Lich su Dang bo phuong An Hoa

Lich su Dang bo phuong An Hoa

1 Pages 1-10

▲back to top

1.1 Page 1

▲back to top

1.2 Page 2

▲back to top
LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ PHƯỜNG AN HÒA
(1975 -2020)

1.3 Page 3

▲back to top

1.4 Page 4

▲back to top
10. Đồng chí Đậu Thị Mỹ Long - Đàng ủy viên, Bí thư
Chi bộ Trường Tiểu học An Hòa: thành viên
11. Đồng chí Lê Thị Ngọc Thúy - Công chức tài chính -
kế toán: thành viên
BAN BIÊN SOẠN
1. Đồng chí Phạm Thị Hoa - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch
Hội đồng nhân dân phường: Trưởng ban
2. Đồng chí Vũ Hoài Nam - Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ
tịch ủy ban nhân dân phường: Phó ban
3. Đồng chí Trần Hoàng Lộc - ủy viên Thường vụ,
Thường trực Đảng ủy phường: Phó ban Thường trực
4. Đồng chí Đào Xuân Hồng - Đảng ủy viên, Phó Chủ
tịch ủy ban nhân dân phường: thành viên
5. Đồng chí Đàm Thị Phương Dung - Phó Ban Tuyên
giáo Đảng ủy phường: thành viên
Có sự đóng góp của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Nai;
Ban Tuyên giáo Thành ủy Biên Hòa cùng các nhân chứng
sống, làm việc trên địa bàn phường An Hòa.

1.5 Page 5

▲back to top

1.6 Page 6

▲back to top
^4
£Ì>3ĨJ'Ị‘I
L50Ỉ-S.
THÀNH ỬY BIÊN HÒA
BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ PHƯỜNG AN HÒA
LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ
PHƯỜNG AN HÒA
(1975 - 2020)
THƯVIỆKrtaaỒNGNAI
SÁCH TẶNG
2CZ6ÍĨ>CIVV 002125
NHÀ XUẤT BẢN ĐỒNG NAI

1.7 Page 7

▲back to top
CHÌ ĐẠO THỰC HIỆN &
CHỊU TRÁCH NHĨỆM NỘI DUNG
Đảng ủy phường An Hòa
BAN CHÌ DẠD
1. Đồng chí Phạm Thị Hoa - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch
Hội đồng nhân dân phường: Trưởng ban
2. Đồng chí Vũ Hoài Nam - Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ
tịch ủy ban nhân dân phường: Phó ban
3. Đồng chí Trần Hoàng Lộc - ủy viên Thường vụ,
Thường trực Đảng ủy phường: Phó ban Thường trực
4. Đồng chí Nguyễn Lý Việt Thống - Đảng ủy viên, Phó
Chủ tịch Hội dồng nhân dân phường: thành viên
5. Đồng chí Đào Xuân Hồng - Đảng ủy viên, Phó Chủ
tịch ủy ban nhân dân phường: thành viên
6. Đồng chí Nguyễn Thị Thụ Hà - Đảng ủy viên, Chủ
tịch UB. MTTQ Việt Nam phường: thành viên
7. Đồng chí Trần Ụạc ỵiệt - Đảng ủy viên, Phó Chủ
nhiệm UBKT Đảng liy phường: thành viến
8. Đồng chí Nguyễn Tấn Tài - Đảng ủy viên, Chỉ huy
trưởng BCHQS phường: thành viên
9. Đồng chí Lương Thị cẩm Nhung - Đảng ủy viên,
Chủ tịch Hội Nông dân phường: thành viên

1.8 Page 8

▲back to top
10. Đồng chí Đậu Thị Mỹ Long - Đàng ủy viên, Bí thư
Chi bộ Trường Tiểu học An Hòa: thành viên
11. Đồng chí Lê Thị Ngọc Thúy - Công chức tài chính -
kế toán: thành viên
BAN BIÊN SOẠN
1. Đồng chí Phạm Thị Hoa - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch
Hội đồng nhân dân phường: Trưởng ban
2. Đồng chí Vũ Hoài Nam - Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ
tịch ủy ban nhân dân phường: Phó ban
3. Đồng chí Trần Hoàng Lộc - ủy viên Thường vụ,
Thường trực Đảng ủy phường: Phó ban Thường trực
4. Đồng chí Đào Xuân Hồng - Đảng ủy viên, Phó Chủ
tịch ủy ban nhân dân phường: thành viên
5. Đồng chí Đàm Thị Phương Dung - Phó Ban Tuyên
giáo Đảng ủy phường: thành viên
Có sự đóng góp của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Nai;
Ban Tuyên giáo Thành ủy Biên Hòa cùng các nhân chứng
sống, làm việc trên địa bàn phường An Hòa.

1.9 Page 9

▲back to top

1.10 Page 10

▲back to top
Loi nổi đều,
Đồng Nai là vùng đất dược khai phá sớm ở Nam Bộ.
Trong đó, An Hòa - Bến Gỗ là làng cổ sớm có người Việt
đến khai phá, xây dựng và sinh sống gắn liền với vùng đất
Biên Hòa - Đồng Nai hơn 320 năm.
Trong hai thời kỳ kháng chiến, An Hòa có vị trí chiến
lược vô cùng quan trọng: tiếp giáp cãn cứ Long Bình là
kho chứa bom đạn, đảm bảo hậu cần cho lực lượng quân
viễn chinh Mỹ ở miền Nam; có hệ thống sông rạch chằng
chịt với 45km nối liền sông Đồng Nai, với các dây đồi núi
liên kết có rừng bao phủ. Với truyền thống đấu tranh cách
mạng kiên cường trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại
xâm, năm 2000, An Hòa đã được Nhà nước phong tặng
danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Trong giai đoạn xây dựng và phát triển từ năm 1975
đến năm 2010, chính quyền, nhân dân An Hòa dưới sự
lãnh đạo của Đảng bộ đã nỗ lực vượt qua mọi khó khăn,
thách thức, xứng dáng là lá cờ đầu trong công cuộc công
nghiệp hóa và hiện đại hóa của huyện Long Thành. Nãm
2010, An Hòa được sáp nhập về thành phô Biên Hòa theo
quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc mở rộng địa
giới hành chính. Sau 10 nãm sáp nhập về thành phố Biên

2 Pages 11-20

▲back to top

2.1 Page 11

▲back to top
Hòa, cơ cấu kinh tê của địa phương thay đổi nhanh theo
hướng tăng tỉ trọng công nghiệp - dịch vụ, giảm dần tỉ
trọng nông nghiệp. Cùng với sự phát triển về kinh tế, cơ sở
hạ tầng, nhất là hệ thống giao thông, điện, đường, trường
học cũng ngày càng dược hoàn thiện đồng bộ.
Tháng 7/2019, xâ An Hòa chính thức trở thành phường
An Hòa. Đây không chỉ là thành tựu nổi bật trong giai đoạn
hội nhập và phát triển mà còn mở ra những điều kiện rất
thuận lợi đê An Hòa tiếp tục phát triển kinh tê - xã hội
trong những giai đoạn tiếp theo.
Với tinh thần "Uống nước nhớ nguồn”, phát huy
truyền thống cách mạng cũng như bảo tồn, giữ vững và
tiếp tục phát triển những giá trị tốt đẹp của vùng đất Bến
Gỗ - An Hòa anh hùng, Ban Chấp hành Đảng bộ phường
tổ chức biên soạn quyển "Lịch sửĐảng bộ phườngAn Hòa
(1975 - 2020)’’. Trong quá trình biên soạn, Ban Biên soạn
đã tham khảo thêm một sô tư liệu như Láng Bến Gỗ xưa
và nay (PGS - PTS Diệp Đình Hoa, Bảo tàng Đồng Nai) và
tư liệu Thông chí xã An Hòa (Làng Bến Gỗ) của nhà nghiên
cứu Lý Việt Dũng và một số tư liệu khác.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tập hợp tư liệu,
chúng tôi còn nhận được sự chỉ đạo tận tình, sâu sát của
Ban Thường vụ Huyện ủy Long Thành, Ban Thường vụ
Thành ủy Biên Hòa, đặc biệt là sự dóng góp quý báu của
các đồng chí cách mạng lão thành, các đồng chí đã và đang
giữ những chức vụ chủ chốt trong chính quyền, Đảng và
các đoàn thể.

2.2 Page 12

▲back to top
Mặc dù đã cô gắng trong công tác sưu tầm và hệ thống
hóa, xác minh, thẩm định tư liệu, song vì thời gian quá lâu,
các nguồn tư liệu, các vãn bản, nghị quyết thành văn bị
thất lạc vì nhiều lý do, nhất là thời kỳ đầu mới thành lập và
khoảng trước năm 1986 nên công trình chưa thể phản ánh
đầy dủ và toàn diện những thành tựu mà Chi bộ, Đảng bộ
đã đạt được trong 45 năm qua. Đảng ủy phường An Hòa
rất mong nhận được những ý kiến góp ý chân thành của
độc giả để Ban Chỉ đạo và Ban Biên soạn tiếp tục ghi nhận
và chỉnh sửa, bổ sung khi có điều kiện tái bản.
Nhân dịp cuốn “Lịch sửĐảngbộ phườngAn Hòa (1975
- 2020)" ra mắt, Ban Chấp hành Đảng bộ xin chân thành
cám ơn Huyện ủy Long Thành, Thành ủy Biên Hòa, Ban
Tuyên giáo Thành ủy, Văn phòng Thành ủy; cán bộ, đảng
viên và nhân dân đã dóng góp, giúp đỡ Đảng ủy phường
hoàn thành công trình lịch sử đầy ý nghĩa này.
BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ PHƯỜNG AN HÒA

2.3 Page 13

▲back to top

2.4 Page 14

▲back to top
MỞ ĐẦU
AN HÙA - VÙNG ĐÁT, CON NGIÍ0I TRUYỀN THỐNG
I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
An Hòa có lịch sử hình thành từ lâu đời, xưa kia là
trung tâm của làng Bến Gỗ - một vùng đất duợc khai phá
sớm nhất Biên Hòa - Đồng Nai.
Địa bàn phường An Hòa trước đây chính là thôn An
Hòa, thuộc tổng Long Vĩnh Thượng, có từ rất sớm, là vùng
đất có cư dân sinh sống và khai phá từ đầu thế kỷ XIX. Theo
Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn:
Năm Mậu Dần 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Chưởng
cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất phương Nam.
Ông đă sắp xếp lại bộ máy quản lý hành chính và dật miền
đất mới (nay là Nam BỘI thành phủ Gia Định gồm Tân
Bình (ở phía Tây sông Sài Gòn, nay là Thành phô Hồ Chí
Minh) với dinh Phiên Trấn và huyện Phước Long (ở phía
Đông sông Sài Gòn, nay là tỉnh Đồng Nai) với dinh Trấn
Biên. Huyện Phước Long gồm bốn tổng: Phước Chánh,
Bình An, Long Thành và Phước An. Đặt dinh Trấn Biên tại
huyện Phước Long.

2.5 Page 15

▲back to top
Năm 1808, Nguyễn Ánh cho đổi Trấn Biên dinh thành
trấn Biên Hòa. Nâng huyện Phước Long lên thành phủ
Phước Long. Theo đó 4 tổng của huyện Phước Long nâng
lên thành huyện. Tổng Long Thành trở thành huyện Long
Thành. Huyện Long Thành lúc bây giờ gồm 4 tổng: Long
Vĩnh Thượng, Long Vĩnh Hạ (tức tổng Bình Lâm), Thành
Tuy Thượng, Thành Tuy Hạ.
Đến nãm 1820, huyện Long Thành còn lại 2 tổng Long
Vĩnh và Thành Tuy với 63 thôn, phường. Năm 1836, vua
Minh Mạng cho lập dịa bạ các tỉnh Nam Bộ, huyện Long
Thành gồm có 4 tổng (Long Vĩnh Thượng, Long Vĩnh Hạ,
Thành Tuy Thượng, Thành Tuy Hạ) với 53 thôn, ấp, xâ,
trong đó có thôn An Hòa thuộc tổng Long Vĩnh Thượng là
An Hòa ngày nay.
Năm 1863, sau khi dánh chiếm Biên Hòa và ba tỉnh
miền Đông, thực dân Pháp giữ lại các đơn vị hành chính
của nhà Nguyễn. Huyện Long Thành gồm 4 tổng(", 58 làng,
xã. Năm 1867, huyện Long Thành đổi thành sở Tham biện
Long Thành. Đến 1891, thực dân Pháp giải thể sở Tham
biện và nhập 3 tổng Thành Tuy Thượng, Thành Tuy Hạ và
Long Vĩnh Thượng vào hạt Thanh tra Biên Hòa, còn tổng
Long Vĩnh Hạ thuộc về hạt Thanh tra Sài Gòn.
Nãm 1925, quận Long Thành lại thuộc tỉnh Biên Hòa
với 4 tổng, 43 làng. Theo thời sự cẩm nang nãm 1939, quận
Long Thành gồm 3 tổng: Long Vĩnh Thượng, Thành Tuy
1 Long Vĩnh Thượng, Long Vĩnh Hạ, Thành Tuy Thượng và
Thành Tuy Hạ.

2.6 Page 16

▲back to top
Lích sử Dáng bộ phường An Hòa (1975-2020)
Thượng và Thành Tuy Hạ, trong đó xã An Hòa thuộc tổng
Long Vĩnh Thượng.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, từ nãm 1948,
xã An Hòa thuộc huyện Long Thành, tỉnh Biên Hòa; từ
tháng 5/1951 - 7/1954 thuộc tỉnh Bà Rịa - Chợ Lớn. Cuối
năm 1960, tách một phần huyện Long Thành thành lập
huyện Nhơn Trạch. An Hòa là một trong 17 xã, thị trấn của
huyện Long Thành.
Từ tháng 10/1966, huyện Long Thành và Nhơn Trạch
nhập lại thành huyện Long Thành, tỉnh Biên Hòa; từ tháng
10/1967 - 5/1971, huyện Long Thành thuộc Phân khu 4; từ
tháng 5/1971 - 10/1972, huyện Long Thành lại tách thành
huyện Long Thành và Nhơn Trạch thuộc Phàn khu Bà Rịa.
Sau ngày 30/4/1975, An Hòa thuộc huyện Long
Thành, tỉnh Biên Hòa. Từ tháng 1/1976, chính quyền
cách mạng quyết định hợp nhất tỉnh Biên Hòa, tỉnh Long
Khánh và tỉnh Phước Tuy thành tỉnh Đồng Nai. Theo đó,
An Hòa thuộc huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Từ ngày
12/2/1987, chính quyền hợp nhất hai xã An Hòa và Long
Hưng thành xã Hòa Hưng theo Quyết dịnh 16-HĐBT. Đến
ngày 1/9/1994 chia lại xã Hòa Hưng thành hai xã cũ: An
Hòa và Long Hưng.
Ngày 05/02/2010, Chính phủ đă ban hành Nghị quyết
số 05/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện
Long Thành để mở rộng địa giới hành chính thành phố
Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Theo đó, toàn bộ 10.899,27ha
diện tích tự nhiên và 92.796 nhân khẩu của 4 xã: An Hòa,

2.7 Page 17

▲back to top
Long Hưng, Phước Tân và Tam Phước của huyện Long
Thành sẽ dược chuyển về thành phô Biên Hòa.
Ngày 1/7/2019, xâ An Hòa dược nâng lên thành
phường An Hòa theo Nghị quyết 694/NQ-UBTVQH14 ban
hành ngày 10/5/2019 của ủy ban Thường vụ Quốc hội.
II. ĐẶC ĐIỀM ĐỊA LÝ-Tự NHIÊN
Phường An Hòa nằm phía Nam thành phô Biên Hòa,
cách trung tâm thành phô 8km. Phía Đông giáp phường
Phước Tân; phía Tây giáp phường Long Bình Tân; phía
Nam giáp sông Đồng Nai và xã Long Hưng; phía Bắc giáp
Quốc lộ 51 và khu công nghiệp Biên Hòa 2. Phường An Hòa
dược chia thành 4 khu phố với 73 tổ nhân dân.
Tổng diện tích đất tự nhiên của phường là 921,42ha
với dân số 5.320 hộ/22.690 khẩu (Trong dó, thường trú là
4.674 hộ với 20.332 khẩu)(1). Dân tộc Kinh chiếm đông đảo,
kế đến là Hoa, Thái, Tày, Khơme và Mường.
Trên dịa bàn phường có nhiều kênh rạch nhỏ đổ ra
sông Đồng Nai. Địa hình có dạng thấp dần từ Bắc xuống
Nam, từ Đông qua Tây và chia thành hai dạng địa hình xen
kẽ nhau với những đặc điểm chủ yếu sau:
Dạng địa hình dồi núi thấp lượn sóng phân bố theo
hai dãy; cặp quốc lộ 51 và đồi Phước Khả, với tổng diện
tích 316ha (chiếm 36% diện tích toàn phường), cao dộ
trung bình biến đổi từ 2m đến lOm, dộ dốc từ 3 đến 5 độ,
1 Theo sô' liệu tháng 6/2020.

2.8 Page 18

▲back to top
Lịch sử Đáng bộ phường An Hòa (1975-2020)
rất thuận lợi cho việc tiêu - thoát nước, kết hợp với nền
móng tốt thích hợp cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng khu
công nghiệp và khu dân cư. Đa phần diện tích vùng này
chỉ thích hợp với các loại cây trồng cạn như hoa màu, cây
ãn quả.
Dạng địa hình bằng thấp ven sông phân bố dọc hai
bên bờ sông Bến Gỗ và sông Buông, diện tích khoảng
570ha (chiếm 64% diện tích toàn phường). Địa hình bằng
thấp bị chia cát bởi các rạch nhỏ chàng chịt nên thường bị
ngập khi thủy triều lên, do dó chỉ thích nghi với trồng lúa
nước. Do nền đất vùng này yếu nên việc xây dựng các cơ
sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông đường bộ rất khó khăn
và tốn kém.
Đất ở An Hòa được chia thành 4 nhóm chính là phù
sa, đất đen, đất xám và đất gley. Do diện tích dất phù sa
đa phần bị gley hóa (60%) nên nhìn chung đất đai ở đây
ít thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Đối với phần đất
có địa hình cao và kết cấu vững chắc khá thích hợp dê
phát triển phi nông nghiệp như xây dựng cơ sở hạ tầng,
giao thông...
Ngoài nước mưa, An Hòa có nguồn nước mặt chủ yếu
được cung cấp bởi các sông thuộc hệ thông sông Đồng
Nai. Theo số liệu quan trắc, trên sông Đồng Nai lưu lượng
trung bình 312m3/s, lưu lượng tháng cao nhất 1.083m3/s
(tháng 9). Chất lượng nước trong khu vực khá tốt, có thể sử
dụng nguồn nước mặt này phục vụ cho sinh hoạt và sản
xuất. Theo đánh giá của Liên đoàn Địa chất 08, nước ngầm

2.9 Page 19

▲back to top
trong phạm vi An Hòa khá dồi dào, căn cứ vào mức độ và
khả năng khai thác có thể chia thành 3 khu vực: khu vực
phía Tây chiều dày nước từ 30 - 90m, có thể khai thác tập
trung với lưu lượng mỗi lỗ khoan từ 500 - 1.000m3/ngày;
khu vực phía Bắc chiều dày tầng nước từ 20 - 40m, có thể
khai thác tập trung với lưu lượng mỗi lỗ khoan từ 500 -
1.000m3/ngày; khu vực phía Nam tầng nước mỏng nên lưu
lượng khai thác mỗi lỗ khoan chỉ đạt <100m3/ngày.
An Hòa nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới cận xích
đạo với hai mùa mưa - nắng rỗ rệt, nhiệt độ cao đều trong
năm, trung bình 27°c, là điều kiện đảm bảo cho các loại
cây trồng phát triển, dặc biệt là các loại cây trồng nhiệt đới.
Mùa mưa kéo dài 6 tháng (từ tháng 5 đến tháng 10), lượng
mưa trung bình khoảng 333mm/tháng chiếm 90% lượng
mưa cả năm, lượng bốc hơi thấp, gây ra các hiện tượng
xói mòn, rửa trôi mạnh. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến
tháng 4 năm sau, lượng mưa trung bình khoảng 25mm/
tháng, lượng bốc hơi cao (trung bình khoảng 112mm/
tháng) chiếm 65% lượng bốc hơi cả năm.
Chế độ thủy vãn của An Hòa chịu sự chi phối trực tiếp
của các yếu tố như: chê độ mưa nội vùng, chê độ thủy triều
biển Đông và chê độ điều tiết nước từ các công trình dầu
nguồn hệ thống sông Đồng Nai. Hầu hết các kênh rạch
chịu ảnh hưởng của chế độ bán triều không đều của biển
Đông, đâ tác động rất lớn tới khả năng tưới tiêu của vùng
đất bằng thấp cặp sông Bến Gỗ và sông Buông. Sau khi có
công trình thủy điện Trị An, tình trạng ngập úng vào mùa
mưa của An Hòa gần như dược khắc phục. Tuy nhiên, do

2.10 Page 20

▲back to top
SÁCHĨẬN.G ụch ;ử Dăng bộ phường An Hòa (1975-2020)
ảnh hưởng của địa hình, khả năng tiêu thoát nước một số
vùng trên địa bàn còn hạn chế, dẫn dến tình trạng ngập
úng cục bộ. An Hòa có hai nhánh sông lớn của hệ thống
sông Đồng Nai là sông Bến Gỗ chày theo ranh giới phía
Tây và sông Buông chảy theo ranh giới phía Nam. Từ
dòng chảy chính của hai sông này có rất nhiều kênh rạch
nhó tỏa ra các vùng đất bằng thấp của phường, kết hợp
với dòng thủy triều đã đem nước sông Đồng Nai tưới cho
đồng ruộng.
III. ĐẶC ĐIỀM DÂN CƯ-TÔN GIÁO
1. Truyền thông dân cư
Vùng dất An Hòa xưa thuộc làng Bến Gỗ. Trong lòng
đất Bến Gổ, các nhà khảo cổ học đã phát hiện được nhiều
di vật của lớp cư dân cổ từng sinh sống. Mảnh dất này
dược các tộc người của nhiều nền văn minh dến định cư,
lập nghiệp xuyên suốt cả một thời kỳ lịch sử từ thời đại
đồng thau cách nay hàng ngàn năm. Sách Dại Nam nhất
thống chí dề cập vùng Bẽn Gỗ có giải thích hai địa danh:
núi Thiết Khâu và sông An Hòa. Núi Thiết Khâu tục gọi
là núi Lò Thổi, là gò đống gồ ghề, rừng rú rậm rạp, có mỏ
sắt và nhân dân trong vùng đến khai thác nấu quặng; còn
sông An Hòa là chi lưu của sông Phước Long, ngoài cửa là
sông Đồng Châu, chày về phía Bắc đến chợ An Hòa, tục gọi
Rạch Gỗ.
Họ đạo Bến Gỗ ra dời vào nãm 1882, là một trong
những họ đạo ra dời sớm trên đất Biên Hòa - Đồng Nai.
Đất Bến Gỗ còn nổi tiếng về đua thuyền. Tương truyền,
202GIĨCIVV 002125
17

3 Pages 21-30

▲back to top

3.1 Page 21

▲back to top
từ thời Minh Mạng, dân Bến Gỗ đã thành lập đội đua để
tham gia vào cuộc đua tổ chức ở Biên Hòa. Ngày nay, đội
đua thuyền ở Bến Gỗ còn duy trì dù là tự nguyện nhưng
đã giành dược nhiều giải cao trong các kỳ thi Biên Hòa và
khu vực. Lễ hội ở Bên Gỗ rất dặc sắc. Tại đình An Hòa và
chùa Ông, lễ hội Trai đàn được tổ chức dáo lệ ba năm một
lần kéo dài nhiều ngày với các hoạt dộng dân gian độc dáo
như hát bộ, xô giàn, đua thuyền... với sự tham dự của đông
đào người dân.
Bên cạnh đó, An Hòa còn có nhiều ngôi nhà cổ truyền
thống thể hiện dấu ấn về văn hóa, kiến trúc của người Việt.
Những ngôi nhà này có đặc trưng là thấp; móng, nền nhà
có cốt thấp, chạm trổ đơn giản, một số ngôi thay vách gỗ
bằng tường gạch, phần lớn được xây dựng vào thế kỷ XX.
Chức năng của ngôi nhà là nơi dể ở, để thờ tự tổ tiên, là
nơi dể con cháu sum họp, học tập, là nhịp cầu nối nhiều
thê hệ trong một gia tộc. Ngôi nhà thể hiện ước muốn của
người xây dựng về một hậu thê giàu có, con cháu hiếu để.
Một số nhà cổ truyền thống tiêu biểu như: nhà bà Nguyền
Thị Sáu (khu phố 2); nhà ông Trần Bá Lộc (khu phố 2); nhà
cổ ông Trần Hữu Tài (khu phô 1).
Đặc biệt, nhà cổ của ông Trần Hữu Tài (khu phố 1)
nằm sát Vàm Bên Gỗ, một nhánh nhỏ chảy ra sông Đồng
Nai, được xây dựng năm 1902 và hoàn thành năm 1903
trên khuôn viên đất có diện tích 778m2, tổng diện tích xây
dựng là 118m2, bố trí theo kiểu nhà chữ Công, gồm một
nhà chính nầm ngang và hai nhà phụ nằm dọc hai bên.
Nhà chính được xây dựng theo kiến trúc mới đầu thế kỷ

3.2 Page 22

▲back to top
XX, tuy ảnh hưởng kiến trúc Pháp nhưng vần có hệ thống
vì kèo phức tạp của nhà người Việt xưa. Nhà dựng theo kiểu
xuyên trĩnh (hay nhà rường) với một hệ thống cột kèo nâng
dỡ mái che. Vật liệu xây tường dược dùng là gạch thẻ và vôi
trộn với mật dường. Cột và hệ thống kèo, xuyên, đòn tay,
rui, mè... kết nôi với nhau bằng mộng vững chãi. Đặc biệt,
đuôi kèo hiên được cách diệu như những duôi phượng, hai
bên hông chạm nổi những mô típ hoa lá, kỹ thuật tinh xảo,
nền lót gạch bông đặt mua từ Pháp chở sang. Ngôi nhà
hiện nay hầu như vẫn còn giữ dược những nét nguyên sơ
từ thuở ban đầu xây dựng.111
2. Di tích lịch sử, cơ sở tôn giáo - tín ngưỡng
Đồng Nai là vùng dất dược khai phá sớm ở Nam Bộ.
Dọc sông Đồng Nai, làng cổ Bến Gỗ, đã được những lớp cư
dân Việt, Hoa đến khai phá, xây dựng thành những vùng
trù phú mà những dấu tích của một thời vẫn còn bảo lưu
cho dến tận hôm nay. Hiện nay, An Hòa có 2 ngôi đình, 3
ngôi chùa, 5 ngôi miêu, 1 thánh thất. Trong sô nhiều dấu
tích xưa của vùng đất, An Hòa có dinh An Hòa được Nhà
nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia.
Đình An Hòa tọa lạc bên tà ngạn sông Đồng Nai thuộc
làng Bến Gỗ (nay là thuộc phường An Hòa). Đây là ngôi
đình cổ kính gắn liền với quá trình khai phá, xây dựng và
phát triển làng Bến Gỗ xưa. Đình An Hòa nguyên thủy là
ngôi miếu nhỏ được xây dựng vào nãm 1792 (thế kỷ XVIII),*1
1 Theo Bào tàng Đồng Nai, Nhiỉng ngôi nhà cổ liêu biểu ớ Dồng
Nai, Nxb. Đồng Nai, 2013.

3.3 Page 23

▲back to top
sau đó được trùng tu, sửa chữa nhiều lần. Ban đầu, đình
xây dựng theo kiểu chữ Nhị (gồm một chánh điện và tiền
bái), sau dó xây theo kiểu chữ Công. Đây là một trong năm
kiểu kiến trúc tiêu biểu của đình làng Việt Nam.
Đình An Hòa thờ Thành hoàng bổn cảnh - vị thần bảo
trợ làng và những vị tiền hiền, hậu hiền có công khai phá,
mở mang làng, xã. Hàng năm, người dân trong vùng đến
đình để cầu cho mua thuận gió hòa, quốc thái dân an, cuộc
sông bình an, thịnh vượng, ấm no và hạnh phúc. Đình An
Hòa được xem là gương mặt của nghệ thuật kiến trúc cổ ở
Đồng Nai và tiêu biểu cho kiểu dáng đình ở một vùng Nam
Bộ. Đây là nơi bảo tồn khá nguyên vẹn những dặc điểm
cùa kiến trúc dân tộc mà không chịu ảnh hưởng của kiến
trúc Trung Hoa như một số ngôi đình khác. Vật liệu xây
dựng đình chủ yếu là gỗ quý, có tính năng chịu lực cao.
Nghệ thuật trang trí, chạm khắc đã đạt tới trình độ tinh
xảo. Mỗi tác phẩm như được nghệ nhân xưa thổi hồn vào
làm cho kiến trúc đình trở nên mềm mại, sinh động và dẹp
mắt. Năm 1989, đình An Hòa được Bộ Văn hóa - Thông
tin xếp hạng di tích lịch sử kiến trúc - nghệ thuật quốc gia.
(Quyết định số 100/VH-QĐ, ngày 21/1/1989).
Ngoài đình An Hòa, trên địa bàn của phường An Hòa
còn có đình Thiết Tượng; chùa Thiền Lâm, Bửu An cổ tự,
Liên Trí Chơn Như; miều bà Khoanh, bà Mụ, miễu Bàu Sen,
miều Dên Dên và miều Vườn Trầu. Mỗi địa danh thường
gắn liền với những câu chuyện kể dân gian đầy màu sắc
huyền bí, như: bà Mụ Trời, miễu bà Khoanh, chuyện ông
Tượng. Trong đó, câu chuyện về bà mụ giúp đỡ cọp trong

3.4 Page 24

▲back to top
khi sinh nở khó khăn và được loài thú dữ này biết ơn là một
dấu tích còn lưu lại qua miếu thờ. Ngoài ra, còn có thánh
thất An Hòa (thuộc tòa thánh Tây Ninh).
Bửu An cổ tự được dân làng Bến Gỗ, tổng Long Vĩnh
Thượng, tình Biên Hòa xây dựng vào khoảng thế kỷ XVIII.
Chùa được bố trí hình chữ Nhị, gồm chánh điện và hậu
Tổ tiếp nối song song. Phần chánh điện kết cấu sườn mái
kiểu tứ trụ với 4 cột cái đường kính 50cm, tạo cho diện tích
dược mở rộng ra bốn phía bằng bộ kèo đâm, kèo quyết
vuông vức và những hàng cột đều nhau đỡ mái, mái chà
lợp ngói vảy cá, nền lát gạch Tàu, cửa gỗ. Trải qua nhiều
lần trùng tu nhưng Bửu An cổ tự vẫn giữ dược kiến trúc
một ngôi chùa làng Nam Bộ cổ xưa.
Chùa Thiền Lâm do Hòa thượng Thích Thiện Giáo
khai sơn trước năm 1945. Ông là bậc chân tu đức độ, giàu
lòng yêu nước, sống thanh bạch. Ông đá dùng ngôi chùa
nhỏ của mình hoàng hóa đạo pháp che mất địch để hoạt
động các mạng. Trong kháng chiến, ông dã từng giữ các
chức vụ quan trọng(1). Năm 1946, bị Tây đốt, chùa Thiền
Lâm được dời về ngọn đồi phía Nam cách vị trí chùa hiện
nay lOOm (lúc này chùa được xây dựng bàng vật liệu bán
kiên cố). Năm 1965, để bảo vệ cãn cứ quân sự Long Bình,
quân Mỹ cho xe ủi phá chùa Thiền Lâm. Một lần nữa,
chùa được di dời về vị trí hiện nay (khu phố 3, phường An
1 ủy viên tài chính Phật giáo cứu quốc kiêm ủy viên Ban Tuyên
huấn Nông dân cứu quốc, Hội trưởng Hội Liên việt xã An Hòa (giai
doạn 1945 - 1954).

3.5 Page 25

▲back to top
Hòa), xây dựng bằng vật liệu kiên cố (tường xây, cột kèo
gỗ, mái lợp ngói âm dương, nền lót gạch tàu). Chùa Thiền
Lâm cũ được xây dựng trên một ngọn đồi thoai thoải, rộng
5.000m2, có nhiều cây cao bóng mát, cách quốc lộ 51
khoảng lOOin, cách ngã ba Vũng Tàu 3km. Nhìn tổng thể
mặt bằng chùa Thiền Lâm được bô trí theo chữ Nhị gồm
chánh diện và nhà Tổ. Hàng năm, chùa tổ chức lễ cầu an
vào ràm tháng giêng âm lịch, lễ Phật đản rằm tháng tư âm
lịch, lẻ Vu Lan rằm tháng 7 dưới sự tham dự của rất dông
phật tử gần xa.
Chùa Ông (chùa Quan Thánh Đế Quân) có từ thời
những người Hoa từ An Hòa đến lập nghiệp. Theo sử sách
viết thì làng Bến Gỗ huyện Long Thành là nơi có nhiều
tàu thuyền nước ngoài ra vào buôn bán, cãn cứ vào bức
hoành phi treo ở chánh điện có nội dung “Văn võ Thánh
Thần”, lạc khoản đề niên đại: Nhâm Thìn có lẽ là năm
1892, lại trên cặp liễn khắc chữ Hán dề năm Nhâm Thân
(1872) thì có thể suy đoán ngôi chùa dược xây dựng trước
nãm 1872. Chùa ông được tu sửa vào các năm 1892, 1907,
1910, 1943. Năm 1943, nhà khách được xây dựng lại bàng
gạch cột xi mãng kiên cố. Nãm 1972 trùng tu lại lần nữa.
Chùa Ông tọa lạc trên một vuông đất hẹp, mặt tiền quay
về hướng nam, hai bên hông giáp với các đường trong ấp.
Chùa Ông là công trình của người Hoa nhưng cấu trúc lại
giống đình của người Việt, chùa có kết cấu dạng nhà chữ
Nhị gồm: chánh điện, nhà võ ca. Trong năm, nhân dân địa
phương thường tổ chức các ngày lề theo âm lịch: vía Ông
(13/5), trai đàn (15/10), lễ lạp vào ngày 16/12 (một cỗ chay,

3.6 Page 26

▲back to top
nãm cỗ mặn). Đặc biệt 3 năm tổ chức một lần xô giàn vào
ngày 15/10.
Miều Bà Ngũ hành và Bà Mụ thờ hai tôn thần là Ngũ
hành thánh nương và bà Mụ Trời do bà con làng xã góp
công sức xây dựng. Nguyên thủy, miều thờ chỉ là một gian
nhỏ bằng tranh tre. Năm 1956, miễu được trùng tu bằng
vật liệu bán kiên cố. Bên trong miễu có 3 bàn thờ: bàn thờ
chính thờ Ngủ hành nương nương và Bà Mụ Trời, có 5 bài
vị nhỏ và 1 bài vị to được đặt trên một long đình bằng gỗ
chạm trổ tinh vi, với các đề tài rồng chầu mặt trời, xung
quanh long đình được trang trí hoa văn dây lá.
Từ làng cổ của vùng đất Biên Hòa thời khai khẩn, qua
nhiều thời kỳ, An Hòa - làng Bến Gỗ đã trở thành đơn vị
hành chính cấp phường của thành phô Biên Hòa - đô thị
loại 1 của tình Đồng Nai. Vùng đất An Hòa hôm nay còn
lưu giữ nhiều truyền thống văn hóa - nghệ thuật lâu dời
mang đậm nét bán sắc dân tộc, có chùa xưa miếu củ, nhà
xưa ghi dậm nét lịch sử gầy dựng làng thôn 300 năm. Trong
suốt 30 nãm tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập, nhất
là 21 nãm kháng chiến chống Mỹ cực kỳ ác liệt nhưng quân
dân An Hòa vẫn kiên cường bám trụ, liên tục đánh địch,
lập nên những chiến công anh hùng. Đất và người An Hòa
xứng đáng với danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang
nhân dân mà Chủ tịch nước đã trao tặng.

3.7 Page 27

▲back to top

3.8 Page 28

▲back to top
CHƯƠNG I
AN HÔA QUA HAI TH0I KỲ KHÁNG CHIẾN
CHỒNG PHÁP VÀ CHÓNG MỸ 11945 -19751
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và
đê quốc Mỹ, An Hòa có vị trí chiến lược với quốc lộ 15 chạy
qua và tiếp giáp căn cứ Long Bình. Đây là kho dự trữ quan
trọng, dảm bảo hậu cần cho lực lượng quân viễn chinh
Mỹ ở miền Nam. Với hệ thống sông rạch chằng chịt nối
liền sông Đồng Nai với các dãy đồi núi liên kết có rừng bao
phủ, An Hòa là căn cứ kháng chiến của cách mạng 2 thời
kỳ, là bàn đạp tấn công, nơi tập kết của các lực lượng cách
mạng dể đánh địch hướng Đông - Nam (tỉnh Biên Hòa) và
hướng Đông - Bắc (Thủ Đức - Sài Gòn).
Đầu những nãm 1941, các đồng chí đảng viên kiên
cường của Đảng như: Phạm Văn Thuận111’, Hồ Vãn Đại121 đã
có mặt tại vùng đất An Hòa - Bến Gỗ xây dựng cơ sở cách
mạng và lãnh đạo phong trào cách mạng dịa phương. Đời
sống nhân dân xã An Hòa thời gian này vô cùng cực khổ,
1 Bí thư Tình ủy Biên Hòa từ năm 1948 - 1951.
2 Đồng chí Hồ Văn Đại, dàng viên năm 1935, Trưởng Công an
tỉnh Thủ Biên từ nãm 1951 - 1954.

3.9 Page 29

▲back to top
ruộng đất không có, phải sông dời làm thuê, làm mướn
cho địa chủ và cường hào, làm phu cạo mủ cao su sở Hàm
Rồng - Tân Hưng.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, những cuộc đấu tranh
chính trị dược diễn ra. Tổ chức Thanh niên Tiền phong"’
đã dược thành lập ỏ' địa phương và tại sở cao su Hàm Rồng
do một sô quần chúng thanh niên giác ngộ cách mạng
làm nòng cốt, đã trở thành đội du kích bí mật đấu tranh
vũ trang đầu tiên của xã và là lực lượng nòng cốt cho ngày
khởi nghĩa giành chính quyền ở xã.
Ngày 26/8/1945, với khí thê cách mạng sôi nổi, hơn
400 quần chúng tham gia tổ chức cuộc mít tinh, trở thành
cuộc biểu tình tuần hành từ sở cao su Hàm Rồng, theo
quốc lộ 15 kéo về chợ Bến Gỗ giành chính quyền về tay
nhân dân. Ngày 2/9/1945, từ Quảng trường Ba Đình - Hà
Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập,
khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hơn hai phần ba thê
kỷ làm nô lệ, giờ đây, cùng với nhân dân cá nước, người
dân An Hòa đã cởi bỏ được gông xiềng, trở thành người
dân của một nước độc lập tự do. Chính quyền cách mạng
xã An Hòa được thành lập, các đoàn thể cách mạng như:
Thanh niên, Phụ nữ, Nông hội cũng đi vào hoạt động.
1 Tháng 5/1945, tổ chức Thanh niên Tiền phong dược thành
lập tại Sài Gòn do Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch làm thù lĩnh. Cùng trong
tháng 5/1945, lực lượng Thanh niên Tiền phong được tổ chức ở Long
Thành và phát triển mạnh, qui tụ không chi thanh niên mà có sự tham
gia của phụ nữ, ông bà lão... do thay giáo Chỏi lãnh dạo.

3.10 Page 30

▲back to top
Chính quyền cách mạng dã tịch thu ruộng dất của địa chủ,
chia cho nông dân nghèo, động viên nhân dân tích cực lao
động sàn xuất góp phần xây dựng quê hương, xây dựng
chính quyền cách mạng.
Thời kỳ này ở An Hòa tiêu biểu có ông giáo Thạnh (Vỏ
Vãn Thạnh) tích cực hoạt động trong ban tuyên truyền xã;
hoạt động trong lòng địch, tham gia rải truyền đơn, treo
cờ. Năm 1946, ông thoát ly vào khu chiến đấu và được kết
nạp Đáng nãm 1947. Ông Trương Văn Trung (Năm Trung)
tham gia Thanh niên Tiền phong. Năm 1947, ông là Xã
doàn trưởng Thanh niên cứu quốc xà An Hòa và dược kết
nạp Đàng năm 1948.
Nước Việt Nam dân chủ mới ra đời, dất nước độc lập
chưa bao lâu thì thực dân Pháp đã nổ súng ở miền Nam,
bát đầu cuộc xâm lược đất nước ta lần thứ hai. Ngày
25/10/1945, thực dân Pháp với sự hỗ trợ của quán Anh
đánh chiếm tỉnh lị Biên Hòa. Quân Nhật ở Long Thành
kể từ ngày ta cướp chính quyền vẫn án binh bất động,
lúc này theo chỉ thị cúa Anh, Ân chúng lại hành quân càn
quét, dùng vũ lực giải tán lực lượng ta, gọi là “bảo vệ quốc
lộ 15 cho xe Đồng minh xuống Bà Rịa, Vũng Tàu”, nhưng
thực chất là dọn đường cho thực dân Pháp mở rộng vùng
chiếm đóng.
Ngày 10/12/1945, dồng chí Hoàng Quốc Việt - ủy viên
Thường vụ Trung ương họp hội nghị với các Xứ ủy và Tỉnh
ủy Nam Bộ, chia vùng này thành ba khu: Khu 7, Khu 8 và

4 Pages 31-40

▲back to top

4.1 Page 31

▲back to top
Khu 9. An Hòa thuộc Khu 7"’. Đầu nãm 1946, Chiến khu
Đất Cuốc được thành lậpl2). Tháng 6/1946, Tư lệnh Khu 7
Nguyên Bình ra quyết định thành lập Chi đội 10 tỉnh Biên
Hòa. Nhiều con em của An Hòa đã tham gia tích cực vào sự
thành lập nên lực lượng chính quy đầu tiên của vùng. Bến
Gổ trở thành bàn đạp để các lực lượng vũ trang của ta tấn
công và bao vây Biên Hòa.(3)
Đầu nãm 1947, dưới sự chỉ đạo của thực dân Pháp, lính
Cao Đài càng ra sức lôi kéo người vào đạo. Chúng tuyên
truyền: "Ai theo Cao Đài thì không bị Pháp dốt nhà, thanh
niên Cao Đài không phải đi lính". Để hỗ trợ cho luận điệu
đó, quân Pháp khi càn quét vào các xă tập trung đốt phá,
cướp bóc những nhà không có dạo, còn nhà có thẻ xanh
chúng không dụng đến. Ô An Hòa, Ban trị sự Cao Đài tiến
tới chỗ nắm dân thay hội tề. Ở thị trấn, lính Cao Đài lùa
dân lên chợ tập trung, bắt phải vào dạo. Ai chịu theo cho
về, ai không chịu bắt đi làm xâu.(,1)
1 Khu 7 bao gồm các tinh, thành phố: Thù Dầu Một, Biên Hòa,
Tây Ninh, Gia Định, Sài Gòn - Chợ Lớn và Bà Rịa. Đồng chí Nguyễn
Binh dược chi dịnh làm Khu trưởng, dồng chí Trần Xuân Độ làm
Chính trị viên khu.
2 Sau gọi là Chiến khu An Lạc và từ nãm 1948 dược gọi là Chiến
khu D.
3 Theo Bảo tàng Đồng Nai, Làng Bến Gỗ xưa L>à nay, Nxb. Đồng
Nai, 1995, tr. 55.
4 Đàng bộ huyện Long Thành, Lịch sử Đảng bộ huyện Long
Thành (1930-2015), Nxb. Đồng Nai, 2015, tr. 120.

4.2 Page 32

▲back to top
Tuy lính Cao Đài hoạt dộng ngang ngược, nhưng dưới
sự lãnh dạo của Đảng, phong trào cách mạng ở An Hòa
vẫn phát triển không ngừng.
Ngày 10/10/1948, một tiểu đoàn lính lê dương Pháp từ
trung tâm chỉ huy Biên Hòa theo quốc lộ 15 qua địa bàn An
Hòa, hành quân thọc sâu, tập hậu Chiến khu Bình Đa dang
bị địch càn quét, đánh phá. Đón dược ý đồ của địch và
được lệnh của huyện - tỉnh, lực lượng du kích địa phương
gồm 2 Trung đội phối hợp cùng Đại đội Lam Sơn - Tiểu
đoàn Quang Trung - Trung đoàn 310, Biên Hòa phục kích
đánh chặn tiêu diệt dịch, hỗ trợ và chia lửa với Chiến khu
Bình Đa. Trận đánh xảy ra từ 8 giờ đến 12 giờ, ta tiêu diệt
tại chỗ và làm bị thương hàng chục tên dịch, tổ chức đánh
chặn lực lượng Pháp ở bót Bên Gỗ(l) và 2 đồn lính Cao Đài
không cho chi viện lực lượng bị phục kích, tiêu diệt 6 tên.
Liên tiếp bị thiệt hại nặng, quân Pháp đã gày ra cuộc thảm
sát 21 người dân vô tội xã An Hòa, trên đường rút lui chúng
gặp ai bắt nấy gom lại và xà súng bắn chết ở hai điểm Bàu
Sen và Vườn Trầu(12).
1 Bót Bến Gổ do thực dân Pháp xây dựng và dưa linh Cao Đài về
đóng giữ. Ngày 30/8/1950, với sự hổ trợ của nhân dán dịa phương, Đại
dội Lam Sơn và bộ đội huyện Vĩnh Cửu đã tấn công tiêu diệt bót Bến
Gỗ do một trung dội thân binh Cao Dài dóng giử. Trong kháng chiến
chống Mỹ, ngày 15/5/1963, bộ dội huyện Long Thành dã hóa trang
tân công bót bào an Bến Gỗ diệt 13 tên, thu 13 súng.
2 Nguồn: Lý Việt Dũng, Thông chi xã An Hòa (làng Bến Gỗ),
trang 347.

4.3 Page 33

▲back to top
Từ năm 1948, địch thực hiện chiến thuật "điểm và
đường”, đã tiến hành xây dựng hệ thống tháp canh trên
quốc lộ 15 (thuộc địa bàn xã An Hòa) gồm 4 lô cốt lớn nhỏ
dể cắt đứt hành lang liên lạc và vận chuyển vũ khí của
ta. Nhận chỉ thị của huyện - tỉnh phải tiêu diệt và khống
chế hoạt động của các tháp canh này, bằng học tập kinh
nghiệm cách đánh của du kích Tân Uyên với lối đánh dặc
công, ta dánh sập một tháp canh lớn ở dốc chùa Thiền
Lâm. Táo bạo hơn, lực lượng du kích địa phương giữa ban
ngày tiếp tục mai phục tại tháp canh vừa đánh sập. Trong
trận đánh này, ta tiêu diệt 16 tên, trong đó có 4 tên Pháp,
làm cho địch vô cùng hoang mang lo sợ, các tháp canh còn
lại ta cho người móc nối, thỏa hiệp: "Ta đừng đánh họ thì
họ tai không nghe, mắt không thấy”, một số binh sĩ của
địch sau này trở thành cơ sở của ta.
Song song với đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị
là một khâu quan trọng góp phần cho những chiến công
trong công cuộc kháng chiến. Năm 1953, đã có 17 cuộc
mít tinh, biểu tình lớn nhỏ của quần chúng nhân dân đòi
chống khủng bố, chống bắt lính, yêu cầu đòi bồi thường
tính mạng và tài sản của nhân dân. Điển hình là cuộc biểu
tình của phu cạo mủ cao su sở Hàm Rồng - Tân Hưng với
chủ Pháp đòi tăng lương, không được đánh đập phu cạo
mủ. Ban đầu, chỉ có 20 người tham gia nhưng sau đó lực
lượng quần chúng địa phương đã vận dộng gia đình được
100 người đưa ra những yêu sách chính đáng buộc chủ
Pháp phải nhượng bộ. Những cuộc mít tinh, biểu tình tuy
quy mô chưa lớn nhưng đã có tác động rất lớn trong việc
30

4.4 Page 34

▲back to top
tuyên truyền và cổ vũ phong trào cách mạng. Nó phản ánh
tinh thần yêu nước nồng nàn của nhân dân An Hòa làm
cho dịch hoang mang, dao động, tạo diều kiện cho các lực
lượng cách mạng trên địa bàn thuận tiện hoạt động, nâng
cao nhận thức của quần chúng nhân dân dối với đường
lối, chủ trương của Đảng, của cách mạng.
Dưới sự lãnh dạo của Đàng, nhân dân An Hòa vừa đấu
tranh, vừa lao động sàn xuất làm ra nhiều của cải dóng
góp cho công cuộc kháng chiến, động viên con em mình
tham gia vào lực lượng du kích địa phương, tham gia bộ
đội huyện - tỉnh. Từ tháng 12/1946, phong trào “Hũ gạo
kháng chiến", phong trào thi dua sản xuất vổi khẩu hiệu
“Tấc đất tấc vàng" dóng góp công quỹ ủng hộ kháng chiến.
Nhiều gia đình, nhiều mẹ, nhiều chị ủng hộ cả bộ lư bằng
dồng, bông tai, nhẫn cưới, dây chuyền vàng là kỷ vật một
đời cho cách mạng. Từ những phong trào này, nhân dân
An Hòa đóng góp hàng trăm tấn lúa, gạo cho kháng chiến,
cho các đơn bị bộ đội chính qui đóng quân trên địa bàn
như bộ dội Lam Sơn, Chi dội 10 vệ quốc đoàn Biên Hòa.
Những đóng góp của nhân dân An Hòa đã góp phần cùng
với nhân dân cả nước đánh thắng thực dân Pháp xâm lược.
về công tác địch vận, An Hòa là vùng tranh chấp ác liệt
nên ta đẩy mạnh các phong trào đấu tranh chính trị bằng
nhiều hình thức như: cài cắm cơ sở nội gián trong lòng
địch, tổ chức giáo dục, thuyết phục, vận động phản chiến,
nội tuyến, đào bỏ ngủ về với gia đình, quay súng về với
cách mạng và nhân dân; vận động thân nhân của binh sĩ
đấu tranh vởi chỉ huy không đi càn quét, khủng bố... Trong

4.5 Page 35

▲back to top
9 năm kháng chiến chống Pháp, An Hòa đã kêu gọi binh
sĩ lầm đường quay súng về phục vụ cách mạng 11 người,
cài cắm 4 cơ sở nội gián trong lòng địch, vô hiệu hóa hoạt
động 2 đồn lính Cao Đài, 3 tháp canh, làm hảng chục binh
sĩ, có cà binh sĩ Pháp tan rã hàng ngũ, góp phần không nhỏ
vào thắng lợi chung của cách mạng.
Đông Xuân năm 1953-1954, quân chủ lực giành
thắng lợi lớn trong chiến dịch Hòa Bình, Thượng Lào, Tây
Nguyên, mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Ngày 7/5/1954,
chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng. Ngày 20/7/1954,
Hiệp định Genève được kí kết, hòa bình được lập lại. Tuy
nhiên, hòa bình chưa được bao lâu, với âm mưu xâm lược
Việt Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta, dê quốc Mỹ đã ra
sức phá hoại Hiệp dịnh. Tháng 7/1954, Mỹ đưa Ngô Đình
Diệm về miền Nam làm thủ tướng rồi lật dổ Bảo Đại, lên
làm Tổng thống, xây dựng bộ máy chính quyền thân Mỹ,
thành lập quân đội tay sai, tiến hành khủng bô phong trào
cách mạng miền Nam bằng nhiều thủ đoạn thâm độc.
Chúng đề ra ấp chiến lược, rồi ấp tân sinh nhằm cách ly
nhân dân ra khỏi cách mạng. Dọc phía sông Đồng Nai,
hải quân dùng bo bo, hàng ngày đổ quân đi tuần tra, phục
kích. Chúng dùng máy bay rải chất độc hóa học phá hủy
hơn 500ha ruộng lúa. Để ngăn cản triệt để không cho dân
làm ruộng, cắt đứt đường liên lạc tiếp xúc với lực lượng
cách mạng, chúng cấm dân ở lại ngoài dồng ban đêm, 15-
16 giờ phải tập trung về trong xã. Chúng thực hiện chủ
trương làm vắng ruộng, vắng đồng, bắn những ai đi coi vịt
lúc 15 - 16 giờ, những ai đi đánh cá về muộn, những con

4.6 Page 36

▲back to top
trâu còn thả rông lúc chiều về. Bên cạnh biện pháp chỉ
định, chúng cũng dùng biện pháp ép buộc, nêu khẩu hiệu
nhân dân tự vệ để bắt nhân dân nhận súng ống, tự trang
bị, tham gia vào lực lượng kìm kẹp tại chỗ. Từng nhà, từng
xóm đều phải rào bằng dây thép gai, ban dêm dùng các
chướng ngại vật làm bằng dây thép gai đẽ chặn các đường
di lối lại, khuyên khích nuôi nhiều chó. Bên cạnh lực lượng
nổi, bọn chúng còn tổ chức các lực lượng ngầm, chiêu hồi,
chiến tranh tâm lý, do thám, tình báo để nắm chắc mọi
diễn biến của từng người dân.
Để khủng bố các gia dinh có người theo cách mạng,
bọn chúng đã bắt cụ thân sinh đồng chí Nguyễn Vãn Thi(l)
(tự Châu Ngọc Bảo, Năm Thi) đưa lên máy chém. Trong
vòng kìm kẹp khắc nghiệt đó, nhân dân An Hòa đã đấu
tranh vô cùng ác liệt để chống lại âm mưu của địch.
Từ sau Hiệp định Genève, đồng chí Năm Thi hoạt
động trong cơ sở bí mật. Năm 1955, bị lộ nên bị địch bắt
giam. Năm 1960, đồng chí thoát ly vô bưng hoạt động tại
vùng núi Một - núi Dòng Dài (xã Phước Tân) và núi Nứa
(xã An Hòa). Sau đó, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng
sản Việt Nam rồi bầu làm Huyện ủy viên Huyện ủy Long
1 Đồng chí Năm Thi con ông Nguyễn Vãn Quờn và bà Châu Thị
Phải. Thời kỳ chống Pháp, õng Quờn là huấn luyện viên đoàn thanh
niên Tiền phong dịa phương, là hội viên hội Cha chiến sĩ. Bà Phải
cũng là hội viên hội Mẹ chiến sĩ. Cà hai ông bà dều nuôi giâu cán bộ
cách mạng trong cà hai thời kỳ chống Pháp và Mỹ. Ong Quờn nhiều
lần bị địch bắt giam nhưng không bao giờ khuất phục. Bà Châu Thị
Phải dược Nhà nước phong tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam anh hùng.

4.7 Page 37

▲back to top
Thành. Gia đình dồng chí Nguyễn Vãn Thi là một gia đình
truyền thống cách mạng vẻ vang(1).
Trong cuộc dấu tranh chống kẻ thù mới của dân tộc
là đế quốc Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm, lực lượng
vũ trang và nhân dân xã An Hòa dưới sự lãnh đạo của Chi
bộ xã tiếp tục xây dựng lực lượng cách mạng nòng cốt, giữ
vững phong trào. Nãm 1953, dồng chí Năm Trung là Bí thư
Chi bộ xã An Hòa Hưng. Sau năm 1954, đồng chí tiếp tục
hoạt động cách mạng và là Chi ủy viên Chi bộ xã An Hòa(12).
Trong giai đoạn này, một mặt Chi bộ vận dộng nhân dân
đấu tranh với chính quyền Mỹ - Diệm đòi thực hiện tổng
tuyển cử, đòi dân chủ dân tộc... mặt khác bảo toàn lực
lượng còn lại sau tập kết, bảo quản cất giấu vũ khí, rút vào
hoạt dộng lãnh dạo bí mật. Tháng 10/1955, dịch gom hơn
300 người trong xã trưng cầu dân ý và suy tôn tổng thông
Ngô Đình Diệm. Nhân dân xã An Hòa dã biến cuộc mít
1 Người anh thứ 4 của đồng chí Nãm Thi tên là Nguyễn Văn
Khân sinh năm 1927 (tên trong kháng chiến là Châu Ngọc Bào), tham
gia kháng chiến chống Pháp nãm 1947, hy sinh năm 1954. Người em
thứ sáu là Nguyễn Ván Nhịn hy sinh năm 1966. Người em thứ bày
tên Châu Ngọc Hoàng thoát ly năm 1962. Năm 1969, với thành tích
dốt cháy 3 ống dẫn dầu, xãng và nhớt vào căn cứ Long Bình, dồng
chí Hoàng dược Quân khu 7 Đông Nam Bộ tặng Huân chương Chiến
cóng hạng Nhì. Người em út Châu Ngọc Nga thoát ly vào cứ tham gia
cõng tác phụ nữ tại xã An Hòa năm 1965. Từ năm 1969 - 1970, dồng
chí là y tá trong vùng kháng chiến, vinh dự dược nhận Huân chương
Kháng chiến hạng Ba và nhiều bằng khen của huyện Long Thành.
2 Trong cuộc dời hoạt dộng cách mạng, dồng chí Năm Trung đã
nhiều lần ra tù, vào khám. Ong vinh dự được Nhà nước tặng thưởng
nhiều Huân, Huy chương cao quý.

4.8 Page 38

▲back to top
tinh đó thành cuộc biểu tình ngược lại, phàn dôi và đả dảo
Ngô Đình Diệm bán nước hại dân. Đầu năm 1957, chính
quyền Mỹ - Diệm tập trung nhân dân trong xã bắt dân tố
cộng, hơn 60 người dân bị bất đến chỉ ngồi im và chì trả
lời: "Chúng tôi không biết mặt của cộng sản ra sao, mà họ
có những tội gì? Nêu các ông biết thì thử nói cho chúng tôi
nghe”. Địch rất tức giận nhưng không làm gì được vì không
có cơ sở dể dàn áp nhân dân.
Giai đoạn 1960 - 1964, khi có chủ trương đấu tranh
vũ trang, chi bộ Đàng xã (gồm 5 đồng chí) lành đạo tập
hợp các lực lượng nòng cốt cách mạng, xáy dựng và phát
triển lực lượng du kích dịa phương gồm 2 Trung dội với 60
dồng chí, tổ chức lực lượng chính trị bí mật và hợp pháp,
cài cắm cơ sở trong lòng dịch, đẩy mạnh diệt ác phá kiềm,
phát động phong trào thi đua diệt giặc, lập công tổ chức
nhân dân biểu tình phản đối chế độ Mỹ - Diệm.
Tháng 6/1962, tại ấp vườn Trầu dịch đóng một bót
gồm 1 trung dội với 36 địa phương quân, khống chế quốc
lộ 15. Chúng thường xuyên đàn áp đồng bào, chặn các xe
giao thông trên trục lộ để thu tiền mãi lộ, gây nhiều khổ
sở cho dân và khó khăn cho việc đi lại, liên lạc của cách
mạng. Đội du kích dịa phương quyết tâm tiêu diệt bót này,
đã tổ chức trận đánh một cách gan dạ và mưu trí. Ta đã
điều nghiên và nắm được hoạt động của địch, khi các xe
giao thông di qua bót, chúng thường bắt xe đi thẳng vào
trong bót dể nộp tiền và buộc dân phải cho hàng hóa, của
cải trên xe. Từ đó, đội du kích địa phương vận động các
chủ xe tuôn hàng hóa xuống và phục kích trong 2 xe, 1

4.9 Page 39

▲back to top
xe than chở một tiểu đội, 1 xe lam chở 5 đồng chí khác
đi trên quốc lộ 15 thẳng vào bót. Như thường lệ, bọn lính
trong bót chặn xe và chỉ hướng cho xe chạy vào bót. Khi xe
vào trong bót, lực lượng du kích nhất tề nổ súng tiêu diệt
tại chồ 2 tên địch và làm bị thương nhiều tên khác, sô còn
lại đầu hàng. Vì không có chủ trương giết nên ta răn de
giáo dục, tuyên truyền đường lối của cách mạng rồi thả về.
Trận này ta thu được 11 súng các loại như cacbin, tômxơn,
một máy PRC25, gây tiếng vang lớn, làm cho dịch hoang
mang lo sợ.
Giữa năm 1965 là thời kỳ đấu tranh vũ trang diễn ra
vô cùng ác liệt khi đế quốc Mỹ bắt đầu tiến hành xây dựng
căn cứ Long Bình và tổ chức tuần tiễu trên quốc lộ 15. Lực
lượng vũ trang xã An Hòa hạ quyết tâm đánh Mỹ, đã độc
lập tác chiến và phối hợp với các lực lượng vữ trang của
huyện - tình liên tục tổ chức nhiều trận dánh làm tiêu hao
nhiều sinh lực dịch, phá hủy nhiều vũ khí, khí tài, phương
tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ ngụy. Nắm được quy luật
hoạt động cùa các xe tuần tiễu, lực lượng du kích hạ quyết
tâm tiêu diệt những tên giặc Mỹ có mặt đầu tiên trên địa
bàn xã. Du kích dịa phương với một tiểu đội gồm các đồng
chí nhiều kinh nghiệm, đầy bản lĩnh và gan dạ tổ chức
phục kích, chặn đánh tại suối cống Bà Miêu (đoạn trường
Nông Lâm Súc) trên quốc lộ 15 tiêu diệt 3 tên Mỹ, thu 3
súng colt 45, phá hủy một xe Jeep. Trận đầu diệt Mỹ thắng
lợi, lực lượng vũ trang nhân dân xâ An Hòa đã được tặng
thưởng 1 huân chương Quân công giải phóng hạng 3.

4.10 Page 40

▲back to top
Tháng 9/1965, sau khi xây dựng xong cãn cứ Long
Bình, đế quốc Mỹ thường xuyên hành quân, càn quét vành
đai để bảo vệ căn cứ. Với sự phối hợp của đơn vị đặc công
Biên Hòa gồm 3 đồng chí cộng với 1 tổ du kích nhiều kinh
nghiệm, ta tổ chức phục kích 1 đại đội Mỹ tại ngã ba Bến
Gỗ. Đây là trận đánh "lấy ít đánh nhiều”. Lực lượng ta chỉ 8
dồng chí với vũ khí trang bị một mìn DH10, nhiều lựu đạn
và súng cá nhân tiếp cận quốc lộ 15 trục ngã ba Bến Gỗ, bố
trí gài mìn và ẩn mình ven lộ chờ địch đi hành quân về(1).
Tốp đầu ta cho đi qua, chờ tốp sau đến. Khi địch lọt vào
trận địa, ta cho nổ mìn, tung lựu đạn, bắn thẳng vào đội
hình địch rồi rút nhanh. Trận này ta tiêu diệt tại chỗ 11 tên
Mỹ và làm bị thương nhiều tên khác.
Từ năm 1969 đến 1974, địch quyết tâm biến An Hòa
thành vùng đai an toàn, vành đai trắng bảo vệ cãn cứ Long
Bình, kho quân sự chiến lược quan trọng của quân viễn
chinh Mỹ ở toàn miền Nam. Để thực hiện âm mưu đó, địch
tăng cường bộ máy đàn áp gồm 2 liên toán phòng vệ dân
sự, 2 trung đội dân vệ, đặc biệt 1 đội bình định xây dựng
nông thôn (42 tên); 1 Đại đội Mỹ ở núi Nứa, 1 tiểu đoàn
Thái Lan ở Đá Hàn (sông Buông). Bên cạnh dó còn có sự
yểm trợ của không quân, pháo binh Long Bình, hải thuyền
và các đơn vị thiện chiến khác. Đây là giai đoạn gian khổ,
ác liệt, hi sinh, mất mát và đau thương nhiều nhất của lực
lượng vũ trang và nhân dân xã An Hòa. Có lúc Chi bộ Đảng
1 Khi dịch đi hành quân ta chưa đánh, mà chờ địch về mỏi mệt,
chủ quan dễ tiêu diệt hơn.