chiêu), tính tối đó
đột về An Nhơn tiện thể dịp gia đình cúng
trăm ngày cho cậu Chín út Dừa. Địch
thường phục hai mặt: đầu sở Vĩnh Thiện
hoặc vườn ươm rìgả rừng Sáu Mẫu. Tôi lọt
ấp, gặp ông trưởng ấp Ki, thợ đềpô xe lửa
An. Ông đã ăn cơm chiều, đang bưng
trứng nhúng vào nước xem trống hay
không:
- Bữa nay xuống đây chuyện chi?
- Xuống bàn với chú lát nữa mời một số
con lại...
Trời nhá nhem không còn nhìn mặt
người. Tây lính đi ngoài đường, tiếng giày
đinh lộp cộp. Tôi còn ôm bọc quần áo bên
trong giâ'u tài liệu. đang dốt nhang
trang thờ, ngoài đường chợt súng nổ ran "bốp!
bốp!", trúng đạn đổ sụm chết liền. Một tên
la to:
35

4.7 Page 37

▲back to top
- Việt Minh chạy! (hòng lấp liếm việc
cớ bắn chết dần).
Tôi dính một viên vào chân, lại gần
bếp lửa, móc tài liệu vùi vào tro than đỏ.
Ông còn hỏa vợ .chết đột ngột, cúi
xuống nâng xác lên thì lính ùa vào, xúm
đánh ông túi bụi, cũng dộng cho tôi mấy báng
súng. Chúng tra khảo:
- Mày đi đâu?
Tài liệu đã thủ tiêu, bọc quần áo quăng
vào một góc rồi. Chúng đưa tôi về bót An
(ở khu nhà phủ Lố cũ). Nếu bị đưa qua bót
Cao Đài chắc tôi chết bọn này biết về tôi
khá rành, tuy mình chẳng giữ cương vị đáng
kể nào; chúng biết tôi y tá, cán bộ phụ
nữ Việt Minh (bọn Cao Đài phản động thường
nói ra mồm: chúng không đội trời chung với
Việt Minh).
Đi patr'uiw (tuần tra) về, một tên .xách roi
cặc đánh liền tôi mây cái. Tôi giấy létxê-
patxêị2ì Biên Hòa nên trả lời:
- Tôi dợ Biên Hòa, về thăm cậu tôi.
111 Patrouilleur (Bt).
<2) Laissez-passer: giây thông hành.
36

4.8 Page 38

▲back to top
- Không phải, mày nghe quan Tây đi,
mày chạy báo cho Việt Minh.
- Dạ, không phải. Tôi con nít, đi dợ,
về thăm...
Vóc tôi nhỏ thó giông con nít thiệt.
quất mấy roi đau điếng rồi cho y băng vết
thương, xong xuôi tông vào khám. Đó một
căn phòng vuông vức mỗi bề một thước tây.
Khoảng 12 giờ dêm, hai thằng Tây đến đập
cửa rồi vào. Một thằng cầm cái panh
thuốc đỏ, đè tôi vào tường. Tôi la to kêu cứu.
Từ nhà lầu, bọn Tây kéo xuông, lôi hai thằng
ra rồi đóng mạnh cửa. Đêm đó tôi thức trắng,
phâ'p phỏng lo cho thân gái sa chôn hang
hùm. Ngồi đã rồi đứng, đứng mỏi chân lại
ngồi. Khát khô cổ, sáng ra dòm qua khe' cửa
thấy mấy chị vỢ lính Thổ đi ngang, tôi xin
nước uống. Mấy chị này không dám, mới bảo
một tên lính Thổ, đem cho một ca.
1 giờ chiều, bọn điều tra kêu tôi lên. Lúc
đó, tôi mặc bộ ba vải ú đen. Một tên
nghiêng ngó ngắm hoài rồi dụ:
- mày nói thiệt đi, tao thả. Nếu
mày không khai, uýnh(1) mày chết.
°’ Uýnh: đánh.
37

4.9 Page 39

▲back to top
- Dạ, tôi đâu biết gì.
- Mày thâ'y mấy thằng Việt Minh chạy?
- Dạ, hai người.
- Mày thấy chúng mang súng gì?
- Dạ, một ông mang súng cụt, một ông
mang súng dài...
Mình trả lời dại theo cách mớm cung.
vụt mấy roi cặc rồi lấy xe ô chở tôi
lên bót công an dặc biệt chỗ hồ nước Thủ
Đức. Bọn đơdèm (phòng nhì) thì khu tiệm
rượu. Bây giờ đi ngang mấy chỗ đó, lớp trẻ ít
ai biết, chớ xưa kia đó những địa ngục tra
tân khét tiếng một thời.
Bọn An giao tôi cho thằng Tây
lính Thổ rồi lên xe về. Bọn này sửa soạn các
dụng cụ tra tấn. Phòng hỏi cung này khá rộng.
Thằng Tây ra lệnh bắt tôi cởi hết quần áo.
Mới đầu bản năng thẹn thò của phụ nữ khiến
tôi mắc cỡ, nhưng rồi phải y lệnh thôi. Mấy
bữa trước tôi còn sốt, đang chích kinôblơU). Tôi
nằm dài trên tâm ván hẹp, chúng trói chặt
chân tay lại. Bắt đầu, chúng chầm điện nhiều
chỗ: chân tay, vú, cửa mình...; mỗi lần điện
(1) Quinobleu: trị sốt rét.
38

4.10 Page 40

▲back to top
truyền qua thể, tim óc tôi dại, hỏa. Tôi
xỉu đi lúc nào không biết; chúng xối nước cho
tỉnh lại. Tiếp đến món đi máy bay: chân tay
tôi bị trói thúc rồi hai thằng rút dây mắc
vào cái ròng rọc cho thân mình lửng toòng
teng. Các bị căng ra đau xé, nơi cột dây rát
bỏng rồi mâ't cảm giác. Bốn thằng vạm vỡ như
bôn con trâu mộng đứng bôn góc, thi nhau ra
đòn tứ trụ. Tôi văng từ góc nọ qua góc kia,
liên tiếp chịu những đấm búa bổ, bụng
nghĩ thầm "chắc chết thôi!" Để khỏi chịu dau
đớn kéo dài, tôi cắn lưỡi định tự vận. Phát
hiện được máu trong miệng tôi chảy, chúng
thả dây, lâ'y kềm cây sắt. Tôi quyết không
mồm, chúng cố thọc cây sắt vào giữa hai
hàm làm tôi gãy một cái răng. Tên đồ tể Tám
Lùn ác ôn, tôi không biết tên thật của
chỉ nghe kêu như vậy, tức bực đập cây kềm
vào màng tang tôi chảy máu.
Bọn điều tra bỏ tôi nằm riết tới năm
giờ chiều. Chúng cho mâ'y anh "tội" - một
cách gọi khác đi - bị bắt tình nghi, đi làm
về, coi tôi còn sống hay chết. Mắt tôi nhắm
nghiền, tai nghe câu trả lời:
- Chị ấy chết rồi, thầy Tám.
39