Lich su Dang bo huyen Xuan Loc

Lich su Dang bo huyen Xuan Loc

1 Pages 1-10

▲back to top

1.1 Page 1

▲back to top

1.2 Page 2

▲back to top
BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY
Nhận ngày;...aÍ2.../..c/...../«2O^
Vào Sổ số:..........................

1.3 Page 3

▲back to top

1.4 Page 4

▲back to top
ỊỊCHSử
ĐẢNG BỘ HUYỆN XUÂN LỘC
(2005 - 2020)

1.5 Page 5

▲back to top

1.6 Page 6

▲back to top
BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BộHUYỆN XUÂN Lộc
LỊCH sừ
ĐẢNG BỘ HUYỆN XUÂN LỘC
(2005 - 2020)
2026 IỊC IVL 002137
NHÀ XUẤT BÀN ĐỔNG NAI

1.7 Page 7

▲back to top
CHỈ ĐẠO THựC HIỆN
BAN THƯỜNG vụ HUYỆN ỦY XUÂN Lộc
BIÊN SOẠN
Viên Hồng Tiến (Chủ biền)
Nguyễn Đức Hóa
Tổng Trần Hòa
Nguyễn Việt Sơn
Nguyễn Trung Du

1.8 Page 8

▲back to top
Huyện Xuân Lộc hình thành phát triển cùng lịch
sử của vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai hơn 320 năm. Trong
kháng chiến chống giặc ngoại xâm giành độc lập thống
nhất Tổ quốc, Đảng bộ huyện cùng nhân dân địa phương đã
đoàn kết một lòng, đấu tranh kiên cường, vượt qua nhiều
gian khổ, thử thách, lập nhiều chiến công trên các mặt trận.
Đặc biệt trong giai đoạn cuối chiến tranh chống Mỹ cứu
nước, cùng với quân giải phóng miền Nam Việt Nam, quân
dân địa phương đã tham gia Chiến dịch Xuân Lộc, đập tan
phòng tuyến cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng hòa
hướng Đông được mệnh danh cánh cửa thép”, góp phần
mở đường cho Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, cùng cả
nước hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất
đất nước.
Trong thời kỳ xây dựng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
hội chủ nghĩa, Đàng bộ Nhân dân huyện Xuân Lộc tiếp
tục đoàn kết, phát huy nội lực, khắc phục hậu quả chiến tranh
giữ vững an ninh chính trị; từng bước xây dựng kết cấu hạ
tầng, phát triển đô thị, nông thôn, công nghiệp, thương mại,
dịch vụ nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân

1.9 Page 9

▲back to top
dân; trở thành một trong hai đon vị cấp huyện đạt chuẩn
nông thôn mới đầu tiên của tỉnh cả nước; hiện nay Đảng
bộ Nhân dân huyện nhà quyết tâm xây dựng huyện nông
thôn mới kiểu mẫu.
Để ghi nhận những đóng góp của Đảng bộ, chính
quyền, quân dân Xuân Lộc trong sự nghiệp kháng chiến,
xây dựng bảo vệ Tổ quốc giáo dục truyền thống cách
mạng cho các thế hệ nhân dân trong huyện, Ban Chấp hành
Đảng bộ huyện đã biên soạn xuất bản cuốn Lịch sử Đảng
bộ huyện Xuân Lộc giai đoạn 1930 - 2005. Thực hiện sự
chỉ đạo của Trung ương Tỉnh ủy, hướng dẫn của Ban
Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Nai1, Đảng bộ huyện Xuân Lộc
chủ trương21 tiếp tục nghiên cứu biên soạn lịch sử Đảng bộ
huyện giai đoạn 2005 - 2020. Đây sự nối tiếp dòng chảy
lịch sử của Đảng bộ huyện từ giai đoạn 1930 - 2005; qua
đó tổng kết những bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ
đạo xây dựng phát triển huyện nhà trong thời kỳ hội nhập
công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hướng hiện đại.
Đe đảm bảo tính khoa học, khách quan chân thực
của lịch sử, trong quá trình triển khai nghiên cứu, biên soạn,
chúng tôi đã tổ chức khai thác tài liệu lưu trữ, tổ chức hội
nghị nhân chứng lịch sử, hội thảo khoa học tiếp thu ý kiến
của Hội đồng thẩm định của tỉnh, các nhà khoa học, các nhà
1 Chỉthịsố20-CT/rWngày 18/01/20l8của Ban thưTrung ươngĐàng (khóa XII)
hoạch 244-KH/TU ngày 22/02/2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Nai về "Tiếp
tục tăng cường, nàng cao chát lượng nghiên cứu biên soạn, tuyên truyén, giáo dục lịch
sửĐàng'.
2 Kếhoạch sổ 196- KH/HU ngày 05/9/2019 về tổ chức thực hiện sưu tầm, biên soạn lịch sử
Đáng bộ huyện Xuân Lộc (giai đoạn 2005 - 2020).

1.10 Page 10

▲back to top
nghiên cứu lịch sử, các đồng chí nguyên cán bộ lãnh đạo
huyện, cán bộ chủ chốt các ban, ngành của huyện qua các
thời kỳ.
Tuy đã rất cố gắng trong quá trình biên soạn, sách Lịch
sử Đảng bộ huyện Xuân Lộc (2005 - 2020) vẫn không tránh
khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được những
ý kiến đóng góp của các đồng chí, của bạn đọc để công trình
được hoàn chỉnh hom trong lần tái bản sau, dự kiến vào năm
2030 nhân kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng Cộng
sản Việt Nam, Ban Thường vụ Huyện uỷ sẽ nghiên cứu hệ
thống cả hai giai đoạn để bổ sung, biên soạn hoàn thiện
thành một quyển Lịch sử Đảng bộ huyện Xuân Lộc (1930 -
2030).
Xin chân thành cảm ơn các đồng chí, đồng bào, các nhà
khoa học, các chuyên gia, các quan liên quan đã giúp
đỡ để hoàn thành quyển sách ý nghĩa này.
Viên Hồng Tiến
TUV - thư Huyện ủy Xuân Lộc

2 Pages 11-20

▲back to top

2.1 Page 11

▲back to top

2.2 Page 12

▲back to top
MỞ ĐẦU
Huyện Xuân Lộc được thành lập chính thức đi vào
hoạt động ngày 01/7/1991, nằm phía Đông của tỉnh Đồng
Nai, cách thành phố Biên Hòa 80km, cách Thành phố Hồ
Chí Minh khoảng 106km. Xuân Lộc cửa ngõ của miền
Đông Nam Bộ, Quốc lộ I dài 44,2km, đường sắt Bắc -
Nam 6 tỉnh lộ (763, 765, 765B, 766, 772, 779) đi qua; dự
án đường cao tốc Phan Thiết - Dầu Giây đi qua huyện Xuân
Lộc đã khởi công trong năm 2020. Trung tâm huyện Xuân
Lộc đóng tại thị trấn Gia Ray, với các tuyến giao thông đối
ngoại quan trọng, tạo cho Xuân Lộc nhiều ưu thế trong kết
nối, giao thương kinh tế mở rộng mối giao lưu giữa Đồng
Nai với các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ, miền Trung
Tây Nguyên, tỉnh Rịa - Vũng Tàu Thành phố Hồ Chí
Minh. Thời điểm mới thành lập, quy diện tích tự nhiên
của huyện trên 94 ngàn ha, dân số 245 ngàn người với 13
1 thị trấn. Năm 1994, các đơn vị hành chính thuộc huyện
được chia tách thành 20 01 thị trấn.

2.3 Page 13

▲back to top
Thực hiệnNghị định số 97/2003/NĐ-CP ngày 21 /8/2003
của Chính phủ về việc “Thành lập thị Long Khánh các
phường, trực thuộc; thành lập các huyện cẩm Mỹ, Trảng
Bom, tỉnh Đồng Nai, huyện Xuân Lộc tiếp tục được điều
chỉnh ranh giới hành chính, trong đó đã bàn giao 6 về
huyện Cẩm Mỹ. Hiện nay, diện tích tự nhiên toàn huyện
726,79km2, chiếm 12,4% diện tích tự nhiên của tỉnh Đồng
Nai.
về địa giới hành chính, Xuân Lộc phía Bắc giáp huyện
Định Quán; phía Nam giáp huyện cẩm Mỹ tỉnh Rịa
- Vũng Tàu; phía Đông giáp với tỉnh Bình Thuận; phía Tây
giáp với thành phố Long Khánh.
Hiện nay toàn huyện 15 đơn vị hành chính, gồm thị
trấn Gia Ray 14 với 92 ấp, khu phổ. Xuân Lộc địa
phương những địa danh, thắng cảnh tiềm năng phát
triển du lịch như di tích quốc gia danh lam thắng cảnh núi
Chứa Chan, di tích lịch sử căn cứ Rừng Lá, di tích danh lam
thắng cảnh hồ Núi Le, Thác Trời, hồ Gia Ui. Cùng với núi
Đen (Tây Ninh) đệ nhất Thiên Sơn”, núi Chứa Chan
với độ cao 837m so với mặt nước biển được phong đệ nhị
Thiên Sơncủa vùng Nam Bộ. một ngọn núi nằm trong
quần thể di tích danh lam thắng cảnh cấp quốc gia, từ đầu
năm 2016, hệ thống cáp treo du lịch đã được đầu chính
thức đưa vào sử dụng, tạo ra hội phát triển du lịch, dịch
vụ tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp đặc sản địa phương.

2.4 Page 14

▲back to top
Xuân Lộc hai dạng địa hình chính, địa hình núi
chiếm khoảng 6-7% tổng diện tích toàn huyện, trong đó
lớn nhất núi Chứa Chan; địa hình đồi thoải lượn sóng,
dạng địa hình chính, chiếm khoảng 85% tổng diện tích toàn
huyện. Độ dốc phổ biến từ đến 8°, khá thuận lợi cho phát
triển nông nghiệp với các loại cây hàng năm lâu năm
nổi tiếng của huyện như: bắp, sầu riêng, chôm chôm, thanh
long, xoài,... Huyện Xuân Lộc nằm trong vùng khí hậu nhiệt
đới gió mùa cận xích đạo, nắng nhiều (trung bình từ 5,7 - 6
giờ/ngày), nhiệt độ cao cao đều trong năm (trung bình
25,4°C). địa phương khí hậu thuận lợi, ít bị ảnh hưởng
của thiên tai như bão, lụt, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế
- hội. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 kết thúc vào khoảng
cuối tháng 11, lượng mưa trung bình hàng năm 1.956mm.
Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
Nhìn chung, khí hậu thời tiết của huyện có nhiều thuận lợi
cho phát triển nông nghiệp, ít bị tác động bởi thiên tai.
Theo số liệu thống hiện trạng sử dụng đất, huyện
Xuân Lộc diện tích đất tự nhiên 72.679ha, với
57.41 l,85ha đất nông nghiệp, chiếm 78,95%, trong đó: Đất
trồng cây hàng năm 12.628,43ha, chiếm 22,0% đất nông
nghiệp. Trong đất trồng cây hàng năm, 48,5% diện tích
đất trồng màu - cây công nghiệp ngắn ngày; đất trồng lúa
chiếm 51,5% diện tích đất trồng cây hàng năm (70% đất
trồng lúa 1 vụ, trồng thêm 2 vụ bắp các loại cây ngắn
ngày khác). Đất trồng cây lâu năm: 34.852ha, chiếm 60,71%
diện tích đất nông nghiệp, trong đó 55,97% đất trồng cây

2.5 Page 15

▲back to top
công nghiệp lâu năm, 14,64% đất trồng cây ăn quả, còn
lại đất trồng cây lâu năm khác chiếm khoảng 29,38% đất
trồng cây lâu năm.
Xuân Lộc mật độ sông suối tương đối nhiều, nhưng
phần lớn đều ngắn dốc nên khả năng giữ nước kém, nghèo
kiệt vào mùa khô. Việc xây dựng các hồ chứa kết hợp với
chuyển tải nước từ ngoài vào rất cần thiết cho phát triển
kinh tế - hội, nhất cho phát triển sàn xuất nông nghiệp,
công nghiệp của huyện.
về đất rừng, toàn huyện khoảng 9.383ha rừng, bao
gồm: Rừng sản xuất 4.389ha, nhưng trữ lượng gỗ thấp. Rừng
phòng hộ 4.994ha, phân bố khu vực núi Chứa Chan các
Xuân Thành, Xuân Trường, Xuân Hòa, Xuân Hưng
Xuân Tâm.
Huyện Xuân Lộc dân số khoảng trên 229.460 người,
mật độ dân số bình quân 315 người/km2, tỷ lệ dân nông
thôn chiếm khoảng 92%. Dân huyện Xuân Lộc khá đa
dạng với nhiều thành phần từ các tỉnh, thành trong cả nước
về sinh sống lập nghiệp. Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm
khoảng 8% dân số toàn huyện. Trên địa bàn đã hình thành 6
làng dân tộc, gồm: làng dân tộc Chơro ấp Bình Hòa, Xuân
Phú; làng dân tộc S’Tiêng Chơro ấp 2, ấp 3, Xuân Hòa;
làng dân tộc Chơro ấp Trung Sơn, Xuân Trường; làng dân
tộc Chơro ấp Thọ Trung, Xuân Thọ làng dân tộc Chăm
ấp 4, Xuân Hưng, số người theo các tôn giáo chiếm trên
53% dân số toàn huyện, trong đó Công giáo chiếm 35%,
Phật giáo chiếm 15%, còn lại bao gồm 5 tôn giáo khác là:

2.6 Page 16

▲back to top
Tin lành, Cao Đài, Hồi giáo, Tịnh độ sỹ Phật hội Tứ
Ân Hiếu Nghĩa. Thực hiện phương châm sống tốt đời đẹp
đạo, trong nhiều năm qua, đồng bào theo đạo huyện Xuân
Lộc đã tích cực củng cố xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc,
góp phần quan trọng trong công tác xây dựng phát triển
huyện nhà.

2.7 Page 17

▲back to top

2.8 Page 18

▲back to top
CHƯƠNG I
ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN Ĩ)ẠI HÓA NÔNG NGHIỆP,
NÔNG THON, TRỌNG TÂM XÂY
DỰNG NÔNG THÔN BỐN 1,
TẠO TIỀN ĐỂ XÂY DựNG NÔNG
THON MỚI GIAI ĐOẠN TIẾP THEO
(2005 - 2010)
1 đời sống kinh được cài thiện; kết cáu hạ tâng kinh - hội đổng bộ; đời
sổng văn hóa tót, an ninh, an toàn đám bào; mỗi trường sinh thái phát triền bền
vững.

2.9 Page 19

▲back to top
Đảng bộ huyện Xuân Lộc bước vào thực hiện nhiệm
vụ chính trị giai đoạn 2005 - 2010 trong tình hình những
thuận lợi bản:
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã đang
những bước phát triển nhanh, mở cửa hội nhập đang trở
thành xu thế tất yếu, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa gia tăng sức
ép cạnh tranh đối với các quốc gia. Giai đoạn này, Đảng
bộ tỉnh Đồng Nai đã phát huy những thuận lợi về tình hình
chính trị-xã hội ổn định, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết
toàn dân, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, hội nhập quốc tế
đạt nhiều thành tựu trên các lĩnh vực. Kinh tế tỉnh Đồng
Nai bước phát triển với tốc độ tăng cao, để đến năm 2010
xây dựng thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại.
Trong bối cảnh đó, huyện Xuân Lộc đã xác định hướng
xây dựng phát triển, để vừa đảm bảo phát huy được lợi
thế so sánh, đồng thời tận dụng được những thời phát
triển từ bên ngoài, nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển dịch
cấu kinh tế phù hợp với định hướng phát triển kinh tế -
hội của tỉnh.
Thành tựu của huyện đạt được trên các lĩnh vực kinh tế
- hội, quốc phòng - an ninh trong những năm trước đã tạo
thêm những điều kiện quan họng về phát triển kinh tế -
hội, quốc phòng - an ninh.
Huyện Xuân Lộc lợi thế về vị trí địa lý, tiềm năng
về lao động, đất đai dồi dào, đội ngũ cán bộ của huyện ngày

2.10 Page 20

▲back to top
càng trưởng thành..., ngoài ra thêm điều kiện giao lưu,
quan hệ, học tập, trao đổi kinh nghiệm với các huyện trong
tỉnh các tỉnh, thành phố khác trong cả nước.
Dân chủ hội chủ nghĩa ngày một được phát huy, nội
bộ trong hệ thống chính trị đoàn kết, lòng tin của nhân dân
vào sự lãnh đạo của Đảng bộ, quản của chính quyền địa
phưcmg được củng cố.
Những lợi thế nói trên được phát huy, đã giúp cho Đảng
bộ tạo ra sức mạnh tổng hợp trong tổ chức thực hiện phát
triển kinh tế, hội một cách đồng bộ nhằm thực hiện tốt
mục tiêu công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông
thôn...
Tuy nhiên, vào thời điểm này, kinh tế của huyện Xuân
Lộc đang thuộc nhóm các huyện dưới mức trung bình của
tỉnh, công nghiệp phát triển chậm, vấn đề việc làm, đào tạo
nghề còn nhiều hạn chế, sự phân hoá giàu nghèo chiều
hướng gia tăng đòi hỏi phải tập trung sức giải quyết.
Trong bối cảnh nêu trên, Đại hội đại biểu Đảng bộ
huyện Xuân Lộc lần thứ IV, nhiệm kỳ 2005 - 2010 diễn ra
từ ngày 18 đến 19 tháng 10 năm 2005, với sự tham dự của
179 đại biểu chính thức được triệu tập, đại diện cho 1.662
đảng viên trong toàn Đảng bộ. Với tinh thẩn trách nhiệm cao
trước Đảng bộ, Đại hội đã phát huy dân chủ, lựa chọn bầu ra
Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Xuân Lộc khoá IV (nhiệm
kỳ 2005 - 2010) gồm 32 đồng chí, đủ tiêu chuẩn được
tín nhiệm cao, đảm bảo tính kế thừa phát triển; Ban Chấp

3 Pages 21-30

▲back to top

3.1 Page 21

▲back to top
hành Đảng bộ huyện đã bầu Ban Thường vụ Huyện ủy với
10 đồng chí, bầu ủy ban Kiểm tra Huyện ủy với 05 đồng chí;
đồng chí Nguyễn Văn Toàn được bầu giữ chức thư Huyện
ủy, đồng chí Nguyễn Minh Nhật đồng chí Thanh Tùng
được bầu giữ chức Phó thư Huyện ủy, đồng chí Nguyễn
Văn Tài được bâu giữ chức Chủ nhiệm Uy ban Kiêm tra
Huyện ủy. Tháng 4 năm 2008 đồng chí Thanh Tùng thôi
giữ chức Phó thư Huyện ủy, Chủ tịch ủy ban nhân dân
huyện, đến tháng 3 năm 2009, đồng chí Trần Anh Tuấn được
bầu giữ chức Phó thư Huyện ủy, Chủ tịch ủy ban nhân
dân huyện.
Trong nhiệm kỳ, một số thay đổi về nhân sự, tháng
6 năm 2006, đồng chí Văn Khuê được bổ sung ủy viên
Ban Thường vụ Huyện ủy - Trưởng Công an huyện, tháng 01
năm 2008 đồng chí Bùi Thị Bích Thủy - thư Huyện đoàn
được điều động về công tác tại quan Tỉnh đoàn. Tháng 3
năm 2009, đồng chí Phí Thị Hợi - Phó Chủ tịch ủy ban nhân
dân huyện được bầu vào Ban Thường vụ Huyện ủy.
Trên sở những thành tựu đã đạt được sau 15 năm
thành lập huyện những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn,
Đại hội đã thảo luận nhất trí đề ra phương hướng các
chỉ tiêu cụ thể giai đoạn 2005 - 2010, đó là: Tiếp tục phát
triển kinh tế - hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp, nông thôn trên sở phát huy cao độ nội
lực, xem đây yếu tố quyết định gắn với tích cực thu hút
sử dụng hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài. Đẩy mạnh
chuyển dịch kinh tế đến năm 2010 theo cẩu công nghiệp

3.2 Page 22

▲back to top
- xây dựng, nông lâm nghiệp thương mại dịch vụ. Đặc
biệt chủ trọng hình thành các khu, cụm công nghiệp; ưu tiên
đầu tư, phát triển nông nghiệp theo chiều sâu, hình thành
các vùng chuyên canh, thâm canh năng suất, chất lượng
cao tỷ trọng hàng hóa lớn, gắn với thị trường. Nhanh
chóng phát triển đồng bộ hệ thống kết cẩu hạ tầng kinh tế -
hội theo hướng hiện đại, chủ trọng quy hoạch phát triển
hệ thống cụm dãn tập trung gắn với quy hoạch, xây dựng
mạng lưới giao thông nông thôn. Bảo đảm hài hòa giữa tăng
trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, tiến bộ công bằng
hội, bảo vệ cải tạo môi trường. Tăng cường giữ vững
an ninh quốc phòng. Tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng,
chỉnh đổn Đảng, xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh.
Tập trung cải cách hành chỉnh, nâng cao hiệu lực quản
nhà nước. Đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chât
lượng hoạt động của Mặt trận các đoàn thể, phát huy cao
hơn nữa sức mạnh tổng họp của khối đại đoàn kêt toàn dân
tộc”1.
Từ phương hướng nêu trên, Đại hội đã thống nhất các
chỉ tiêu: Giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng bình
quân 16-17%/nãm, trong đó: nông - lâm nghiệp tăng từ
5-6%/năm; công nghiệp - xây dựng 36 -37%/năm; thương
mại dịch vụ 18-19%/năm. GDP bình quân đầu người đạt
14,419 triệu đồng vào năm 2010. cấu kinh tế, đến năm
2010 với tỷ trọng công nghiệp - xây dựng chiếm 39,5%;
nông lâm nghiệp chiếm 34,8%; thương mại - dịch vụ chiếm
1 Vãn kiện Đại hội đại biều Đàng bộ huyện Xuân Lộc lán thứIV (nhiệm kỳ2005 -2010)

3.3 Page 23

▲back to top
25,7%. Tốc độ tăng thu ngân sách địa phương đạt từ 12-
13%/năm.
Đại hội xác định đến năm 2010: Hoàn thành phổ cập
bậc trung học các xã, thị trấn; 50% trường học các cấp đạt
chuẩn quốc gia, 100% đạt chuẩn quốc gia về y tể. Phấn
đấu 91-95% hộ gia đình, khu, ấp đạt tiêu chuẩn văn hóa
100% công sở đời sống văn hóa tốt, 50% xã, thị trấn đạt
tiêu chuẩn văn hóa. Tỷ lệ hộ dùng điện đạt trên 98%, tỷ lệ
số hộ dùng nước hợp vệ sinh đạt trên 97%, giảm tỷ lệ hộ
nghèo xuống dưới 5% (theo chuẩn mới) giải quyết việc
làm hàng năm trên 6.000 lao động, xóa nhà tạm trong khu
vực dân cư. Đại hội đã thống nhất đề ra các chỉ tiêu về công
tác xây dựng Đảng, công tác vận động quần chúng cụ thể:
90% sở đảng đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh,
không sở yếu kém, trên 85% đảng viên hoàn thành
tốt nhiệm vụ. 100% sở đảng nguồn trung kiên kết nạp
đảng viên mới. Đen năm 2008, 100% ấp, khu phố đều chi
bộ. Kiểm tra 100% đảng viên trong việc thực hiện nhiệm vụ
đảng viên, nhiệm vụ được tổ chức phân công. Tỷ lệ tập hợp
quần chúng vào tổ chức: Phụ nữ 75%; Nông dân 85%, Liên
đoàn Lao động 80%, Cựu chiến binh 99%, Đoàn Thanh niên
45%, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam 60%; tỷ lệ đoàn
viên, hội viên tham gia sinh hoạt công tác thường xuyên
đạt từ 75-90%. Trên 90% tổ chức Mặt trận, đoàn thể đạt
danh hiệu vững mạnh. Xây dựng lực lượng nòng cốt trong
đoàn viên, hội viên các đoàn thê đạt 35%.

3.4 Page 24

▲back to top
Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu nêu trên, Đại hội
đã đề ra các giải pháp tổng thể, đó là: Bám sát quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế - hội của huyện giai đoạn 2006
- 2010, tầm nhìn đến năm 2020, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện
chuyển dịch cấu kinh tế nông nghiệp phát triển nông
thôn một cách toàn diện theo huớng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp nông thôn, từng bước định hình cấu
kinh tế nông nghiệp, nông thôn hướng chuyên canh theo
vùng, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật gắn với công
nghiệp chế biến, nhất cây bắp, mỳ, điều... Đẩy mạnh phát
triên kinh tế vườn, trồng mới các loại cây ăn trái đặc sản
hiệu quả kinh tế cao, giá trị xuất khẩu. Sử dụng hợp
tài nguyên đất; bố trí cây trồng phù hợp với điều kiện thời
tiết, thổ nhưỡng... Coi trọng thâm canh, nâng cao năng suất
cây trồng, vật nuôi để phát triển các vùng sàn xuất nông sản
hàng hóa.
Giai đoạn 2005 - 2010, trong bối cảnh nhiều khó
khăn từ sự suy giảm kinh tế thế giới; giá cả một số vật tư,
hàng hóa phục vụ sản xuất tiêu dùng liên tục biến động,
thời tiết, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi diễn biến thất
thường đã những tác động tiêu cực đến sản xuất, kinh
doanh đời sống của nhân dân. Mặt khác, trong nhiệm kỳ,
nhân sự Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Huyện ủy những
biến động, nhưng Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa IV
đã luôn giữ gìn sự đoàn kết thống nhất, nhiều nỗ lực, thể
hiện sự quyết tâm cao, tích cực, chủ động trong lãnh đạo, chỉ
đạo việc quán triệt tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội

3.5 Page 25

▲back to top
đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII; Nghị quyết Đại hội đại
biểu Đảng bộ huyện lần thứ IV đạt nhiều kết quả quan trọng
trên các lĩnh vực.
I. TẬP TRUNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - HỘI
THEO HƯỚNG NĂNG ĐỘNG, SÁNG TẠO
1. Tập trung lãnh đạo phát triển kỉnh tế, tạo tiền
đề, nền tảng xây dụng huyện Xuân Lộc theo hướng bền
vũng
Với sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành
Đảng bộ huyện, giai đoạn 2005 - 2010 nền kinh tế của huyện
phát triển ổn định tất cả các mặt, cấu kinh tế chuyển
dịch tích cực, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt chỉ tiêu Nghị
quyết Đại hội rv đề ra.
Xuân Lộc huyện điểm của tỉnh về phát triển nông
nghiệp, nông thôn, do vậy lĩnh vực nông nghiệp được Huyện
ủy xác định ngành kinh tế chủ đạo. Nhằm tiếp tục thực
hiện tốt Chương trình xây dựng nông thôn phát triển bền
vững giai đoạn 1995 - 2005” của Tỉnh ủy Đồng Nai, Ban
Chấp hành Đảng bộ huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo
thông qua việc ban hành các nghị quyết, kế hoạch với các
chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, đồng bộ, bước đột
phá, sáng tạo trong xây dựng các hình kinh tế phù hợp;
chuyển đổi cấu cây trồng, cấu mùa vụ; các giải pháp
về khai thác nguồn nước, thủy lợi. Từ đầu năm 2007, huyện
thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy về xây dựng nông thôn
mới với mục tiêu 4 , đó là: đời sống kinh tế được

3.6 Page 26

▲back to top
cải thiện; kết cấu hạ tầng kinh tế - hội đồng bộ; đời
sống văn hóa tốt, an ninh, an toàn đảm bảo; môi trường
sinh thái phát triển bền vững.
Đe thực hiện chủ trương của Trung ương chỉ đạo của
Tỉnh ủy Đồng Nai1 về xây dựng nông thôn mới, Huyện ủy
đã đề ra Kế hoạch số 60-KH/HU ngày 18/12/2008, được ủy
ban nhân dân huyện cụ thể hóa bằng Kế hoạch số 27/KH-
UBND ngày 24/3/2009, thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng
nông thôn mới, đồng thời triển khai thực hiện các mục tiêu,
nhiệm vụ, giải pháp của Đề án xây dựng nông thôn mới tỉnh
Đồng Nai giai đoạn 2008 - 2010 tầm nhìn đến năm 2015.
Trên sở soát hiện trạng, đánh giá thế mạnh về kinh
tế, văn hóa - hội, quốc phòng - an ninh, hệ thống chính
trị các trên địa bàn huyện, Huyện ủy đã chọn 2 Xuân
Định Xuân Phú làm điểm xây dựng hình nông thôn
mới của huyện; đồng thời chỉ đạo ủy ban nhân dân 14 lập
kế hoạch xây dựng nông thôn mới để thực hiện.
Trên sở điều kiện tự nhiên, huyện quy hoạch thành
4 tiểu vùng sản xuất nông nghiệp, cấu lại mùa vụ, bố trí
cây trồng thích hợp. Các giải pháp về khai thác nguồn nước,
thủy lợi được quan tâm đầu với hơn 63km kênh mương
nội đồng; phát triển các vùng sản xuất chuyên canh; chú
trọng nhân rộng hình Câu lạc bộ Liên hiệp Câu lạc
bộ năng suất cao. Đen năm 2010 toàn huyện đã 229 câu
lạc bộ; tăng 142 câu lạc bộ so với năm 2005 đã xây dựng
1 Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương (Khóa X)
"nông nghiệp, nỏng dân, nỏng thôn'; hoạch 97-KH/TU của Ban Chấp hành Đàng
bộ tỉnh Đổng Nai (Khóa VIII).

3.7 Page 27

▲back to top
được 7 Liên hiệp Câu lạc bộ năng suất cao, trở thành
hình sáng tạo điển hình của Xuân Lộc. Tập trung chỉ đạo
thực hiện liên kết 4 nhà1; chủ động phòng trừ dịch bệnh
trên cây trồng, vật nuôi; xây dựng triển khai thực hiện
11 chương trình về phát triển nông nghiệp, nông thôn; quy
hoạch phát triển vùng chăn nuôi; phát triển các dịch vụ kinh
doanh phục vụ nông nghiệp; làm tốt công tác quản bảo vệ
rừng trồng rừng; đẩy mạnh phong trào thi đua nông dân
sản xuất giỏi.
Từ việc tập trung thực hiện các giải pháp nêu trên, góp
phần hình thành nhiều vùng sản xuất lớn, nâng cao năng suât
các loại cây trồng chủ lực chất lượng ngành chăn nuôi, tạo
động lực cho nông nghiệp phát triển toàn diện hiệu quả,
với khối lượng hàng hoá nông sản phẩm phục vụ cho yêu
cầu tiêu dùng xuất khẩu ngày càng tăng. Giá trị sản xuất
bình quân trên Iha đất canh tác đạt 50,2 triệu đồng, trong
đó nhiều vùng giá trị sản xuất từ 100 - 250 triệu đồng/ha/
năm, như vùng sản xuất 1 vụ bắp + 2 vụ lúa tại Lang Minh,
Suối Cát, Xuân Phú, tiêu tại Suối Cao, xoài tại Xuân Hưng,
rau tại Xuân Phú, Xuân Bắc, cây ăn trái tại Xuân Định. Giá
trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 6,02% /năm; chăn
nuôi phát triển theo hướng trang trại, chiếm tỷ trọng 43,3%
trong giá trị ngành nông nghiệp đã góp phần nâng cao đời
sống của nhân dân; thu nhập bình quân đầu người đến năm
2010 đạt 18,955 triệu đồng, vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại
hội IV.
1 Nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà nông, nhà khoa học.

3.8 Page 28

▲back to top
Phát huy thành tựu đạt được của huyện điểm về công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn theo Nghị
quyết Trung ương 5 (khóa IX); đồng thời chủ động, tích
cực, nghiêm túc" trong triển khai thực hiện Nghị quyết số
26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X)
Ke hoạch số 97-KH/TU của Tỉnh ủy về nông nghiệp,
nông dân, nông thôn, Đảng bộ huyện đã tập trung chỉ đạo
phát triển hạ tầng kỹ thuật, đẩy mạnh việc áp dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào sản xuất, gắn công nghiệp chế biến
với vùng nguyên liệu, giải quyết tốt vấn đề an sinh hội,
thu hút được nhiều dự án đầu lớn, quan tâm đào tạo, bồi
dưỡng nâng cao dân trí, trình độ chuyên môn của đội ngũ
cán bộ, nhất cán bộ nông nghiệp...; tình hình kinh tế nông
thôn đời sống nông dân ngày càng cải thiện.
Lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của huyện
phát triển theo hướng gắn với nông nghiệp chiếm tỷ trọng
ngày càng tăng trong cơ cấu kinh tế. Giá trị sản xuât công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng bình quân 37,03%/năm.
thể khẳng định, giai đoạn này công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp sự phát triển nhảy vọt, góp phần thúc đẩy nhanh
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn. Trong
5 năm, tổng vốn đầu thu hút vào lĩnh vực sản xuất công
nghiệp đạt trên 2.200 tỷ đồng, với 23 dự án đã đi vào hoạt
động. Các sở chế, chế biến nông sản quy vừa
nhỏ gắn với vùng nguyên liệu sản xuất, kinh doanh đạt hiệu
quả, trong đó thể kể đến Nhà máy cồn Xuân Tâm, Nhà
máy cồn Tùng Lâm - Xuân Hòa; Công ty TNHH Hảo, Công

3.9 Page 29

▲back to top
ty TNHH Gia Nguyễn Phát, Công ty TNHH Thương mại &
Sàn xuất Toàn Xuân Hưng, DNTN Phong Phú... Các ngành
khí nhỏ, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến lương thực
thực phẩm, kỹ nghệ sắt... giữ được nhịp độ phát triển khá.
Ngày 02/6/2006, Khu công nghiệp của huyện được thành
lập với diện tích 109,43ha, đến cuối năm 2008 các đơn vị
đầu trong khu công nghiệp bắt đầu đi vào hoạt động, bước
đầu giải quyết khó khăn về việc làm cho người lao động trên
địa bàn. Đến cuổi năm 2010 đã 3 doanh nghiệp đầu sản
xuất tại khu công nghiệp thu hút gần 11 ngàn lao động. Giai
đoạn 2006-2010, tỷ trọng công nghiệp xây dựng chiếm
hơn 40% trong tổng GDP hàng năm, toàn huyện 1.070
sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giải quyết
việc làm cho 17.860 lao động.
Huyện chú trọng phát triển các loại hình thương mại
phục vụ sản xuất nông nghiệp đời sống nhân dân, phát
triển nâng cao năng lực hoạt động của các loại hình dịch
vụ vận tải, dịch vụ vệ sinh môi trường. Thời điểm này, lĩnh
vực thương mại dịch vụ chuyển biến tốt, đạt giá trị tăng
bình quân 24,64%/năm; đến năm 2010 đã xậy dựng hoàn
chỉnh đưa vào sử dụng chợ Xuân Đà, Xuân Tâm
tiếp tục triển khai việc nâng cấp, xây dựng chợ Xuân Hưng,
Xuân Thọ, Lang Minh chợ Tân Hữu, Xuân Thành
bằng nguồn vốn của hộ tiểu thương đóng góp. Các điểm kinh
doanh xăng dầu trên địa bàn được quy hoạch bổ sung đầu
xây dựng. Huyện đã quy hoạch xây dựng khu di tích lịch
sừ - danh thắng núi Chứa Chan, hỗ trợ thực hiện dự án cáp

3.10 Page 30

▲back to top
treo núi Chứa Chan kêu gọi đầu vào khu du lịch Núi
Le, Thác Trời... Giai đoạn này, đã thu hút trên 180 ngàn lượt
khách du lịch, doanh thu hàng năm đạt trên 1,3 tỷ đồng.
Kết cấu hạ tầng kinh tế - hội tiếp tục được quan tâm
đầu xây dựng, từng bước giải quyết tốt các yêu cầu cấp
thiết phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh đời sống của
nhân dân. Huyện chủ trưong xây dựng thị trấn Gia Ray thành
đô thị loại V với quy từ 19-20 ngàn dân, hệ thống
điện, nước sinh hoạt, giao thông hoàn chỉnh. Giai đoạn 2005
-2010, tổng vốn đầu xây dựng bản tăng 3,04 lần so với
giai đoạn 2001 - 2005. cấu đầu được bổ trí họp lý,
trọng tâm, trọng điểm, chất lượng công trình được quan tâm,
ưu tiên các công trình phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
phát triển nông thôn, giáo dục, y tế. Hệ thống đường giao
thông tiếp tục được đầu xây dựng, phục vụ yêu cầu đi
lại, sản xuất của Nhân dân; đến năm 2010 tỷ lệ nhựa hóa:
Đường huyện quản đạt 78,25%; đường đô thị đạt 53,74%
đường quản đạt 50,12%.
Trong giai đoạn 2005 - 2010, hạ tầng sờ trong vùng
đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện đã được quan
tâm đầu tư xây dựng; phát triển như: Xây dựng 5,5km đường
điện hạ thế, tổng trị giá 443 triệu đồng Xuân Phú Xuân
Bắc, sửa chữa đường giao thông nông thôn các đông
đồng bào dân tộc với tổng kinh phí 765 triệu đồng; xây dựng
trao tặng 247 căn nhà tình thương trị giá 1.729 triệu đồng;
xây dựng 02 nhà văn hóa cho đồng bào dân tộc Chơro
Xuân Phú Xuân Trường trị giá 300 triệu đồng. Thực hiện

4 Pages 31-40

▲back to top

4.1 Page 31

▲back to top
chương trình 134, 135 của Chính phủ, đã hỗ trợ bồn chứa
nước sinh hoạt cho 382 hộ dân tộc, kinh phí thực hiện 205
triệu đồng; hỗ trợ nhà cho 380 hộ, kinh phí 8.740 triệu
đồng. Giải quyết cho 672 lượt hộ dân tộc vay vốn sản xuất
sổ tiền 2,2 tỷ đồng, tạo điều kiện cho người nghèo dân tộc
thiểu số đến các trạm y tế xã, thị trấn khám chữa bệnh miễn
phí; đưa đi đào tạo dài hạn, ngắn hạn tại các trường dạy nghề
cho 216 con em đồng bào dân tộc thiểu số (trong đó học
nghề ngắn hạn 79 em).
Huyện cũng chú trọng phát triển bưu chính - viễn thông,
đồng thời đã tập trung điện khí hóa nông thôn, trong đó đẩy
mạnh đầu hệ thống đường dây trạm biến áp cung cấp
điện phục vụ vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số. Nếu như thời điểm năm 1991 toàn huyện chỉ
9,2km đường dây trung thế 4km đường dây hạ thế thì đến
năm 2010 trên địa bàn huyện đã trên 512km dây trung the
với 791 trạm biến áp trên 667km đường dây hạ thế, tỷ lệ
hộ sử dụng điện đạt 99,2%. Thời điểm này 2 nhà máy nước
Gia Ray Tâm Hưng Hòa cùng hệ thống nước giếng khoan
đã bản cung cấp đủ nước cho người dân, tỷ lệ hộ dân sử
dụng nước hợp vệ sinh đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra
97%.
Tài chính tín dụng ngân hàng bước phát triển.
Thu ngân sách hàng năm đều vượt chỉ tiêu pháp lệnh, tốc
độ tăng thu bình quân 18,5%/năm. Chi ngân sách tăng bình
quân 12,86%, được bố trí đảm bảo các nhu cầu hoạt động
của hệ thống chính trị, ưu tiên cho đầu phát triển. Việc

4.2 Page 32

▲back to top
điều hành thu, chi ngân sách đúng luật, chủ động cân đối
ngân sách tích cực hiệu quả.
Huyện đã phát triển thêm 1 Phòng Giao dịch 1 Chi
nhánh giao dịch của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đại Á,
1 Chi nhánh của Quỹ tín dụng Nhân dân Xuân Trường. Tổng
doanh số cho vay giai đoạn 2005-2010 2.423 tỷ đồng; giải
quyết cho 66.943 lượt hộ vay, nguồn vốn cho vay tập trung
vào phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
2. Xây dựng phát triển văn hóa - hội theo
hướng lấy con người làm trọng tâm
Cùng với nhiệm vụ phát triển kinh tế, nhiệm vụ xây
dựng, phát triển văn hóa - hội được Đảng bộ huyện rất
quan tâm. Giai đoạn này, hoạt động văn hóa, thông tin, thể
dục, thể thao nhiều khởi sắc, góp phần động viên, nâng
cao sức khỏe, đời sống tinh thần cho nhân dân. Các thiết chê
vãn hóa được quan tâm đầu xây dựng, với 73% xã, thị trân
Trung tâm văn hóa - thể thao. Phong trào Toàn dân đoàn
kết xây dựng đời sổng văn hỏa ngày càng đi vào chiêu
sâu, năm 2010, 95,6% khu, ấp được công nhận khu, ấp
văn hóatrên 90% xã, thị trấn Lành mạnh không
tệ nạn hội, 100% công sở đời song văn hóa tôt
Nhận thức tầm quan trọng của gia đình trong hội, môi
trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng giáo dục nhân
cách con người, bảo tồn phát huy văn hoá truyền thống
tốt đẹp, chống lại các tệ nạn hội, tạo nguồn nhân lực cho
sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Nhận thức được
tầm quan trọng đó, công tác xây dựng gia đình trên địa bàn

4.3 Page 33

▲back to top
huyện trong thời gian qua đã được Huyện uỷ, ủy ban nhân
dân huyện, các ngành, đoàn thể quan tâm chỉ đạo thực hiện,
từng bước phát huy hiệu quả làm lành mạnh mối quan hệ gia
đình và xã hội, góp phần trực tiếp vào thành quả chung của
huyện. Phần lớn gia đình trong huyện vẫn giữ gìn phát
huy truyền thống tốt đẹp lâu đời của gia đình Việt Nam, thể
hiện qua các phong trào quần chúng được xây dựng như
gia đình vần hoả, “gia đình cách mạng gương mẫu'”, “gia
đình hiếu học, ông, mâu mực, con cháu hiếu thảođã
đạt được nhiều kết quả quan trọng. Nhiều hộ gia đình trở nên
khá giả; công tác xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm
đã giúp cho nhiều hộ gia đình đói nghèo vươn lên. Công tác
giáo dục của nhiều gia đình sự tiến bộ, số hộ gia đình đạt
chuẩn văn hoá hàng năm đều tăng, từ 83,96% (năm 2005)
tăng lên 93,05% (năm 2009).
Hoạt động thể dục thể thao nhiều chuyển biến tích
cực đạt được một số thành tích quan trọng, phong trào
Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ đại
tiếp tục phát triển, hàng năm trên 26% hộ gia đình đạt
danh hiệu rèn luyện thân thể, trên 30% dân sổ luyện tập thể
thao thường xuyên.
về giáo dục - đào tạo, hệ thống trường lớp được tăng
cường, xây dựng mới theo hướng kiên cố, hiện đại hóa, phục
vụ tốt việc dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục, thực
hiện đạt mục tiêu về phổ cập trung học phổ thông. Năm
2005, trường Trung học phổ thông Xuân Hưng được thành
lập trên sở tách từ phân hiệu của trường Trung học phổ

4.4 Page 34

▲back to top
thông Xuân Lộc với quy 22 lớp, 993 học sinh. Đến năm
2009, tiếp tục thành lập mới trường Trung học phổ thông
Xuân Thọ với quy 16 lớp, 668 học sinh. Từ ngày mới
thành lập, huyện chỉ 01 trường trung học phổ thông với
559 học sinh, 31 thầy giáo, đến năm học 2010-2011 đã
4 trường trung học phổ thông với 149 lóp học, 6.830 học
sinh 337 giáo viên. Các chính sách ưu tiên cho học sinh
con em dân tộc thiểu số, gia đình chính sách hộ nghèo
được quan tâm. Các mục tiêu như: Giữ vững kết quả phổ
cập giáo dục tiểu học, trung học sở; thực hiện đạt mục
tiêu về phổ cập trung học phổ thông; nâng cao chất lượng
giáo dục... đều đảm bảo. Bình quân hàng năm tỷ lệ học sinh
tốt nghiệp tiểu học đạt 98,12%, trung học sở đạt 95,90%
trung học phổ thông đạt 90%; hàng năm trên 40% học
sinh tốt nghiệp trung học phổ thông thi đỗ vào các trường
đại học, cao đẳng trung học chuyên nghiệp; tỷ lệ học sinh
lưu ban, bỏ học dưới 2%. Đội ngũ giáo viên phẩm chất
đạo đức, yêu nghề, trình độ chuyên môn được chuẩn hóa đạt
95,4%, trong đó đạt trên chuẩn 40,2%.
Hoạt động giáo dục thường xuyên được duy trì, tổ chức
các lớp dạy nghề hướng nghiệp cho học sinh, thanh niên.
Các Trung tâm học tập cộng đồng tiếp tục được đầu tư, trang
bị về sở vật chất duy trì hoạt động ngày càng hiệu
quả. Từng bước thực hiện việc xây dựng hội học tập; chú
trọng công tác khuyến học, khuyến tài; hoạt động của Hội
Khuyến học, Hội Phụ huynh học sinh nhiều kết quả tích
cực, góp phàn phát huy tốt mối quan hệ giữa nhà trường, gia
đình hội trong chăm lo sự nghiệp giáo dục.

4.5 Page 35

▲back to top
Hoạt động chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân
tiến bộ, sở vật chất của ngành y tế tiếp tục được nâng cấp,
mở rộng. Đầu các trang thiết bị hiện đại triển khai các
kỹ thuật mới góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán
điều trị bệnh. Trình độ chuyên môn của cán bộ y tế không
ngừng được nâng cao. 100% khu phố, ấp nhân viên y tế
cộng tác viên dân số đã qua đào tạo. Hội Đông y, Hội
Châm cứu được củng cố, mạng lưới y tế nhân ngày càng
phát triển, 100% xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế.
Công tác bảo hiểm y tế toàn dân được quan tâm triển khai,
công tác phòng, chống các loại dịch bệnh thực hiện các
chương trình y tế quốc gia đạt hiệu quả thiết thực. Trẻ em
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được quan tâm chăm sóc về sức
khỏe đời sống, 100% trẻ em dưới 6 tuổi đều được cấp thẻ
bảo hiểm y tế. Công tác chăm sóc sức khoẻ tiến bộ cả
về phòng bệnh chữa bệnh, thực hiện hội hóa các thiết
bị y tế, các chương trình y tế quốc gia, công tác kế hoạch hóa
gia đình đạt nhiều kết quả tích cực.
Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm được chú
trọng. Việc chăm lo các đối tượng chính sách được quan
tâm. Đốn cuối năm 2009 toàn bộ các hộ gia đình chính sách
trên địa bàn đều bảo đảm đạt mức sống từ trung bình trở lên,
không còn hộ gia đình chính sách trong diện hộ nghèo. Các
hoạt động hội, từ thiện được quan tâm, giai đoạn từ 2005-
2010 đã xây dựng 1.466 căn nhà tình thương, giảm 6.545
hộ nghèo, huy động nguồn lực thực hiện chương trình giảm
nghèo trên 238 tỷ đồng. Thực hiện tốt chương trình 134,

4.6 Page 36

▲back to top
135 của Chính phủ về hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số
nghèo, hộ nghèo, với số tiền trên 9,15 tỷ đồng, hỗ trợ kinh
phí xây dựng 22 công trình chi phí học tập cho trẻ mẫu
giáo 11 ấp đặc biệt khó khăn, kinh phí thực hiện 3,719 tỷ
đồng. Cấp 93.600 lượt thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo
3. Lãnh đạo xây dựng quốc phòng - an ninh ngày
càng vững mạnh
Trong lãnh đạo, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện luôn
gắn phát triển kinh tế với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng
- an ninh. Chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán
bộ, đảng viên nhân dân nhận thức hai nhiệm vụ chiến
lược xây dựng bảo vệ Tổ quốc, nâng cao cảnh giác đối
với âm mưu Diễn biến hoà bình’'’ “Bạo loạn lật đổcủa
các thế lực thù địch; quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng
lực lượng công an, quân sự từ huyện đến sở ngày càng
vững mạnh.
Lực lượng dân quân tự vệ được củng cố, phát triển đạt
tỷ lệ 1,45% dân số, trong đó đảng viên chiếm 15,65%. 100%
Chỉ huy trưởng Phó Chỉ huy trưởng quân sự xã, thị ứấn
đảng viên; 34,06% ấp đội trưởng, ấp đội phó đảng viên.
Hàng năm hoàn thành 100% chỉ tiêu giao quân 2 cấp huyện
xã. Công tác tổ chức diễn tập phòng thủ cấp huyện cấp
đạt kết quả tốt. Tổ chức thực hành diễn tập chiến đấu trị
an diễn tập phòng không nhân dân cho 15/15 xã, thị trấn.
Năm 2006, Xuân Lộc được Bộ lệnh Quân khu 7 chọn để

4.7 Page 37

▲back to top
tổ chức diễn tập Quân sự ĐN-06, cuộc diễn tập đã diễn ra
thành công tốt đẹp, góp phần nâng cao nhận thức trong các
cấp ủy đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên về nhiệm vụ
xây dựng khu vực phòng thủ huyện vững chắc.
Quán triệt quan điểm cách mạng sự nghiệp của quẩn
chúng, phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc
phong trào cách mạng của toàn dân dưới sự lãnh đạo của
Đảng sự điều hành của chính quyền. Xác định mục
đích, tầm quan trọng của công tác giữ gìn an ninh trật tự,
Huyện ủy, ủy ban nhân dân huyện đã lãnh đạo, chỉ đạo lực
lượng công an phối hợp với ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam huyện, các ban, ngành, đoàn thể từ huyện đến sở
tổ chức tuyên truyền, học tập trong quần chúng nhân dân
từng khu, ấp, tổ nhân dân, quan, doanh nghiệp trường
học về công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn
hội, về an toàn giao thông; về công tác thu gom khí, vật
liệu nổ; xây dựng khu, ấp, hộ gia đình vãn hóa, quan,
doanh nghiệp đời sống văn hóa tốt, văn minh, sạch đẹp,
an toàn.
Đã phối họp với Công an tỉnh, Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam tỉnh tổ chức phát động kết phong trào quần chúng
bảo vệ An ninh Tổ quốc tại các Xuân Hòa, Xuân Hưng,
Xuân Tâm đồng thời huyện tiếp tục nhân rộng hình, tổ
chức phát động phong trào toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc
tại Xuân Thọ, Xuân Hiệp, Suối Cát vùng đồng bào
giáo dân tại Xuân Tâm. Qua đó, làm chuyển biến rệt
về nhận thức của cán bộ nhân dân huyện Xuân Lộc nói

4.8 Page 38

▲back to top
chung, cán bộ nhân dân 6 nói riêng đối với phong trào
quần chúng bảo vệ An ninh Tổ quốc. Trong các đợt phát
động đã đóng góp tích cực vào công tác giảm nghèo, tuyên
truyền phổ biến pháp luật, các hoạt động dân vận, từ thiện,
giao lưu văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, công tác đấu
tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn hội đã góp phần kìm
chế mức độ gia tăng của các loại tội phạm hình sự, tệ nạn
hội tai nạn giao thông. Công an huyện phát động phong
trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc gắn với công tác dân
vận an sinh hội hàng năm đạt hiệu quả rệt, tình hình
an ninh trật tự các địa bàn ổn định, các vụ vi phạm pháp luật,
phạm pháp hình sự, tai nạn giao thông hàng năm đều giảm.
Chất lượng chính trị của lực lượng công an xã, thị trấn, khu,
ấp ngày càng nâng cao. 100% Trưởng Công an 87,5%
Phó trưởng Công an xã, thị trấn đảng viên; 57,53% công
an viên xã, thị trấn đảng viên; 30,77% Trưởng Công an ấp,
khu phố đảng viên 12,3% Phó Công an ấp, khu phố
đảng viên. Những kết quả trên đã góp phần giữ vững ổn định
về an ninh chính trị trật tự an toàn hội.
II. CHÚ TRỌNG CÔNG TÁC XÂY DựNG ĐẢNG
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
1. Nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền
địa phưong
Giai đoạn này Hội đồng nhân dân huyện các xã, thị
trấn hoạt động đạt hiệu quả, nội dung phương thức hoạt
động theo hướng toàn diện, đúng luật định, phát huy tốt vai
trò của quan quyền lực nhà nước địa phương, thể hiện ý

4.9 Page 39

▲back to top
chí, nguyện vọng của cử tri. Hoạt động của Thường trực Hội
đồng nhân dân 2 Ban Hội đồng nhân dân được đẩy mạnh,
việc giám sát giữa 2 kỳ họp thực hiện tốt, tiếp tục nâng cao
chất lượng các kỳ họp. Đã tổ chức thành công cuộc bầu cử
Đại biểu Quốc hội khóa XII.
Hoạt động của ủy ban nhân dân huyện, các phòng, ban
chuyên môn ủy ban nhân dân các xã, thị trấn được củng
cố, kiện toàn theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Công tác quy
hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được chú trọng, trong
nhiệm kỳ đã cử đi đào tạo, bồi dưỡng 928 lượt cán bộ huyện,
xã, thị trấn; cuối nhiệm kỳ đã 100% cán bộ các quan
hành chính huyện 40/75 thành viên ủy ban nhân dân xã,
thị trấn trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên, đạt tỉ lệ
53% (tăng 7,3% so với đầu nhiệm kỳ); cán bộ chuyên trách
đạt chuẩn theo quy định của Trung ương chiếm tỉ lệ 41,81%
(69/165 cán bộ), tăng 9,14% so với đầu nhiệm kỳ đạt
25,45% (42/165 cán bộ) theo chuẩn quy định của ủy ban
nhân dân tỉnh.
Hệ thống chính trị sở tiếp tục được đổi mới nâng
cao chất lượng hoạt động theo tinh thần Nghị quyết số 17-
NQ/TW Hội nghị lần thứ 5 (khoá IX). Đã chia tách, thành
lập thêm 09 ấp mới, nâng tổng số khu, ấp của huyện 91
khu, ấp. Thực hiện đạt kết quả khá tốt công tác cải cách hành
chính, trong đó trọng tâm cải cách thủ tục hành chính,
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của ủy ban
nhân dân các cấp, giảm phiền hà, tăng niềm tin của các tổ
chức, công dân đối với các quan hành chính nhà nước.

4.10 Page 40

▲back to top
Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ sở, quy
chế công vụ. Công tác thi đua khen thưởng từng bước đi vào
hoạt động nề nếp, hiệu quả.
Tập trung kiện toàn bộ máy, nâng cao chất lượng hoạt
động của các quan bảo vệ pháp luật. Chất lượng công
tác điều tra, truy tố, xét xử được nâng lên, đúng luật định
góp phần tích cực trong việc răn đe, giáo dục, phòng ngừa
tội phạm. Công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại,
tố cáo tiến bộ, tỷ lệ giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo
hàng năm đạt trên 90%. Củng cố các tổ hòa giải sở,
kết quả hòa giải thành trên 56% đơn phát sinh. Tỷ lệ án thi
hành xong hàng năm đạt trên 78% (chỉ tiêu 75%). Công
tác tuyên truyền giáo dục phổ biến pháp luật được chú
trọng... Công tác phòng, chống tham nhũng, thanh tra, kiểm
tra trên các lĩnh vực kinh tế - hội được tăng cường; phát
hiện chấn chỉnh, xử kịp thời đối với các sai phạm.
2. Thực hiện tốt công tác vận động quần chúng, tăng
cường khối đại đoàn kết dân tộc
Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo triển khai thực hiện
tốt các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng trên lĩnh vực công tác
dân vận, đặc biệt triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị
quyết lần thứ 7 Trung ương Đảng (khóa IX) về “Phát huy
sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc , về công tác tôn
giảo , về công tác dân tộc Đồng thời chỉ đạo việc sơ,
tổng kết kịp thời các Chỉ thị, Nghị quyết của Đàng về công