Van hoa lang Cho ro Ly Lich

Van hoa lang Cho ro Ly Lich

1 Pages 1-10

▲back to top

1.1 Page 1

▲back to top
390.095 977 5
ĐC --------
V 115 H
BẢO TÀNG ĐỒNG NAI
LÀNG CHORD LÝ LICH
fijj NHÀ XUẤT BẢN ĐỒNG NAI

1.2 Page 2

▲back to top
VĂN HÓA LÀNG CHORO LÝ LỊCH

1.3 Page 3

▲back to top
CHỦ BIÊN
Lưu Văn Du
BIÊN SOẠN NỘI DUNG
Nguyễn Thị Tuyết Hồng
Phan Đình Dũng
Lê Xuân Hậu
Nguyễn Trần Kiệt
Trần Minh Trí
Nguyễn Thị Tuyết Trinh
Lê Thị Ái Vân
Mai Thị Thu Phương

1.4 Page 4

▲back to top
BẢO TÀNG ĐỒNG NAI
VAN HÓA
LANG CHORO LÝ LỊCH
THƯV1ỆN TỈNH BỒNG NAI
SÁCHTẶNG
2Ũ2UỈC/VI 001919
NHÀ XUẤT BÀN ĐỒNG NAI

1.5 Page 5

▲back to top

1.6 Page 6

▲back to top
Văn hóa làng Chơro Lý Lịch
Người Chơro là một trong 4 dân tộc bản địa ở Đồng Nai
sinh sống tập trung ở các địa phương như: Định Quán, Xuân
Lộc, Tân Phú, Vĩnh Cửu, Long Thành, Long Khánh. Trong đó,
người Chơro ở ấp Lý Lịch, xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng
Nai là cộng đồng còn gìn giơ được nhiều các giá trị văn hóa
truyền thống của tộc ngưòi. Trước đây, đồng bào Chơro ấp Lý
Lịch ở suối Cà Nhên (người Kinh vẫn gọi là: Jau Cà Nhên), sau
đó chuyển lên Bà Hào. Năm 1945, người dân tham gia kháng
chiến dời làng vào suối Xà Mếch, suối cốp, suối Ràng. Địa bàn
hiện tại (ấp Lý Lịch, xã Phú Lý) mà đồng bào đang sinh sống
được hình thành sau giải phóng.
Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và
đê quốc Mỹ, người dân Chơro một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ.
Họ đã có nhũng dóng góp rất lớn cho cách mạng về sức người,
sơc của góp phần cùng dân tộc làm nên chiến thắng mùa xuân
1975. Nhiều thế hệ ngưòi dân Chơro đã hy sinh tính mạng, nhà
cửa của mình cho cách mạng. Điều đó cho thấy tinh thần dân
tộc, lòng yêu quê hương đất nưóc đã thấm đẫm trong mỗi con
người nơi đây. Họ cống hiến cho cách mạng mà không quản
khó khăn, gian khổ, không tiếc máu xương. Hòa bình lập lại,
đồng bào cùng chung tay xây dựng quê hương, góp công sủc
của mình cho đại đoàn kết cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
5

1.7 Page 7

▲back to top
BẢO TÀNG ĐỒNG NAI
Người Chơro ở ấp Lý Lịch bảo lưu đa dạng các giá trị vãn
hóa truyền thống của tộc người. Trong công trình này sẽ tập
trung phác thảo một cách tổng quan về người Chơro ấp Lý Lịch,
xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai trên các phương
diện vãn hóa vật chất, văn hóa tinh thần. Trong đó, cung cấp
góc nhìn tổng quan các giá trị văn hóa truyền thống cũng như
những biến đổi văn hóa trong suốt quá trình lịch sử hình thành
và phát triển của tộc người. Qua đó cũng đánh giá được thực
trạng công tác bảo tồn giá trị di sản văn hóa của người Chơro
từ chủ thể và cơ quan quản lý văn hóa, Nhà nước; cũng như đề
xuất các giải pháp bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa tộc
người Chơro.
Thực hiện công trình này chủ yếu là nguồn tư liệu điền dã
ở khu vực Lý Lịch, trong đó tập trung vào nghiên cứu di sản văn
hóa người Chơro ở ấp Lý Lịch 1 - nơi còn bảo lưu đa dạng các
giá trị văn hóa truyền thống. Quyển sách này có sự kế thừa các
công trình nghiên cứu về người Chơro trước đó; xem đó như
nguồn tài liệu có giá trị để so sánh, đối chiếu.
Bảo tàng Đồng Nai
6

1.8 Page 8

▲back to top
PHẦN I:
KHÁI QUÁT
TỘC NGƯỜI CHƠRO XÃ PHÚ LÝ,
HUYỆN VĨNH CỬU

1.9 Page 9

▲back to top
BẢO TÀNG ĐÓNG NAI
Chương 1:
NGƯỜI CHƠRO ở ĐỒNG NAI
1.1. TÊN GỌI
Chơro là tộc danh của một trong 54 thành phần dân tộc
Việt Nam, được Tổng cục Thống kê nước Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam công bố chính thức theo Quyết định số 121-
TCTK/PPCĐ ngày 02 tháng 3 năm 1979.
Tộc danh của người Chơro có nhiều cách gọi khác nhau.
Tên tự gọi của dân tộc là Chrau-Jro, trong đó “Chrau nghĩa là
người hay nhóm người, còn Jro là một danh từ riêng chỉ cộng
đồng của họ. Ngoài ra, người Chơro còn có những tên gọi khác
nhau như Châu ro, Chrai, Jơro, Dơro... hay bằng một danh từ
phiếm chỉ: người Thượng”1. Người Khmer gọi họ là Ph’nôông;
Một số sách báo cũ trước năm 1975 gọi họ là Ro, Tô, Xôp
(Coop)...; Trong Đại Nam Nhất Thống Chí gọi người Chơro là
“sơn man”, “thf’ dân” còn vào thời kỳ Pháp đô hộ nước ta Pháp
gọi người Chơro là người Mọi, Thượng... Từ sau năm 1975, tộc
danh Chơro được sử dụng chính thức. Cũng theo sách Các dân
tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam), “tộc danh Chrau
Jro còn gắn liền với tên gọi một giống lúa nếp cổ truyền mà
1 Lâm Nhân. 2008. Văn hóa truyền thống của người Chơro ở Đồng Nai
trong lĩnh vực hôn nhân, tr.18.
8

1.10 Page 10

▲back to top
Văn hóa làng Chơro Lý Lịch
đồng bào rất thích gieo trồng: n’hpal Chrau Jro. Người Việt gọi
giống lúa này là nếp cái (nếp mẹ)”
J.Boullet trong cuốn Xứ người Mạ, cõi các thần linh cho
rằng người Chơro cũng là người Churu, thuộc nhóm người
Koon cau (đọc là con chau), người Sơ - Đông Dương (Proto -
Indochinois) ở các cao nguyên Nam Đông Dương, chiếm cứ
một cách rời rạc và không liên tục các rừng rậm ở xứ Tây Nam
xứ sở Mạ...
Ngày nay, người Chơro ở Đồng Nai cư trú chủ yếu ở
phường Bảo Vinh, xã Bảo Quang, Bàu Trâm, Hàng Gòn thuộc
Tp. Long Khánh; xã Xuân Trường, Xuân Phú, Xuân Thọ huyện
Xuân Lộc; xã Lâm San, Bảo Bình huyện cẩm Mỹ; xã Túc Trung
huyện Định Quán; xã Phú Lý huyện Vĩnh Cửu; xã Phước Thái,
Phước Bình huyện Long Thành... Đặc điểm nổi bật của người
Chơro Đồng Nai là môi trường cư trú của họ luôn gắn liền với
thiên nhiên, họ tác động đến thiên nhiên thông qua lao động
sản xuất nương rẫy, săn bắt động vật... để tồn tại và cũng chính
thiên nhiên tác động ngược lại góp phần tạo nên tính cách, lối
sống, tập quán xã hội của người Chơro ở Đồng Nai.
1.2. NGUỒN GỐC TỘC NGƯỜI
Người Chơro là lớp cư dân cư trú từ xa xưa ở miền núi
Nam Đông Dương, là cư dân có mặt sớm nhất trên vùng đất
Đồng Nai. Trước khi có mặt trên những địa bàn cư trú hiện nay,
người Chơro phân bố chủ yếu ở vùng đồi núi thấp nằm về phía
Đông Nam của tỉnh Đồng Nai. Dựa trên kết quả của một số
công trình nghiên cứu khảo cổ học và các nguồn thư tịch có
liên quan, tộc người Chơro (cùng một số tộc người Mạ, X’tiêng,
Cơ ho...) là hậu duệ của cư dân Môn - Khmer và là dân bản địa
9

2 Pages 11-20

▲back to top

2.1 Page 11

▲back to top
BẢO TÀNG ĐỒNG NAI
sinh sống lâu đời ở Đông Nam Bộ ngày nay. Cuộc sống của các
cư dân này đã có ít nhiều liên kết chặt chẽ nhằm quản lý khu
vực sinh sống rộng lớn của mình.
Một sô nguồn thư tịch, sử liệu khi ghi chép về Đồng Nai
cách nay hàng thế kỷ đều đề cập đến nhóm cộng đồng dân tộc
ít người được gọi là “Mọi”, “Man sách” Nhiều công trình địa
phương chí về vùng đất Biên Hòa, Long Khánh đầu thế kỷ XX
còn liệt kê và chụp ảnh mà người dân tộc tiểu số cư trú trong đó
có nhóm người Chơro ở vùng núi Chứa Chan (nay thuộc huyện
Xuân Lộc), người Chơro ở vùng Gia Canh (nay thuộc huyện
Định Quán). Trong hội thảo “Biên Hòa Đồng Nai 300 năm
hình thành và phát triển”, bài nghiên cứu của PGS.PTS Phan
Xuân Biên nêu rõ: “Xứ Đồng Nai được thành lập cách đây 300
năm bao gồm cả vùng đất Đông Nam Bộ và một phần Nam Tây
Nguyên. Nơi đây, từ lâu là địa bàn cư trú của một số bộ phận
cư dân Môn - Khmer, mà theo sự xác minh thành phần dân tộc
học, đó là người Mạ, Châuro, X’tiêng, Mơnông, Cơ ho. Các cộng
đồng dân tộc thiểu số này là hạt nhân cơ bản của vương quốc
Mạ kéo dài từ vùng trung lưu đến hạ lưu sông Đồng Nai. Sau
này, do áp lực của nhiều luồng di dân và do hoàn cảnh lịch sử
xã hội, vào khoảng thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX các dân tộc này
đã lùi dần về phía thượng lưu sông Đồng Nai và vùng miền núi
Đông Nam Bộ...”
Theo tác giả Lâm Nhân trong Văn hóa ưuyền thống của
người Chơro ở Đồng Nai trong lĩnh vực hôn nhân thì: Một truyền
thuyết liên quan đến quá trình tộc người cùa người Chơro cho
rằng người Chơro sinh sống ở vùng Gia Ray, Bình Lộc và Túc
Trưng theo tiếng Chơro các vùng này gọi là: Pôprưng, Pôptol và
Pôplau đều có chung nguồn gốc, bởi đó là 3 nhánh do ba người
10

2.2 Page 12

▲back to top
Văn hóa làng Chơro Lý Lịch
chị em ruột bị lạc nhau, mỗi người đến một vùng làm ăn sinh
sống và lập gia đình, sinh con đẻ cái thành lập làng ở đó. Cũng
theo người dân Chơro, Pôprưng được tính từ suối Tambung
quay ngược xuống Túc Trưng, Pôptoi là khu vực ấp Lý Lịch, xã
Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu ngày nay. Pôplau là vùng đất từ Bảo
Chánh tới Gia Huỳnh, Trảng Táo, trong đó ở Pôplau có con suối
Chọc Lau nằm trên núi Chứa Chan.
Các thế hệ người Chơro xưa kia đã trải qua nhiều biến
động lớn, khu vực cư trú của họ thường là vùng tranh chấp
triền miên của các tộc người láng giềng, họ phải di cư liên tục,
địa bàn cư trú bị thu hẹp dần. Vào cuối thiên niên kỷ thứ nhất
sau Công nguyên, cùng với sự hình thành và lớn mạnh của hai
vương quốc Phù Nam và Chãmpa, Đông Nam Bộ trở thành khu
vực tranh chấp giữa hai vương quốc này. Cả hai vương quốc
này đều đã từng kiểm soát các tộc người bản địa ở Đông Nam
Bộ và buộc các thủ lĩnh của họ phải cống nộp trong đó có tộc
người Chơro. Trải qua những biến cố lịch sử, hai vương quốc
Phù Nam và Chămpa cũng dần dần suy yếu và giảm dần những
áp lực đối các tộc người vùng Đông Nam Bộ. Do đó, từ thê kỷ
XV trở về trước, mối liên hệ giữa các tộc người bản địa ở Đông
Nam Bộ với các vương quốc Phù Nam, Chãmpa cũng ít nhiều
để lại dấu ấn trong nhiều mặt đời sống của tộc người Mạ, Chơro,
XTiêng, Cơ ho... trong đó có cả sự giao lưu, ảnh hưởng văn hóa.
Từ thế kỷ XVII trở về sau, khu vực Đông Nam Bộ nói
chung Đồng Nai nói riêng lại có sự hiện diện của cộng đồng
người Hoa, người Kinh từ vùng Ngũ Quảng di dân vào sống đan
xen với các tộc người bản địa. Quan hệ giữa các nhóm người
này diễn ra trong sự hòa hiếu, cùng giúp đỡ lẫn nhau khai phá
vùng đất Đồng Nai. Tuy nhiên, sự tiếp xúc với những cộng đồng
11

2.3 Page 13

▲back to top
BẢO TÀNG ĐỒNG NAI
dân cư mới này đã có những tác động không nhỏ đối với các
tộc người bản địa, trước hết về địa bàn cư trú của các tộc người
Mạ, Chơro, X’tieng bị thu hẹp lại. Họ buộc phải di cư liên tục,
cuộc sống không ổn định và lui dần về vùng rừng núi để sinh
sống vì ở đó thích hợp với kỹ thuật làm rẫy, săn bắn và tổ chức
buôn sóc hơn. Qua thời gian sống ở rừng núi, với môi trường
ẩm ướt quanh năm, các phương tiện y tế thiếu thốn, phương
pháp chữa bệnh lạc hậu... đã làm dân số của các tộc người này
giảm đi đáng kể.
Theo một số người Chơro xâ Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu kể
lại: Xưa kia cha ông họ kể lại rằng tổ tiên người Chơro ở vùng
đất thuộc thành phố Biên Hòa ngày nay. Sau khi người Kinh
đến xứ Đồng Nai khai hoang lập ấp, triều đình nhà Nguyền
sai Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lí đất phương Nam
thiết lập nền hành chính để dân chúng được an cư lạc nghiệp.
Ông lấy đất Đồng Nal lập ra phủ Gia Định, lấy đất Đông Phố lập
ra huyện Phước Long, đất Sài Côn lập ra huyện Tân Bình. Khi
vua Gia Long lên ngôi vẫn đặt dinh như cũ và xây dựng thêm
lực lượng quân đội để giữ. Năm Gia Long thứ 21, có 81 sách sơn
man, xin phụ thuộc, triều đình nhà Nguyễn đặt thành 4 thủ
Tân Định, Tân Bình, Tân Lợi, Tân Thuận thuộc huyện Phước
Bình để vỗ trị. Những nơi nào dân Việt còn ở lẫn với người tộc
thì đặt là đạo, nguồn hay thủ để cai trị, thu thuế chứ chưa đặt
tổng huyện hay xã thôn. Năm Minh Mạng thứ 19, nhà Nguyễn
đã lấy tổng Chánh Mỹ Hạ và các sách man 3 thủ Bình Lợi, Định
Quán, Phước Vĩnh chia thành 4 tổng Phước Thành, Bình Sơn,
Bình Tuy, Bình Cách do phủ Phú Long quản lý; những thổ dân
đều ban cho một chữ để làm họ như những chữ: Sơn, Lâm,
Hồng, Nhạn, Ngưu, Mã... Huyện Phước Bình xưa kia nay thuộc
địa phận Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh, một phần các tỉnh
12

2.4 Page 14

▲back to top
Văn hóa làng Chơro Lý Lịch
Bình Dương, Bình Phước và Đồng Nai. Các thổ dân được đặt họ
chính là các dân tộc Chơro, Mạ, X’tieng, Cơ ho...
Cuối thế kỷ XIX, từ khi thực dân Pháp đặt chân lên vùng
đất Đồng Nai, họ nhanh chóng nhận ra những nguồn tài nguyên
phong phú và bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa phục
vụ cho chính quốc. Địa bàn cư trú của các tộc người bản địa
một lần nữa bị thu hẹp, nhiều vùng đất là nơi cư trú của các tộc
người Chơro, Mạ, X’tieng nhanh chóng biến thành những đồn
điền cao su của thực dân Pháp: Công ty cao su Đông Dương
SIPH, Công ty cao su Xuân Lộc ở Hàng Gòn, đồn điền cao su
Dầu Giây, An Lộc, Bình Lộc, Ông Quế... Các tộc người bản địa
phải di chuyên địa bàn cư trú vào vùng rừng núi sâu, cách biệt
môi trường giao lưu văn hóa với các tộc người khác. Đời sống
kinh tế lệ thuộc nhiều vào các nguồn lợi tự nhiên. Điều kiện lao
động vất vả, cộng với dịch bệnh và thú dữ, sự tồn tại của các tộc
người luôn bị đe dọa.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, các tộc người Chơro,
Mạ, XTiêng ở một số khu vực bị dồn vào ấp chiến lược như tộc
người Chơro ở Xuân Lộc, Long Khánh, Định Quán... dưới sự
kiểm soát chặt chẽ của Mỹ ngụy. Thanh niên của các tộc người
Chơro, Mạ, Cơ ho, XTiêng là nguồn lao động chính trong gia
đình bị bắt đi lính, địa bàn cư trú ngày càng thu hẹp khiến cuộc
sống trở nên khó khăn hơn, dân số suy giảm nhiều trong giai
đoạn này.
Sau ngày đất nước thống nhất, Đảng và Nhà nước đã thực
hiện nhiều chủ trương, chính sách để đồng bào ổn định cuộc
sống, phát triển sản xuất, nâng cao trình độ dân trí về mọi mặt.
Cùng với các cộng đồng dân tộc khác, dân tộc Chơro là một
phần của khối đại đoàn kết dân tộc, cùng giao lưu và phát triển
13

2.5 Page 15

▲back to top
BẢO TÀNG ĐỒNG NAI
cộng đồng dân tộc mình đồng thời vẫn gìn giữ được bản sắc
văn hóa độc đáo của dân tộc mình, góp phần tạo nên bản sắc
văn hóa Đồng Nai hết sức đa dạng, đặc trưng.
1.3. NHÂN CHỬNG VÀ NGÔN NGỬ
Địa bàn cư trú xưa kia của người Chơro được xác định là
toàn bộ khu vực Đông Nam Bộ kéo dài đến một số tỉnh thuộc
khu vực Tây Nam Bộ như Long An, Tiền Giang, An Giang...
Theo kết quả nghiên cứu nhân chúng học trên di cốt người cổ
tại các di tích An Sơn, Rạch Núi, Gò Ô Chùa (Long An), gò Cái
Lăng (Cần Giờ) và một số di tích Óc Eo vùng Tây Nam Bộ... cho
thấy cư dân bản địa vùng Nam Bộ thuộc chủng Indonesien, có
tầm vóc trung bình, nam l,62m, nữ l,60m, gần gũi với tầm vóc
của các tộc người vùng Nam Tây Nguyên hiện nay.
Trong bài chuyên luận về lịch sử các dân tộc miền núi Việt
Nam của B.Bourotte, khi đề cập đến cư dân có giả thuyết cho
rằng “Vùng Đồng Nai - Nam Tây Nguyên vào đầu Công nguyên
thuộc lãnh địa của vương quốc Phù Nam. Cộng đồng cư dân
vùng này đã có sự pha tạp giữa lớp nhân chủng Indonesien bản
địa (nguyên Đông Dương) với lớp nhân chủng đã Ân Độ hóa”'.
Cho đến nay, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai chỉ mới tìm thấy
02 di cốt người trong cuộc khai quật khảo cổ học di tích Gò Me
xã Vĩnh Thanh, huyện Nhơn Trạch năm 2004. Qua nghiên cứu,
phân tích PGS.TS. Nguyễn Lân Cường cho rằng 2 di cốt người
này có nhiều nét gần gũi với nhóm người cổ Đông Nam Á thuộc
chủng tộc Mongoloid.
Trên cơ sở nghiên cứu khảo cổ học và sử liệu cho thấy
1 Địa chí Đồng Nai, tập 3, Lịch sử, tr. 95.
14

2.6 Page 16

▲back to top
Văn hóa làng Chơro Lý Lịch
trên địa bàn Đồng Nai vết tích con người tồn tại và phát triển
khá liên tục từ thời kỳ tiền sử - sơ sử đến khi người Kinh vào
khai phá. Những cư dân ở đây không chỉ có chung con đường
tiến hóa trong vùng mà còn kế thừa, phát triển văn hóa bản địa
hài hòa với địa sinh thái trong vùng. Như vậy, các tộc người bản
địa ở Đồng Nai gồm Chơro, Mạ, X’tieng, Cơ ho có thể là hậu
duệ của những cư dân cổ sinh sống trên địa bàn Đồng Nai từ
rất lâu đời.
Trong những câu chuyện kể của người Chơro cũng có
truyện lý giải những đặc điểm tộc người như màu da tại sao
khác nhau. Đó là vì người Chơro ngồi dưới gốc cây thị có gỗ
màu đen nên da người Chơro có màu đen, còn người Kình ngồi
dưới gốc cây bằng lăng có gỗ màu trắng nên da trắng... Trong
sách Đại Nam Nhất Thống Chí, tập 5, phần tỉnh Biên Hòa có
đoạn: “Người Man hỉnh dáng đen, mặc vải hoa vàng, búi tóc, lỗ
tai rộng chừng một tấc, xâu bằng trục gỗ, quấn lưng bằng miếng
vải, không có áo quần, ở nơi xa lánh...
Hiện nay, dựa vào các đặc điểm về hình thể, ngôn ngữ...
các nhà nghiên cứu nhân chủng xếp người Chơro vào nhóm
nhân chủng Nam Á, loại hình Indonesien. về hình thể, người
Chơro có nhiều đặc điểm gần với các dân tộc vùng Nam
Tây Nguyên với chiều cao trung bình nam l,62m, nữ l,60m;
màu da nâu sậm; mắt hai mí rõ rệt, tròng mắt màu đen hoặc
nâu thẫm; tóc đen, phần nhiều dợn sóng; mũi cao vừa, cánh
mũi rậm; lông mày tương đối rậm. về mặt thể chất, người
Chơro rất mạnh khỏe và dẻo dai, thích hợp với điều kiện sống
khắc nghiệt.
Trong sách Địa phương chí - Tỉnh Long Khánh của Việt
Nam Cộng hòa có mô tả “Tất cả đồng bào Thượng đều nói một
15

2.7 Page 17

▲back to top
BẢOTÀNG ĐỒNG NAI
thứ tiếng tương tự nhau, hiểu nhau được. Họ không có chữ viết.
Các bộ lạc Thượng tin tưởng nơi Trời đất, Thần Nhang, cúng vái
Ông Bà, Tổ tiên mỗi khi đau ốm. Hằng năm theo thường lệ, sau
mùa gặt, họ tổ chức cúng nhang để ăn uống vui chơi”
Những công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài
nước từ trước đến nay đã thống nhất xếp ngôn ngữ của người
Chơro vào họ Nam Á, nhóm Môn Khmer. Ngôn ngữ người
Chơro rất gần gũi với ngôn ngữ của tộc người Mạ, X’tieng, Cơ
ho... song lượng từ Khmer trong tiếng Chơro tương đối nhiều.
Cấu trúc ngữ pháp tiếng Chơro gần gũi với tiếng X’tieng,
Khmer và các ngôn ngữ nhóm Môn - Khmer. Các thành phần
chính và trật tự của câu phổ biến là; chủ ngữ - vị ngữ - bổ ngữ.
Thông thường thành phần chính đứng trước còn các thành
phần phụ bổ nghĩa đứng sau.
Cũng như ngôn ngữ của các cộng đồng dân tộc khác, ngôn
ngữ Chơro cũng có sự khác biệt chút ít đối với cộng đồng Chơro
sinh sống ở những vùng khác nhau song số lượng từ khác nhau
giữa các nhóm này không nhiều. Tại Đồng Nai có thể chia thành
3 khu vực chính: Chơro vùng Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu; Chơro
vùng Túc Trưng, Định Quán và Chơro vùng thành phố Long
Khánh, huyện Xuân Lộc. Cũng như cộng đồng người Mạ, Cơ
ho, X’tieng, người Chơro ở Đồng Nai không có chữ viết. Trước
đây người Pháp, Mỹ sử dụng phiên âm La - tinh để phiên âm lại
tiếng nói của đồng bào, do vậy cũng có thể ở mỗi vùng khi đồng
bào phát âm khác nhau về âm vực nặng hay nhẹ... nên phiên
âm La - tinh cũng có thể khác.
Cho đến nay, chưa tìm được cứ liệu nào nói đến việc người
Chơro có chữ viết. Trong truyện kể dân gian của người Chơro
16'

2.8 Page 18

▲back to top
Vân hóa làng Chơro Lý Lịch
có truyện giải thích vì người Chơro ham ăn trái thị không chịu
đến trường thi, do đó người Chơro không có chữ viết. Trong
những năm 1960 của thế kỷ XX, một nhóm người Mỹ thuộc
Viện nghiên cứu Mùa Hè (Summer Institute) đã Latinh hóa
tiếng Chơro thành ký tự chữ viết trước hết phục vụ cho mục
đích truyền đạo, sau đó được dùng trong một số tài liệu nghiên
cứu nhưng chưa phổ biến1.
1.4. DÂN SỐ VÀ PHÂN BỐ DÁN CƯ
1.4.1. Dân sô
Hầu hết trong các tư liệu trước 1975 thường đồng nhất
người Chơro với tộc người Mạ, Cơ ho, X’tieng với tên gọi người
“Thượng”, “Sơn man” do đó số liệu về dân số cũng chỉ ghi
chung chứ không nêu rõ số liệu của từng dân tộc. Trong Địa chí
Đồng Nai năm 2001, tập 2 - Lịch sử cho biết dân sô của người
Thượng năm 1901 là 2.581 người. Năm 1924, dân số người
Thượng là 11.400 người; năm 1943 là 15.103 người; năm 1946
là 15.221 người; năm 1948 là 15.378 người; năm 1955 là 10.007
người. Trong sách Địa phương chí - tỉnh Long Khánh của Việt
Nam Cộng hòa năm 1968 cũng chỉ ghi dân số người Thượng là
9.838 người sinh sống tại các xã Bình Hòa, Xuân Lộc, Phương
Thọ, Thơi Giao, Định Quán... chiếm 28% dân số; dân số người
Thượng sinh sống tại tỉnh Biên Hòa là 1.087 người chiếm 0,18%
dân số.
Khác với các cộng đồng người Kinh, Hoa, Tày, Nùng...
trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, dân số của người Chơro không có
sự tăng dân số cơ học mà chủ yếu là tăng dân số theo hướng tự
nhiên. Tỉ lệ tăng dân số ở mứ(ị t^ung bình.
1 Hội Vãn ng
tr.5-6.
SÁCH TẶNG
----- ------ T7
2024/ec/VL
!7- Người chơro ở Đồng Nai’
001919

2.9 Page 19

▲back to top
BẢO TÀNG ĐỔNG NAI
Sau năm 1975 đến nay, chính sách định canh định cư
của Nhà nước được triển khai thực hiện trong các vùng người
Chơro sinh sống đã góp phần vào việc ổn định các khu dân cư
của người Chơro. Dân số người Chơro trên địa bàn tỉnh củng
tăng đáng kể (xem bảng 1.4.1). Những địa bàn tập trung đông
các hộ gia đình Chơro cư trú là các xã Phú Lý (huyện Vĩnh Cửu) ;
Túc Trưng (huyện Định Quán); Xuân Trường, Xuân Phú, Xuân
Thọ (huyện Xuân Lộc), phường Bảo Vinh, xã Bảo Quang, Bàu
Trâm (thành phố Long Khánh); xã Xuân Mỹ, Xuân Quế, Lâm
San (huyện cẩm Mỹ); xã Phước Bình, Phước Thái (huyện Long
Thành)... Ngoài ra, còn một số hộ dân sống rải rác ở các xã các
nông trường cao su huyện Thống Nhất, Long Thành, Tân Phú,
Long Khánh...
Bảng 1.4.1: Thống kê dân sô Chơro ẻ15 huyện trên địa
bàn tỉnh Đồng Nai
Năm
STT
Đơn vị hanh chính
1994 1996 2012
1
Thị xã Long Khánh
4.001 4.015 3392
2
Vĩnh Cửu
379
397
971
3
Xuân Lộc
2.889 3.471 4607
4
Định Quán
2.900 3.387 5076
5
LongThành
174
174
593
18

2.10 Page 20

▲back to top
Văn hóa làng Chơro Lý Lịch
1.4.2. Phân bố dân cư
Những biến động về kinh tế, xã hội và chính trị trong lịch
sử nhiều thế kỷ trước đây, sự chiếm dụng khai thác đất để lập
đồn điền cao su, cà phê của thực dân Pháp, tác động của chiến
dịch gom dân lập ấp chiến lược của Mỹ, chế độ Sài Gòn... làm
cho địa bàn cư trú của người ChOro có sự chuyển dịch. So với
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, lãnh thổ người Chơro bị thu hẹp dần,
một số người Chơro lớn tuổi ở ấp Đức Thắng, xã Túc Trưng,
huyện Định Quán đã kể lại: một người tổ tiên của họ tên là Điểu
Ú kể rằng cụ có quê ở sát Ngã Bảy (thành phố Sài Gòn), bộ tộc
Chơro này khi ấy chỉ có vài chục người, họ trôi dạt dần về phía
Đông và con cháu của cụ hiện đang cư ngụ tại Đức Thắng1.
Cuộc sống du canh du cư cũng là một trong những nhân
tố ảnh hưởng đến địa bàn cư trú của người Chơro. Họ luôn thay
đổi vùng canh tác bởi họ không có kỹ thuật chăm sóc đất, thâm
canh... nên khi thấy rẫy không còn phì nhiêu, mùa màng không
còn bội thu nữa thì họ lại tìm chỗ khác đê canh tác bỏ lại mảnh
đất cũ, người Kinh do có kỹ thuật nông nghiệp phát triển hơn,
biết thâm canh mùa vụ nên họ sử dụng lại những khu đất đã bỏ
hoang của người Chơro và định cư luôn tại đó.
Từ sau năm 1975, chính sách định canh định cư của Nhà
nước đối với từng khu vực có người Chơro sinh sống phần nào
làm cho địa bàn cu' trú của người Chơro được ổn định. Họ cư
trú vừa mang tính xen kẽ với các cộng đồng dân tộc khác như
Kinh, Hoa, Tày, Nùng... nhưng lại vừa mang tính tập trung theo
làng cũ. Tuy sống định canh, định cư nhưng hầu hết các địa
1 Hội Văn nghệ dân gian Đồng Nai. 1997. Người Chơro ở Dồng Nai,
tr. 10, 11.
19

3 Pages 21-30

▲back to top

3.1 Page 21

▲back to top
BẢO TÀNG ĐỒNG NAI
bàn cu' trú của người Chơro đều gần hoặc giáp ranh với rừng tụ'
nhiên vì những khu vực này thích hợp với tập quán cu' trú lâu
đời của họ.
Tính đến năm 2012, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai người
Chơro cư trú ỏ' 171 xã thuộc 11 đơn vị hành chính cấp huyện,
thành phố. Trong đó, địa bàn huyện Định Quán có sô dân cu'
người Chơro đông nhất: 992 hộ 5.076 người cu' trú chủ yếu ở các
xã Phú Tân (113 người), Thanh Sơn (551 người), La Ngà (437
người), Phú Túc (181 người), Túc Trung (3.667 người)...
Huyện Xuân Lộc có số dân cu' người Chơro đông thứ 2:
948 hộ, 4.607 người chủ yếu tập trung tại các xã Xuân Bắc (322
người), Xuân Thọ (1.187 người), Xuân Trường (1.543 người),
Xuân Thành (250 người), Xuân Hòa (124 người), Xuân Phú
(1.394 người), Suối Cao (288 người)... Ở đây, người Chơro sống
xen kẽ với người Kinh, Hoa, Tày, Khmer...
Thị xã Long Khánh có 686 hộ, 3.392 người chủ yếu cư trú ở
các xã: Bảo Vinh (931 người), Bảo Quang (609 người), Bàu Trâm
(798 người), Hàng Gòn (636 người)...
Huyện Thống Nhất có 501 hộ, 2.226 người chủ yếu tập
trung ỏ' các xã: Xuân Thiện (1.848 người), Xuân Thạnh (224
người), Hưng Lộc (120 người)...
Huyện Vĩnh Cửu có 192 hộ, 971 người chủ yếu tập trung ở
xã Phú Lý (658 người), Mã Đà (65 người)...
Huyện Long Thành có 161 hộ, 593 người chủ yếu tập
trung ở xã: Phước Bình (508 người)...
Huyện Trảng Bom có 93 hộ, 403 người tập trung chủ yếu
ở xã Tây Hòa (214 người), Sông Trầu (101 người)...
20

3.2 Page 22

▲back to top
Văn hóa làng Chơro Lý Lịch
Huyện Cẩm Mỹ có 229 hộ, 954 người chủ yếu tập trung
ở xã Xuân Quế (257 người), xã Lâm San (178 người), Xuân Mỹ
(360 người)... Ngoài ra, người Chơro còn sinh sống rải rác ở các
huyện khác, song số lượng không nhiều.
Bảng 1.4.2: Dân số Chơro tình Đồng Nai năm 2012
STT
Đơn vị hành chính
1
TP Biên Hòa
2
TP. Long Khánh
3
Nhơn Trạch
4
Tân Phú
5
Trảng Bom
6
Long Thành
7
Vĩnh Cửu
8
Cẩm Mỹ
9
Thống Nhất
10
Xuân Lộc
11
Định Quán
Tổng cộng
Sô hộ
10
686
8
16
93
161
192
229
501
948
992
3.836
Sô khẩu
20
3.392
14
68
403
593
971
954
2226
4607
5076
18.324
21

3.3 Page 23

▲back to top
BẢO TÀNG ĐỔNG NAI
Như vậy, Theo thống kê của Ban dân tộc tỉnh đến năm
2012 tổng số dân cư người Chơro trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
là 18.324 người trong đó tập trung đông nhất là ở huyện Định
Quán, Xuân Lộc, Tx. Long Khánh, Thống Nhất, cẩm Mỹ, Vĩnh
Cửu và Long Thành. Hầu hết các khu vục này đều có địa hình
phù hợp với nhu cầu sống gần gũi với thiên nhiên, khai thác
nguồn tài nguyên sẵn có và thuận lợi cho phát triển kinh tế
nông nghiệp theo truyền thống của người Chơro.
22

3.4 Page 24

▲back to top
Văn hóa làng Chơro Lý Lịch
Chương 2:
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM
TỘC NGƯỜI CHƠRO XÃ PHÚ LÝ
2.1. NGUỒN GÓC VÀ ĐẶC ĐIỂM TỘC NGƯỜI CHƠRO
XÃ PHÚ LÝ
Người Chơro đến ấp Lý Lịch 1, xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu,
Đồng Nai từ sau gải phóng do chính sách “định canh, định cư”
của Đảng và Nhà nước. Trước kia, đồng bào sinh sống chủ yếu
ở khu vực Bà Hào thuộc xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu ngày nay1.
Đồng bào không sống tập trung thành ấp, xã như bây giờ mà
rải rác trên một địa vực rộng lớn hơn và gọi tên là plei (tương
đương với đơn vị làng của người Kinh). Tên Lý Lịch có thể được
đặt theo tên làng Lý Lịch2 vùng dân tộc thiểu số thuộc tổng Tà
Lài, tỉnh Biên Hoà cũ.
Trong kho tàng chuyện kể dân gian của người Chơro còn
lưu truyền một truyền thuyết có đề cập đến nguồn gốc của các
cộng đồng người Chơro ở Đồng Nai nói chung và cộng đồng
1 Lâm Nhân. 2010. Hôn nhãn và gia đình của người Chơro truyền thống
và biến đổi, NXB Văn hóa dân tộc, trl8,19.
2 Làng Lý Lịch vùng dân tộc thiểu số thuộc tổng Tà Lài, tỉnh Biên Hoà
thành lập từ 17-11-1930. Sau năm 1956 giải thể.
25

3.5 Page 25

▲back to top
BẢO TÀNG ĐỔNG NAI
người Chơro ở Lý Lịch nói riêng. Đồng bào cho rằng: “Từ hồi
xa xưa, có hai vợ chồng nhà nọ sinh được ba cô con gái. Không
may, một thời gian ngắn sau khi sinh con, cả hai vọ' chồng cùng
mất đi. Ba cô con gái trở thành mồ côi cha mẹ, tự lo kiếm sống
qua ngày. Do phải tự lo cho bản thân nên ba cô gái lạc nhau,
mỗi người đi một nơi, làm ăn sinh sống và xây dựng gia đình,
sinh con đẻ cái ở đó. Một người đến Gia Ray, một người đến
Bình Lộc và một người ở Túc Trưng. Theo tiếng người Chơro, đó
là 3 vùng Pôprưng, Pôtoi và Pôplau”1. Trong đó, vùng Pôprưng
được tính từ suối Tambung quay ngược xuống Túc Trưng.
Pôtoi là khu vực ấp Lý Lịch, xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu ngày
nay. Pôplau là vùng đất từ Bảo Chánh tới gia Huỳnh, Trảng Táo,
ở đây có con suối Chọc Lau nằm trên núi Chứa Chan2.
Truyền thuyết trên mạng đậm yếu tố huyền thoại, nhưng
nội dung truyền thuyết đã khẳng định các cộng đồng Chơro ở
Đồng Nai được sinh ra cùng một gốc, chung một dòng máu (ba
chị em gái mồ côi cha mẹ), sau đó cuộc sống trải qua nhiều thử
thách khó khăn và lưu lạc nhưng cuối cùng vẫn vượt qua tất cả
để tiếp tục sinh tồn, hình thành nên những cộng đồng Chơro
như hiện nay. Thông qua câu chuyện kể dân gian đã phần nào
phản ánh một đặc điểm quan trọng của người Chơro đó là
người phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong quá trình tộc người
và chế độ mẫu hệ của họ đã tồn tại từ rất xưa.
Theo nhiều người Chơro ở Lý Lịch, tổ tiên của họ xưa kia ở
vùng đất thuộc thành phô Biên Hòa ngày nay, vì điều kiện sống
1 Đề tài khoa học. Đời sống văn hóa dân tộc Chơro ở Đồng Nai. Sở Văn
hóa Thông tin Đồng Nai, Trung tâm Vãn hóa Thông tin Đồng Nai, 2004.
2 Lầm Nhân. 2007. Góp phần tìm hiểu văn hóa tộc người Chơro ở Đồng
Nai, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuât, số 1(271), trang 2.
24

3.6 Page 26

▲back to top
Văn hóa làng Chơro Lý Lịch
du canh, du cư luôn luôn thay đổi vùng đất canh tác nên người
Chơro di chuyển ngược dần lên vùng trung lưu sông Đồng Nai
rồi tỏa đi khắp nơi trong đó một nhánh đã hình thành cộng
đồng Chơro ở Lý Lịch bây giờ. Một số ý kiến khác cho rằng,
địa bàn người Chơro sinh sống trước đây thường xảy ra những
cuộc tranh giành lãnh địa với các tộc người láng giềng. Người
Chơro ở vùng phía dưới miệt thấp của Đông Nam Bộ chuyển
dần vào các vùng phía trên phía trung lưu của các con sông, tập
trung quanh các dãy núi ngang ở Biên Hòa. Khu vục này chạy
dài từ phía Tây Bắc tỉnh Đồng Nai đến khu vực Bà Rịa. Tất cả
những ý kiến trên đều có cơ sở để khẳng định bởi thời kỳ các
triều vua Nguyễn, đặc biệt thời vua Minh Mạng (1820 - 1840) đã
tiến hành bình ổn Nam Bộ. Chính sách của vua Minh Mạng về
sắp đặt hành chính ở vùng đất Biên Hòa đã tác động đến người
Chơro tại các vùng được gọi là “man sách”. Các “man sách” này
được sáp nhập, đổi tên thành đơn vị “tổng” hay “thủ” Người
Chơro còn được đặt họ. Những người Chơro được ban cho các
họ sau Tùng, Lâm, Đào, Lý, Dương, Mai, Hồng1 (trong đó Hồng
là họ gốc của người Chơro ở Lý Lịch hiện nay).
Cũng như bao cộng đồng người Chơro khác cư trú trên
vùng dất Đông Nam Bộ nói chung và ở Đồng Nai nói riêng,
cộng đồng người Chơro ở Lý Lịch trải qua nhiều biến động lớn
gắn liền với những thăng trầm của lịch sử, tự nhiên và xã hội
bởi các cuộc chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, cuộc sống không
ổn định phải di cư liên tục, kinh tế truyền thống là nương rẫy
khai thác vùng đồi núi nơi cư trú để trồng trọt theo lối du canh
du cư, cuộc sống nghèo nàn, lạc hậu trong suốt một thời kỳ lịch
sử kéo dài. Dù vậy, cộng đồng người Chơro ở Lý Lịch, xã Phú Lý
1 Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam nhất thống chí, 15. (Bản dịch của
Nhà xuất bản Thuận Hóa). 200i. tr.40.
25

3.7 Page 27

▲back to top
BẢO TÀNG ĐỔNG NAI
vẫn giữ được sức sống tộc người, xác lập được một diện mạo
kinh tế riêng và không ngừng sáng tạo ra các giá trị văn hóa.
Vãn hóa của cộng đồng người Choro ở Lý Lịch vừa phong phú
vừa độc đáo, vừa có điểm thống nhất, vừa có một số điểm khác
biệt với các cộng đồng Chơro trên địa bàn tỉnh. Mặc dù kinh tế,
văn hóa, xã hội của đồng bào đà có những biến đổi nhất định
trong những năm qua nhưng người Chơro ở Lý Lịch vẫn bảo
lưu được nhiều yếu tố truyền thống trong phong tục tập quán,
tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội, tâm lý và lối sống cộng đồng.
2.2. Tổ chức làng (plei)
Trong ngôn ngữ của người Chơro ở Lý Lịch làng được gọi
là plei. Trước đây, do điều kiện tự nhiên và hình thức canh tác
trên địa hình đồi núi, lấy canh tác nương rẫy làm phương thức
căn bản, khai thác vùng đồi núi nơi cư trú để trồng trọt và chăn
nuôi, đồng bào Chơro cư trú rải rác ở vùng Bà Hào, bên dòng
sông Đắc Nhênh1. Cả làng chỉ có hơn chục ngôi nhà dài, mỗi
nhà dài nằm cách xa nhau từ 500 - 1000m, không có phân biệt
về địa giới giữa các nhà dài với nhau. Việc quản lý trong làng
căn bản dựa trên nguyên tắc trọng lão, vị trí của người lớn tuổi
có nhiều kinh nghiệm được đề cao trong cộng đồng. Đứng đầu
là già làng (Deeq câu măq) - là người cao tuổi, rất có uy tín vì
am hiểu phong tục tập quán, được cộng đồng bầu ra để đảm
nhiệm công việc đối ngoại và các hoạt động diễn ra trong cộng
đồng, sau già làng còn có trưởng các dòng họ (trưởng tộc) và
những ông đầu nhang (người đứng đầu nhà dài) trong làng
cùng tham gia quản lý. Mọi công việc chung của làng khi quyết
định đều có ý kiến tham gia đóng góp của mọi thành viên.
1 Theo lời kể của Già làng Nguyễn Vãn Nổi (Nâm Nổi) ấp Lý Lịch 1, xã
Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
26

3.8 Page 28

▲back to top
Văn hóa làng Chơro Lý Lịch
Tổ chức cộng đồng làng của người Chơro ở Lý Lịch trước
kia khá chặt chẽ, việc vận hành các thiết chế xã hội đều dựa trên
cơ sở phong tục tập quán của cộng đồng. Các thiết chế xã hội
này tuy bất thành văn nhưng lại chi phối đến từng thành viên,
từng gia đình và dòng họ trong cộng đồng làng như: sở hữu đất
đai, quan hệ hôn nhân, ứng xử, tín ngưỡng và lễ hội góp phần
ổn định trật tự của làng. Củng do điều kiện canh tác nương rẫy
với lối du canh nên sở hữu đất đai đối với người Chơro không
phải là vấn đề quan trọng. Mặt khác, người Chơro cũng không
đủ sức để chiếm đoạt đất đai của các tộc người khác nên họ
không có sở hữu đất đai riêng. Chính vì vậy đã tạo nên một
quy định chung trong cộng đồng của họ đó là tất cả các thành
viên, các gia đình trong cộng đồng đều được quyền khai thác
các nguồn lợi tư nhiên, và đây được coi là nguyên tắc đảm bảo
trật tự trong làng. Quyền sở hữu cá nhân được cộng động thừa
nhận là nhà cửa, các loại sản vật tự nhiên khai thác được, công
cụ lao động của họ.
Từ sau khỉ thực hiện chính sách định canh, định cư của
Nhà nước, tổ chức làng của ngưòỉ Chơro Lý Lịch đã có nhiều
thay đổi, hình thức cư trú của đồng bào tập trung và ổn định
hơn. Làng đồng bào hiện nay được gọi tên theo đơn vị hành
chính là ấp (ấp Lý Lịch 1, xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu). Quyền
sở hữu đất đai của mỗi gia đình được xác lập và có sự phân chia
ranh giới rõ ràng dưới sự quản lý chung của nhà nước, về mặt
chính quyền, người đứng đầu là trưởng ấp, đại diện cho chính
quyền trực tiếp quản lý và điều hành chung những vấn đề liên
quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước diễn ra trong cộng đồng,
mọi hoạt động của các thành viên trong cộng đồng Chơro đều
tuân tủ theo Hiến pháp và pháp luật. Vai trò của già làng ngày
nay đã chuyển dần sang vai trò của trưởng ấp, già làng khô-
27

3.9 Page 29

▲back to top
BẢO TÀNG ĐỒNG NAI
ng còn là người quyết định mọi công việc đối nội, đối ngoại
trong cộng đồng như xưa. Tuy nhiên, già làng vẫn được coi
trọng và đề cao bởi uy tín, sự am hiểu tỏ tường về phong tục tập
quán của dân tộc mình, mọi công việc của làng, ấp đều được
thông qua để tham vấn sự góp ý của già làng, việc bầu già làng
vẫn được cộng đồng dựa trên nguyên tắc cũ. Việc vận hành các
thiết chế xã hội dựa trên cơ sở phong tục tập quán của cộng
đồng đã không còn đóng vai trò chủ đạo nhưng những phong
tục, luật tục cũ xưa vẫn còn chi phối rất nhiều đến đời sống vật
chất và tinh thần của đồng bào Chơro ở Lý Lịch hiện nay.
2.3. Dòng họ
Cộng đồng người Chơro ở ấp Lý Lịch 1 hiện có 09 dòng
họ, trong đó chiếm đa số là họ Hồng và họ Nguyễn. Họ gốc của
người Chơro ở đây là họ Hồng một trong 7 dòng họ (Tùng,
Lâm, Đào, Lý, Dương, Mai, Hồng). Trải qua quá trình sinh
sống cộng cư, giao lưu với người Việt, đã thúc đẩy quan hệ hôn
nhân giữa người Chơro và người Việt phát triển từ rất sớm, các
thành viên trong cộng đồng Chơro có thể lấy vợ hoặc chồng là
người Việt1, con cái sinh ra được đặt tên theo họ cha hoặc mẹ.
Mặt khác, trong cộng đồng ngưòi Chơro ở ấp Lý Lịch 1 luôn
nghiêm cấm việc người cùng dòng họ không được lấy nhau và
đây là yếu tố chính dẫn tới sự xuất hiện thêm một số dòng họ
mới trong cộng đồng người Chơro ở Lý Lịch 1 hiện nay (bảng
thống kê 2.3).
1 Gia đình Già làng Nguyễn Văn Năm (Nãm Nổi), ấp Lý Lịch 1, xã Phú
Lý, huyện Vĩnh Cửu có 7 người con, trong đó có 4 người lấy vợ hoặc chồng là
người Việt.
28

3.10 Page 30

▲back to top
Văn hóa làng Chơro Lý Lịch
Bảng 2.3: Các họ người Chơro ấp Lý Lịch 1, xã Phú Lý
huyện, Vĩnh Cửu
STT Dòng họ Số hộ Sô khẩu
Ghi chú
1
Hồng
47
145
2
Nguyễn
70
210
Họ gốc
3
Huỳnh
14
80
4
Phạm
6
30
5
Hồ
6
40
Theo họ cha hoặc mẹ là
người dân tộc Kinh
6
Trần
5
25
7
Đặng
1
4
8
Hà
1
4
9
Ngô
1
6
Trước kia, cộng đồng người Chơro ở Lý Lịch cũng cư trú
theo hình thức đại gia đình, gồm nhiều thế hệ sinh sống trong
một nhà dài, có nhà dài hàng trăm mét, chia thành nhiều gian,
mỗi gian là một gia đình, gia đình nào đông người thì ở 2 - 3
gian. Mỗi dòng họ có từ 4 đến 5 nhà dài, đứng đầu mỗi dòng
họ là trưởng họ. Trưởng họ là người có vai trò rất lớn trong việc
29

4 Pages 31-40

▲back to top

4.1 Page 31

▲back to top
BẢO TÀNG ĐỒNG NAI
gánh vác các công việc của dòng tộc, đồng thời, cũng là người
có uy tín và là một tấm gương cho tất cả mọi người trong họ
noi theo. Những quyết định mà trưởng họ đưa ra thường được
mọi người thực hiện theo, tất cả công việc lớn nhỏ trong dòng
họ đều được thông qua, tham vấn ý kiến của trưởng họ trước
khi tiến hành. Trưởng họ có trách nhiệm dạy dỗ và truyền thụ
cho các thế hệ con cháu trong dòng họ những tập tục truyền
thống của người Chơro, những kinh nghiệm trong lao động sản
xuất và cả những điều cấm kỵ mà tất cả các thành viên trong
cộng đồng không được vi phạm, các hình thức bị xử phạt nếu vi
phạm. Ngoài trách nhiệm gánh vác công việc của dòng họ, mỗi
trưởng họ còn có nghĩa vụ cùng với già làng bàn bạc giải quyết
những công việc chung trong cộng đồng.
Ngoại hôn dòng họ là nguyên tắc bắt buộc đối với cả nam
và nữ được duy trì từ xưa tới ngày nay. Mọi thành viên trong
dòng họ đều có tinh thần cộng đồng, đoàn kết, gắn bó và không
có sự phân biệt đối xử giàu nghèo. Các việc đại sự (cưới hỏi,
tang ma, dựng nhà...) của các gia đình đều được cả họ chung
sức giúp đỡ tận tình như: góp gạo, rượu, gà, vịt, heo... Trong
cộng đồng người Chơro ở ấp Lý Lịch 1 mối quan hệ giữa các
dòng họ với nhau luôn hòa thuận, gắn bó và thường không có
xảy ra xung đột, tranh chấp. Trước dây, mỗi dòng họ tuy cư trú
cách xa nhau, có khi xa cách một quả đồi nhưng mọi người vẫn
thường quan lại trò chuyện, giao lưu với nhau, ngày tết cúng
Yang các nhà dài mời nhau tham dự, chung vui; khi một dòng
họ nào đó có người vừa chết, nghe tiếng cồng chiêng báo tin tất
cả các dòng họ còn lại trong cộng đồng sẽ tập trung sức người,
sức của đến đến giúp đỡ và chia buồn với gia chú.
Trong vài thập niên trở lại đây, đời sống của cộng đồng
30

4.2 Page 32

▲back to top
Văn hóa làng Chơro Lý Lịch
người Chơro ở ấp Lý Lịch đã dần thay đổi, nhất là trong hình
thức cư trú của đồng bào đã không còn duy trì những đại gia
đình trong các nhà dài (những gia đình nhiều thế hệ) mà thay
thế bằng hình thức tiểu gia đình được xác lập và trở thành phổ
biến. Nhưng trong mối quan hệ họ hàng của người Chơro ở
Lý Lịch vẫn duy trì sự đoàn kết, chặt chẽ do tính huyết thống
quy định. Việc hai người trong họ không được kết hôn với nhau
vẫn là điều tuyệt đối cấm kỵ trong dòng họ và cộng đồng. Vai
trò, vị trí của trưởng họ tuy không còn được đề cao như xưa
nhưng vẫn là người đại diện cho dòng họ tham gia những công
việc chung trong cộng đồng và được mọi người coi trọng. Ngày
nay, cũng do thay đổi hình thức cư trú mà ngoài quan hệ dòng
họ thì quan hệ hàng xóm, láng giềng cũng trở nên quan trọ - Ig
trong đời sống xã hội của người Chơro.
2.4. Mối quan hệ giữa người Chơro xã Phú Lý với các dân
tộc khác
Từ xa xưa cho đến ngày nay, cộng đồng người Chơro luôn
có mối quan hệ hòa hảo, đoàn kết, không khép kín trong cộng
đồng mà luôn rộng mở giao lưu với các cộng đồng dân tộc anh
em khác. Theo những người cao tuổi trong cộng đồng cho biết,
người Chơro vốn bản tính hiền lành, ưa hòa bình, ổn định và
không bao giờ có xảy ra xung đột trong cộng đồng với nhau
cũng như sự xung đột sắc tộc hay tranh giành lãnh thổ với bất
kỳ một tộc người nào khác. Vì vậy, mà trước kia tổ tiên của họ
đã liên tục phải chuyển cư để tránh xa những vùng đất đang là
địa bàn tranh chấp của các tộc người anh em khác với nhau.
Mối quan hệ của người Chơro với các tộc người anh em là
những tộc người bản địa như: Mạ, Xtiêng, Cơ ho đã được hình
thành từ lâu đời, thể hiện trên nhiều mặt lịch sử và văn hóa.
31

4.3 Page 33

▲back to top
BẢO TÀNG ĐỔNG NAI
Đây là mối quan hệ tương đối hòa hợp và gắn bó do có cùng
lịch sử cu’ trú lâu đời và cùng đoàn kết trải qua bao thảng trầm,
biến cố của lịch sử (chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai...) trên
mảnh đất này để tồn tại và phát triển cộng đồng đến ngày nay.
Chính vì những mối quan hệ hữu hảo ấy đã tạo nên một hình
thái cư trú xen kẽ cũng như sụ’ giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa
cộng đồng người Chơro ở ấp Lý Lịch 1 với các dân tộc anh em
ngày càng được phát triển và mở rộng. Mối quan hệ hòa hợp,
gắn bó ấy của người Chơro còn được thể hiện thông qua tính
tương đồng trên mọi lĩnh vụ'c đời sống xã hội từ phương thức
sản xuất đến phong tục, tín ngưỡng... Cụ thể, các tộc người đều
có cùng một phương thức canh tác nương rẫy trên vùng đồi
núi thấp; trong tín ngưỡng của các dân tộc đều gọi các vị thần
là Yang, có niềm tin vào các vị thần, đều có tục cúng thần và lễ
nghi, đều có chung qua niệm về sự sống và cái chết...
Từ khi người Kinh chuyển cư vào khai phá vùng đất Biên
Hòa - Đồng Nai thì mối quan hệ của hai tộc người cũng bắt đầu
hình thành và phát triển. Do cộng cu’ trên trên một vùng lãnh
thổ đã làm cho sự giao lưu và tiếp biến văn hóa của nhau ngày
càng phát triển sâu rộng. Ngày nay, trong mối quan hệ VỚI các
dân tộc anh em thì mối quan hệ với người Kinh là tương đối
phổ biến và gần gũi, có ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống
xã hội. Sự giao lưu, tiếp biến văn hóa diễn ra toàn diện trên mọi
lĩnh vực trong đời sống của đồng bào, thể hiện thông qua quan
hệ hôn nhân rất phổ biến được cộng đồng chấp nhận, người
Chơro đặt tên họ theo người Kinh, kiến trúc nhà ở giống người
Kinh, trang phục, trang sức và lễ tết cũng dần theo người Kinh,
nói và viết theo chữ Quốc ngữ...
52

4.4 Page 34

▲back to top
Văn hóa làng Chơro Lý Lịch
Chính truyền thống vãn hóa và tâm lý cộng đồng không
khép kín mà luôn rộng mở hòa hiệp để giao lưu với bên ngoài
đà tạo cho cộng đồng dân tộc Chơro trên địa bàn tỉnh Đồng
Nai nói chung, cộng đồng người Chơro ở ấp Lý Lịch 1 nói riêng
những điều kiện và lợi thế để vươn lên trong mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội ngày nay.
2.5. Vấn đề dân sô và phân bô dân cư
So với một số cộng đồng dân tộc Chơro sinh sống trên địa
bàn tỉnh Đồng Nai, cộng đồng Chơro ở ấp Lý Lịch 1, xã Phú Lý
sống tương đối tập trung và số dân trong cộng đồng luôn tăng
trưởng trong những năm qua. Theo số liệu thông kê của Ban
Dân tộc tỉnh Đồng Nai năm 2006 người Chơro của ấp chỉ có
109 hộ/447 nhân khẩu thì đến năm 2013 số dân đã tăng lên 147
hộ/512 nhân khẩu chiếm tỷ lệ 79% người Chơro ở xã Phú Lý và
56% người Chơro ở huyện Vĩnh Cửu.
Cùng sinh sống trên địa bàn ấp Lý Lịch 1 với người Chơro
còn có người Kinh, Hoa, Khmer, Tày. Tuy nhiên mức độ xen cư
của những dân tộc này với người Chơro là khá thấp (xem bảng
thống kê 2.5).
Bảng 2.5: Thống kếsô dán DTTS ở ấp Lý Lịch 1, Phú Lý
năm 2013
STT
Tên dân tộc
1
Chơro
2
Hoa
3
Khmer
4
Tày
Số hộ
147
1
3
1
Số nguôi
512
7
11
6
Tỷ lệ (%)
95%
1,60%
2%
1,40%
55

4.5 Page 35

▲back to top
BẢO TÀNG ĐỒNG NAI
Sau khi thực hiện chính sách định canh, định cu’ của Đảng
và Nhà nuớc, đồng bào Chơro tập trung về ấp Lý Lịch 1, xã Phú
Lý cư trú ổn định, trong cộng đồng không còn tình trạng di dân
tự do. Trong mười năm trở lại đây cả ấp chỉ duy nhất có một
gia đình ChOro chuyển về sinh sống tại tỉnh Bình Phước. Ngoài
ra, có một sô ít con em của đồng bào được học hành đỗ đạt, có
công việc ổn định và lập nghiệp sinh sống ở những địa phương
khác; một số thanh niên đến tuổi lập gia đình và chuyển về quê
chồng, quê vọ' sinh sống... Tuy nhiên, vẫn không có những biến
đổi lớn về dân số do tình trạng di dân tự do trong cộng đồng
đồng bào Chơro ở ấp Lý Lịch.
2.6. Đặc điểm kinh tê của tộc người Chơro xã Phú Lý
2.6.1. Các hoạt động kinh tê truyền thống
- Săn bắt
Trước kia, hoạt động săn bắt giữ vai trò quan trọng trong
đời sống kinh tê của đồng bào Chơro ở ấp Lý Lịch 1. Săn bắt
được xem là một hình thức lao động hết sức hấp dẫn đối với
đàn ông Chơro. Hoạt động săn bắn vừa mang mục đích bảo vệ
nương rẫy, vừa bổ sung thêm nguồn thực phẩm cho gia đình
và dân làng. Hầu hết những chàng trai Chơro từ khi còn nhỏ đã
được chỉ dẫn, huấn luyện các kỹ năng săn bắt từ những người
lớn tuổi nhiều kinh nghiệm trong cộng đồng.
Dụng cụ săn bắt của người Chơro ở ấp Lý Lịch 1 trước đây
gồm có: Ná được làm từ những thân cây, vỏ cây rừng. Mũi tên
bắn ná được làm bằng cây lồ ô, đầu mũi tên có tẩm thuốc độc
và tên ná thường được chia thành nhiều loại để sử dụng gồm
có tên bắn voọc, bắn cheo, bắn chim sóc, bắn nai, voi, heo...
54

4.6 Page 36

▲back to top
Văn hóa làng Chơro Lý Lịch
Đàn ông lớn tuổi trong cộng đồng Chơro hầu như ai cũng là
được ná, tên. Cây lao đầu bịt sắt dài gần hai thước khi đi săn
người Chơro thường đem theo để tự vệ và khi gặp thú rừng có
thể phóng lao bắt thú. Ngoài ra, dụng cụ sãn bắt của đồng bào
ở đây còn có gùi đi săn và các loại bẫy như: bẫy đập, bẫy kò ke,
bẫy băng ên, bẫy sập, bẫy thọng lọng...
Công việc săn bắt của đồng bào thường được tiến hành
vào lúc chiều tối. Mùa săn thường bắt đầu vào mùa khô khi các
loài thú vật tập trung ở những khu vực có đồng cỏ, sông suối,
ao hồ. Sản phẩm trong hoạt động săn bắt của đồng bào cũng
rất đa dạng, phong phú bao gồm các loài như: nhím, cheo, nai,
mễn, heo rừng, voọc, khỉ... Trước kia, mỗi khi săn được những
con thú lớn người Chơro thường tổ chức cúng thần Rừng (Yang
Bri) để cảm ơn thần đã cho thực phẩm. Con thú sãn được sẽ
được giết thịt cho tất cả mọi người trong cộng đồng cùng ăn
uống và chia đều phần còn lại cho tất cả các gia đình trong cộng
đồng. Sau khi ăn thịt những con thú săn được người Chơro lấy
xương hàm con thú treo trong nhà để kỷ niệm và nhằm chứng
tỏ thành tích của mình.
Hiện nay, do phạm vi rừng ngày càng thu hẹp, nhà nước
quản lý chặt chẽ hoạt động săn bắt thú rừng, cho nên việc săn
bắn của đồng bào Chơro ở ấp Lý Lịch 1 dần được loại bỏ và
không còn được xem là hoạt động kinh tế quan trọng nữa. Việc
làm ná, tên chỉ để biểu dương sức mạnh của đàn ông trong
cộng đồng và phục vụ cho các đợt hội thao thể dục thể thao
đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện, tỉnh do các
cấp chính quyền tổ chức.
55

4.7 Page 37

▲back to top
BẢO TÀNG ĐỒNG NAI
- Hái lượm
Trước kia, trong hoạt động khai thác kinh tê tự nhiên của
đồng bào Chơro ở ấp Lý Lịch 1, hoạt động hái lượm đóng vai trò
quan trọng nhất. Nếu hoạt động săn bắt của đồng bào chỉ mang
tính thời vụ thì hoạt động hái lượm lại diễn ra quanh năm, đây
là công việc thường xuyên và phổ biến của những người phụ
nữ trong cộng đồng. Để tiến hành công việc hái lượm đồng bào
chỉ dùng các công cụ đơn giản như dao, gậy, chà gạc, thuổng,
cuốc để thu lượm nguồn sản lượng phong phú và đa dạng từ
rừng về bổ sung cho nguồn lương thực thực phẩm của mỗi
gia đình và trong toàn cộng đồng. Sản phẩm chính trong hoạt
động hái lượm của đồng bào ở đây phổ biến nhất là các loại củ
như: củ mài (củ chụp), cú nần, khoai lang, củ mỳ. Đây là những
loại sản phẩm bổ dưỡng có hàm lượng tinh bột cao, sản lượng
thu hoạch lớn và có thể trữ lại sử dụng trong cả một thời gian
dài để khi cần thiết sẽ bổ sung hoặc thay thế cho gạo và bắp
(ngô) khi hai nguồn lương thực chính này không đủ dùng trong
gia đình. Các loại củ khỉ khai thác được nhiều cũng trở thành
những món hàng hóa đồng bào trao đổi để lấy những hàng hóa
thiết yếu khác. Ngoài khai thác các loại củ rừng, việc khai thác
rau, quả rừng củng được đồng bào hết sức chú trọng, đó là các
loại rau cung cấp cho những bữa ăn hàng ngày như: rau dền,
rau bếp, rau ngót, các loại nấm, đọt mây và các loại quả rừng
như: chuối, ổi, trái ươi...
Hiện nay, diện tích rừng ngày càng thu hẹp, việc khai thác
phổ biến trong suốt một thời gian dài nên các loại rau, củ, quả
ngày càng hiếm dần đi. Mặc dù vậy, hoạt động hái lượm của
đồng bào Chơro ở Lý Lịch vẫn còn diễn ra do đồng bào sinh
sống ngay bìa rừng nên tập quán cũ vẫn còn định hình. Tuy
36

4.8 Page 38

▲back to top
Văn hóa làng Chơro Lý Lịch
nhiên, việc khai thác kinh tế tự nhiên này hiệu quả rất thấp, chỉ
do một số người trong làng đảm trách, họ chủ yếu vào rừng hái
rau, đọt mây, lá môn rừng, tìm lá thuốc chữa bệnh. Bên cạnh
đó, ngày nay điều kiện canh tác nương rẫy của đồng bào cũng
phát triển hơn, sản lượng thực thu hoạch được cũng khá cao và
ổn định nên hoạt động hái lượm không còn đóng vai trò chủ
đạo như trước.
- Khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác
Ngoài hoạt dộng sãn bắt, hái lượm truyền thống để khai
thác bổ sung thêm nguồn lương thực, thực phẩm cho đời sống
hàng ngày của cộng dồng, người Chơro ở ấp Lý Lịch 1 còn khai
thác rất nhiều những nguồn lợi tự nhiên khác từ rừng. Theo
kết quả điều tra của Khu dự trữ sinh quyển Cát Tiên, đồng bào
Chơro ở ấp Lý Lịch, xã Phú Lý khai thác và sử dụng trên 265
loài lâm sản ngoài gỗ khác nhau, trong đó đã định danh được
181 loài, có thê chia ra theo từng nhóm tiêu biểu sau: khai thác
dùng trong xây dựng 16 loài như: lồ ô, mây, lá trung quân, lá
mây nước...; khai thác làm đồ dùng sinh hoạt hàng ngày 12 loài:
cây lùng làm chiếu, mây làm gùi, dây gấm làm dây ná,...; khai
thác làm dược liệu 112 loài dùng để chữa trị các loại bệnh thô-
ng thường chống côn trùng, rết cắn như: trái ươi trị sâu răng,
cây tam trị đau bụng tiêu chảy,...; khai thác làm men rượu cần
31 loài khác nhau: cây như sâm đất, sâm cau, sa nhân,...; khai
thác dùng làm cây cảnh và trang trí có khoảng 30 loài: chim
rừng, phong lan, cây lộc vừng, cây mai...; khai thác làm thực
phẩm 120 loài, ngoài những thực khai thác thường xuyên của
hoạt động săn bắt, hái lượm ra đồng bào còn khai thác trái cây
ươi, mật ong rừng, đánh bắt cá ỏ sông, suối, ao hồ.
57

4.9 Page 39

▲back to top
BẢO TÀNG ĐỒNG NAI
Trong tất cả những loài khai thác từ rừng của người Chơro
ở đây thì hoạt động khai thác dầu chai và mật ong rừng được
xem là những nghề thủ công đặc biệt của đồng bào từ bao đời
nay. Cây dầu mọc rất nhiều ở trong rừng, là nguồn cung cấp
nhựa dầu phong phú. Sản phẩm này được dùng để quét nón
lá, trộn với sơ gai trét ghe thuyền, buôn bán trao đổi với người
Việt. Bên cạnh đó hoạt động khai thác mật ong rừng của người
Chơro cũng khá phổ biến. Vào mùa các loài hoa rừng nở cũng
là lúc ong vừa chín mật, người Chơro sẽ đi lấy mật và tầng ong
non trong rừng. Nguồn lợi tự nhiên này rất phong phú và mang
lại nguồn thu nhập cao cho đồng bào người Chơro từ bao đời
nay. Mật ong rừng lấy về được sử dụng trong gia đình, làm
thuốc, trao đổi buôn bán... sáp ong được dùng làm đèn thắp
sáng trong lễ hội Sayangva. Hiện nay, do lượng người khai thác
quá nhiều, làm cạn kiệt nguồn mật. Hoạt động khai thác này
chỉ còn rất ít hộ dân tộc Chơro ở ấp Lý lịch, xã Phú Lý duy trì.
2.6.2. Chăn nuôi
Từ xưa việc chăn nuôi của người Chơro ở ấp Lý Lịch 1 chỉ
mang tính tự túc tự cấp trong cộng đồng. Các loại gia súc, gia
cầm thường được đồng bào chăn nuôi là trâu, bò, lợn, dê, ngựa,
gà, vịt, ngan, ngỗng... hầu hết các con vật này được nuôi theo
hình thức thả rông. Trâu, bò, ngựa được nuôi nhiều để tận dụng
sức kéo trong sản xuất nông nghiệp và làm phương tiện vận
chuyển đi lại của đồng bào. Đây cũng là những con vật có giá trị
dùng để trao đổi vật dụng quý hiếm như chiêng, ché và làm của
hồi môn, phạt vạ; heo, dê được chăn nuôi chủ yếu nhằm phục
vụ trong các nghi lễ của cộng đồng, dòng họ và gia đình; gà, vịt
được nuôi ở hầu khắp các hộ gia đình là vật cúng trong các nghi
lễ nhỏ, dùng thết đãi bạn bè, họ hàng và cũng là vật nuôi phổ
38

4.10 Page 40

▲back to top
Văn hóa làng Chơro Lý Lịch
biến dùng để trao đổi các vật dụng thường xuyên, các nhu yếu
phẩm hàng ngày như: gạo, muối, xoong nồi, y phục...
Hiện nay, trong chăn nuôi nuôi gia súc, gia cầm của đồng
bào ChOro cũng làm chuồng trại giống như người Kinh. Tuy
nhiên, chuồng trại chăn nuôi của đồng bào là tương đối đơn
giản, chuồng nuôi gia súc như heo, dê được làm bằng thân cây
tre có 4 cọc đóng trực tiếp xuống đất; vách xung quanh 4 bên
được dùng tre cột ngang; trên mái được dùng cỏ tranh, lá hoặc
che tôn. Chuồng nuôi gia cầm chủ yếu là gà thường được làm
bằng cây, có diện tích nhỏ, dạng nhà sàn. Đa số các hộ gia đình
đồng bào Chơro ở ấp Lý Lịch 1 đều nuôi bò (theo dự án vay
vốn nuôi bò của nhà nước) gia đình ít nhất nuôi một con, gia
đình nào nhiều nuôi cả chục con, ban ngày các gia đình đều có
người dẫn dắt đàn bò đi chăn ở bìa rừng, tối về đều có chuồng
trại nhốt riêng trong vườn. Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm của
đồng bào Chơro ấp Lý Lịch không còn nhằm mục đích sử dụng
sức kéo như trước kia mà chính là phát triển kinh tế gia đình1.
2.6.3. Trồng trọt
- Canh tác nương rẫy
Trước đây đồng bào Chơro ở ấp Lý Lịch 1 trồng trọt theo
lối du canh. Trải qua quá trình canh tác nương rẫy lâu dài người
Chơro tích lũy được nhiều kinh nghiệm từ khâu chọn đất đến
khâu thu hoạch. Đất rẫy thường chỉ tươi tốt từ 2 đến 3 vụ đầu
tiên sau đó bạc màu, canh tác không còn hiệu quả, cho năng
suất thu hoạch không cao, đồng bào sẽ bỏ đất di chuyển đi nơi
1 Theo thống kê của địa phương, năm 2013: tổng số đàn gia súc, gia cầm
của ấp Lý Lịch 1 là 3.279 con. Trong đó, bò 79 con, heo và dê 500 con, gà vịt
2.700 con.
59