Di tich lich su dinh Long Chien

Di tich lich su dinh Long Chien

1 Pages 1-10

▲back to top

1.1 Page 1

▲back to top
306.095 977 5
ĐC-------------
D 300 T
NHA XUÀT BÁN ĐÓNG NAI

1.2 Page 2

▲back to top
DI TÍCH LỊCH sử
ĐÌNH LONG CHIẾN

1.3 Page 3

▲back to top
CHỦ BIÊN
Lưu Văn Du
THỰC HIỆN
Nguyễn Xuân Nam
Nguyễn Trí Nghị
Nông Thị Thanh Vân
Văn Đức
MỸ THUẬT
Trần Lâm

1.4 Page 4

▲back to top
M, Ơ3 '•>
sở VÃN HÓA, THỂ THAO DU LỊCH
BẢO TÀNG ĐỒNG NAI
DI TÍCH LỊCH sử
o
>
THƯHỆỈiTỈSKDỒNGNAI
SÁCHTẬNG
NHÀ XUẤT BẢN ĐỒNG NAI
2025/ĐC/v v C02112

1.5 Page 5

▲back to top

1.6 Page 6

▲back to top
Tụy* 7 i

1.7 Page 7

▲back to top
LỜI MỞ ĐẦU
Từ ngàn xưa hình ảnh lũy tre xanh bao quanh
giếng nước cổng làng vẫn luôn luôn gắn liền với người
dân nông thôn. Lũy tre cho dân làng tránh cơn gió
mạnh, giếng nước đầu làng nguồn sốhg cho nhân
dân cổng làng lối vê' tổ ấm của bao người. Đình
làng điểm đến sau cùng mới đích thực nơi người
dân gửi gắm lòng chung thủy, ưởc vọng tâm linh.
Nơi đây phát xuất hai tiếng tình quê cũng chính
nơi đây nuôi lớn hai tiếng quê hương cho ta mang
theo suốt cả cuộc đời. Ngôi đình nơi dân làng ngồi
lại với nhau không cần chung dòng tộc, không cần
chung tín ngưỡng, chỉ cần biết khi xa xưa ông cha
họ cùng về đây khai mở đất đai, đã từng tạo ngơi,
tạo nên một cộng đồng đoàn kết gắn bó, chung tay
xây dựng làng xã.
Đình Long Chiến cũng như bao ngôi đình làng
khác trên đất Đồng Nai sản phẩm/thành quả lao
động, sáng tạo của dân người Việt trên vùng đất
mới. Cảnh quan thiên nhiên, kiến trúc, trang trí,
chạm khắc, bài trí những hiện vật, đối tượng thờ cúng,
lễ nghi thường kỳ, cả sự kế thừa tiếp biến cho phù
hợp vối môi trường thiên nhiên điều kiện sốhg của
địa phương. Quy kiến trúc của đình tuy không lớn,
6

1.8 Page 8

▲back to top
cấu kiện gỗ không chạm khắc cầu kỳ tinh xảo như các
ngôi đình làng Bắc Bộ. Nhưng chứa đựng bên trong
những giá trị di sản văn hóa vật thể phi vật thể
của một thời khai hoang, mở cõi, lập làng, lập ấp, của
những kỳ tích trong lao động sáng tạo, trong chiến
đấu chống quân thù, trong xây dựng bảo vệ đất nước
cả trong kế thừa phát huy phong tục tập quán, tín
ngưỡng truyền thông của ông cha ta.
Nhằm bảo tồn phát huy những giá trị di sản
văn hóa vùng đất Bình Lợi nói riêng, Vĩnh cửu nói
chung góp phần vào việc phát triển kinh tế hội
xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc theo tinh thần Nghị quyết Trung
ương V khóa VIII của Đảng đồng thời đáp ứng nhu
cầu nghiên cứu tham quan học tập của nhân dân
du khách, Bảo tàng Đồng Nai biên soạn giới thiệu
sách Di tích lịch sử đình Long Chiến.
Cùng với những liệu khảo sát, nhóm tác giả
kế thừa chọn lọc những công trình nghiên cứu
về địa lịch sử, văn hóa của địa phương trước đây
như: Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức,
Địa chí Đồng Nai, Văn hóa Đồng Nai, Biên Hòa
Đồng Nai 300 năm hình thành phát triển, Hồ
khoa học di tích lịch sử đình Long Chiến... để thực
hiện được cuốn sách này những liệu nghiên cứu
7

1.9 Page 9

▲back to top
được nhóm tác giả sử dụng một cách đầy đủ khách
quan trung thực trên sở những tìm tòi, khảo
sát thực tế tại di tích, sự góp ý của các lão địa
phương đã góp phần làm cho cuốn sách hội tụ đầy
đủ các giá trị lịch sử văn hóa khoa học. Thông qua
cuốn sách nhóm tác giả cũng bày tỏ tấm lòng biết ơn
chân thành đến các tác giả, các nhà nghiên cứu, các
lão về những nguồn liệu đã cung cấp.
Với mong muốn bổ sung góp phần làm đầy đủ
bộ sách khảo cứu điạ phương giới thiệu di tích
trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nói chung, di tích lịch
sử đình Long Chiến nói riêng. Bảo tàng Đồng Nai
trân trọng giới thiệu cuốh sách đến với bạn đọc, du
khách trong ngoài nước. Mặc nhóm tác giả đã
nhiều nỗ lực trong quá trình biên soạn, tuy nhiên
sẽ không tránh khỏi những thiếu sót rất mong nhận
được sự đóng góp chân tình từ phía quý độc giả.
BẢO TÀNG ĐỒNG NAI
8

1.10 Page 10

▲back to top
Tổng quan
vùng đất
Bình Lợi
Chương
01

2 Pages 11-20

▲back to top

2.1 Page 11

▲back to top
1. Vài nét về địa hành chính
Bình Lợi nằm phía Tây Nam của huyện
Vĩnh Cửu, cách trung tâm hành chính huyện Vĩnh
Cửu 46 km cách trung tâm thành phô' Biên Hoà
12 km. Phía Đông giáp Thạnh Phú; phía Tây
phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương; phía Nam giáp
Tân Bình. Diện tích đất tự nhiên của toàn
1.520,06 ha chia thành 05 ấp, với tổng số nhân
khẩu 6718 khẩu/1698 hộ(1).
Trong lịch sử hình thành phát triển, địa
giới hành chính vùng đất Bình Lợi đã trải qua
nhiều lần thay đổi khác nhau. Sự kiện năm Mậu
Dần 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Chưởng
Nguyễn Hữu Kính (tức Nguyễn Hữu cảnh) làm
Kinh lược sứ vùng đất phương Nam vai trò hết
sức quan trọng. Ông đã sắp xếp lại bộ máy quản
hành chính chính thức sát nhập vùng đất
mới trở thành một phần của Đại Việt. Ông lấy xứ
Đồng Nai đặt làm phủ Gia Định gồm hai huyện:
Tân Bình dinh Phiên Trấn; huyện Phước Long
dinh Trấn Biên. Sự kiện này vai trò quan
(l) ƯBND Bình Lợi. Báo cáo Kết quả thực hiện 19 tiêu chi
nông thôn mới năm 2015 cùa Bình Lợi, huyện Vĩnh Cừu, tinh
Đồng Nai. Tài liệu lưu tại UBND Bình Lợi.
10

2.2 Page 12

▲back to top
trọng định hình lịch sử phát triển vùng đất phương
Nam nói chung Vĩnh Cửu - Đồng Nai nói riêng.
Năm 1802 triều Nguyễn được thành lập,
đến năm 1808 vua Gia Long cho sắp đặt lại hệ
thống hành chính, đổi tên phủ Gia Định làm Gia
Định thành; dinh Trấn Biên thành trấn Biên Hòa;
huyện Phước Long thăng lên phủ 4 huyện:
Long Thành, Bình An, Phưốc Chánh Phước
An. Huyện Phước Chánh bao gồm cả Bình Lợi,
huyện Vĩnh Cửu ngày nay.
Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh
Hoài Đức cho biết vào năm Gia Long thứ 15 (1816)
huyện Phước Chánh 85 tổng (có tổng Phưốc
Vinh tổng Chánh Mỹ), xã, thôn, phường. Trong
đó, tổng Phưốc Vinh (46 thôn) Chánh Mỹ (39
xã, thôn, phường). Vùng đất Bình Lợi thuộc tổng
Phước Vinh, huyện Phước Chánh, phủ Phước
Long, trấn Biên Hòa.
Năm 1836, vua Minh Mạng cho lập địa bạ
các tỉnh để quản đất đai. Theo địa bạ, huyện
Phước Chánh từ 2 tổng tách thành 6 tổng. Vùng
đất Bình Lợi thuộc tổng Phước Vinh Hạ, huyện
Phước Chánh, phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa.
11

2.3 Page 13

▲back to top
Bản đồ hành chính Nam kỳ lục tỉnh năm 1836
12

2.4 Page 14

▲back to top
Trải qua các triều vua Thiệu Trị (1841 - 1847),
Tự Đức (1847 - 1883) đến đầu Pháp thuộc vùng đất
Bình Lợi thuộc tổng Phước Vinh Hạ, huyện Phước
Chánh, phủ Phước Long. Từ ngày 05/01/1876,
vùng đất Bình Lợi thuộc tổng Phước Vinh Hạ,
huyện Phước Chánh, phủ Phước Long, hạt Tham
biện Biên Hòa(2).
Nhà nghiên cứu Lương Văn Lựu trong sách
Biên Hòa sủ lược cho biết năm 1878 tổng Phước
Vinh Hạ có 12 làng trong đó:
Bình Lợi (Châu Sa) 2 ấp: Thạnh Hòa (Bàu
Tre) ấp Chợ;
Bình Ninh 3 ấp: Nhất, Nhì (gò cầy) Ba;
Bình Thạnh 3 ấp: Bình An (Cây Đào), Thạnh
Hòa (Cây Quéo), Thạnh Phú;
Bình Thảo 2 ấp: Bình Định (chợ Bến Cá),
Bình An (xóm Búng);
Đại An 3 ấp: Thanh An (Bến Nôm), Bình An
Chánh, Trị An (Bến Vịnh);
Long Lộc 2 ấp: Long Chánh, Đa Lộc;
Tân Định 01 ấp cầu Xoay 2 xóm: xóm
Đồn xóm Cháy;
Tân Hiền có 2 ấp: Tân Khai, Hiền Quan;
Tân Phú 2 ấp: Tân Huệ, Phú Trạch (Hóc Kè);
Thiện Quang 5 ấp: Thiện Hòa, Lân Thành,
(2) Năm 1876, thực dân Pháp chia tình Biên Hòa thành 3 hạt tham
biện: Biên Hòa, Thù Dầu Một Rịa. Đen năm 1900, các hạt
tham biện đôi thành tinh. Tinh lỵ tinh Biên Hòa thuộc làng Bình
Trước, tổng Phước Vĩnh Thượng, quận Châu Thành.
13

2.5 Page 15

▲back to top
Thạnh Hòa, Thối Hòa, Đồng Lách làng Xuân Hòa
(Bình Thạnh).
Ngày 30/3/1897 làng Long Chánh hợp với làng
Đa Lộc thành làng Long Lộc. Vùng đất Bình Lợi
thuộc làng Long Lộc, tổng Phước Vinh Hạ, hạt Tham
biện Biên Hòa.
Tháng 01 năm 1900, vùng đất Bình Lợi thuộc
làng Long Lộc, tổng Phước Vinh Hạ, tỉnh Biên Hòa.
Tháng 01 năm 1928, làng Long Lộc hợp vói
làng Bình Ninh thành làng Bình Long, tổng Phước
Vinh Hạ, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa.
+ Giai đoạn chính quyền thực dân Pháp quản
từ năm 1945 - 1954 vùng đất Bình Lợi thuộc tổng
Phưốc Vĩnh Trung, quận Châu Thành gồm các xã:
Tân Phong, Bửu Long, Bình Hòa, Bình Ý, Tân Triều,
Bình Phưác, Bình Long, Lợi Hòa, Bình Thạnh, Tân
Phú, Thiện Tân, Tân Định, Đại An, Trị An.
+ Giai đoạn 1954 - 1975, chính quyền Việt Nam
Cộng hòa lập huyện Công Thanh gồm các Bình
Ý, Bình Hòa, Tân Triều, Bình Phước, Bình Long, Lợi
Hòa, Tân Phú, Bình Thạnh, Thiện Tân, Tân Định,
Đại An, Trị An, Thái Hưng. Vùng đất Bình Lợi thuộc
huyện Công Thanh.
- Với chính quyền cách mạng, địa hành chính
thay đổi theo yêu cầu nhiệm vụ cách mạng.
+ Từ 1945 đến 1948, Bình Lợi ngày nay
14

2.6 Page 16

▲back to top
thuộc huyện Tân Uyên gồm các Bình Phước,
Bình Thạnh, Lợi Hòa, Tân Phú, Bình Long, Thiện
Tân, Tân Định, Đại An, Trị An.
+ Từ năm 1948 đến năm 1965, huyện Vĩnh
Cửu được thành lập. Địa bàn huyện ngoài các
Bình Hòa, Bình Ý, Tân Triều, Tân Hạnh, Tân Hiệp,
Bình Trị, Trảng Bom (cả Hô'Nai, thuộc huyện Thống
Nhất), Tam Hiệp, Tân Phong, Tân Thành, Hoá An,
Bửu Hòa, Tân Vạn, Hiệp, Tân Hưng, An Hòa, Long
Hưng, Phước Tân thêm 7 xã: Bình Thạnh, Lợi Hòa,
Tân Phú, Bình Long, Thiện Tân, Tân Định, Đại An
(của huyện Tân Uyên chuyển giao). Vùng đất Bình
Lợi thuộc huyện Vĩnh cửu.
+ Tháng 9/1965, huyện Vĩnh Cửu cùng thị
Biên Hòa thuộc tỉnh Biên Hòa (Ul) gồm các xã: Bình
Hòa, Bình Ý, Bình Phước, Tân Triều, Bình Thạnh,
Lợi Hòa, Tân Phú, Bình Long, Thiện Tân, Tân Định,
Đại An, Trị An. Vùng đất Bình Lợi thuộc tỉnh Biên
Hòa (Ul).
+ Tháng 5/1967, huyện Vĩnh cửu nhập cùng
huyện Trảng Bom. Vùng đất Bình Lợi thuộc huyện
Trảng Bom.
+ Tháng 10/1972 đến tháng 4/1975, huyện Vĩnh
Cửu tái lập thuộc tỉnh Biên Hòa (nông thôn), địa
giới hành chính như tháng 9/1965. Vùng đất Bình
Lợi thuộc tỉnh Biên Hòa (nông thôn).
15

2.7 Page 17

▲back to top
Ngày 23/12/1985, vùng đất Bình Lợi thuộc
Bình Long, thị Vĩnh An (mới lập) tỉnh Đồng Nai.
Ngày 12/02/1987, Bình Long hợp với
Lợi Hòa thành Bình Lợi. Như vậy, tên gọi địa
danh hành chính Bình Lợi chính thức được xác
lập vào năm 1987.
Ngày 29/8/1994, Chính phủ ra Nghị định số
109/CP, thành lập lại huyện Vĩnh cửu gồm: 1 thị
trấn Vĩnh An 9 Bình Hòa, Phú Lý, Tân
An (Đại An - Tân Định), Tân Bình (Tân Triều -
Bình Ý - Bình Phước), Thạnh Phú (Bình Thạnh
- Tân Phú), Thiện Tân, Trị An (phường Trị An),
Vĩnh Tân (phường Cây Gáo). Hai Bình Long
Lợi Hòa sát nhập thành Bình Lợi. Tên gọi hành
chính Bình Lợi thuộc huyện Vĩnh cửu hình thành
tồn tại cho đêh nay.
2. Địa tự nhiên
Về khí hậu Bình Lợi thuộc khu vực nhiệt đới
gió mùa vối 2 mùa (nhưng không ổn định), mùa mưa
từ tháng 5 đến tháng 11 mùa khô từ tháng 12 đến
tháng 4 năm sau.
Về thổ nhưỡng Bình Lợi dạng địa hình
tương đối bằng phẳng, đồng bằng dọc theo thềm
sông độ cao từ 5 - 15 m tạo nên phù sa chiều
hướng thấp dần từ Đông Bắc đến Tây Nam thuộc
vùng thoải dốc, thể chia làm 3 loại đất chính:
16
SI r S09

2.8 Page 18

▲back to top
+ Đất phù sa mới: phân bố dọc sông Đồng Nai
từ ngã ba sông sông Rạch Đông đến Tân An,
Thiện Tân; dọc hai bên sông Rạch Đông xuốhg
Bình Lợi, Tân Bình, Bình Hòa... thuộc loại đất phù
sa mới thích hợp với việc trồng các loại cây lương
thực như lúa, cây công nghiệp như mía, đậu các loại,
cây ăn trái như bưởi, nhãn,...
+ Đất đỏ trên đá phiến thạch biến chất: nhóm
đất này thường độ cao từ 100 đến 300 mét, độ dốc
chung 20m. Đất thích hợp vởi việc trồng rừng hay
trồng cỏ chăn nuôi gia súc, các loại cây công nghiệp
như: cao su, trà, cây lương thực như bắp, mì, khoai,...
+ Đất nâu vàng trên phù sa cổ: địa hình gỢn
sóng, độ cao từ 10 đến 45m, độ dốc trung bình dưới
lOm thể canh tác các loại cây ăn trái rễ sâu,
chịu hạn như: mía, đào lộn hột, xoài,...
Về đất nông nghiệp: trên địa bàn diện
tích 1.257,63 ha, chiếm tỷ lệ 82,74% tổng diện tích
tự nhiên trong đó diện tích đất lúa 523,70 ha. Trong
đó, diện tích trồng cây hàng năm 216,11 ha, diện
tích trồng cây lâu năm 505,53 ha, diện tích đất nuôi
trồng thủy sản 7,85 ha, đất nông nghiệp khác 4,44
ha. Phát huy những lợi thế về thổ nhưỡng, thực hiện
quy hoạch chung của tỉnh, huyện về các loại cây
trồng chủ lực, Bình Lợi đã chú trọng phát triển
quýt. Riêng năm 2014, với chính
2OZS/®C/VV
17
002112

2.9 Page 19

▲back to top
sách hỗ trợ của huyện định hướng trồng 59,45 ha
cây bưởi. Đến nay, diện tích trồng bưởi trên địa bàn
đạt 178,4 ha chuyển đổi từ đất lúa 01 vụ kém
hiệu quả. Nhiều hình trồng bưởi đạt hiệu quả,
đem lại lợi nhuận kinh tế cao.
3. Sắc thái văn hóa
Theo thống năm 2015, dân số Bình Lợi
6718 nhân khẩu với 1698 hộ. Phong tục tập quán
của các thê hệ dân dẫu những tác động, biến
đổi qua nhiều thời kỳ lịch sử, song đã tạo nên những
nét đẹp, mang dấu ấn của cộng đồng trên một địa
bàn cụ thể. Nhân dân huyện Vĩnh Cửu nói chung,
Bình Lợi nói riêng mang tín ngưỡng thờ cúng ông
tổ tiên nhiều lễ nghi như: cưối hỏi, tang lễ,... còn
giữ được tập tục truyền thống Nam Bộ, nhưng
sự biến đổi để đơn giản, phù hợp với cuộc sống mới.
Trong mỗi nhà của người dân, thường nơi trang
trọng nhất dành cho việc đặt bàn thờ cúng ông bà, tổ
tiên. Việc trang trí bàn thờ cũng không khác so với
các vùng quê Nam Bộ, thể hiện tinh thần tôn trọng
gia tiên, dịp sum họp các thế hệ trong gia tộc.
Nhiều gia đình, ngoài việc thờ tổ tiên còn thờ cúng
Quan Công, Thổ công, Thổ địa, ông Táo, thờ (thờ
mẫu)...
Ngoài tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên thì trên địa
bàn Bình Lợi hiện 12 sở tín ngưỡng với 05
ngôi đình; 02 chùa 04 ngôi miếu. Gắn với các sở
tín ngưỡng, tôn giáo các lễ tiết diễn ra hàng năm
với sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân.
18

2.10 Page 20

▲back to top
Đây những di sản văn hóa tiêu biểu gắn liền vối
lịch sử hình thành phát triển của vùng đất, con
người Bình Lợi đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín
ngưỡng, tôn giáo của người dân.
3.1. Đình
* Đình Bình Ninh (ấp 2, Bình Lợi)
Theo các cụ lão địa phương, đình Bình Ninh
được nhân dân địa phương xây dựng vào cuối thế kỷ
XIX. Ban đầu đình chỉ ngôi miếu nhỏ để phục vụ
nhu cầu tâm linh của người dân trong ấp với các vật
liệu đơn tranh, tre, nứa lá. Cùng với quá trình
phát triển đình Bình Ninh được tu bổ, tôn tạo xây
dựng ngày càng khang trang vách ván, mái lợp ngói
âm dương mặt quay ra sông Đồng Nai đón gió lành.
Toàn cảnh đình Bình Ninh
19

3 Pages 21-30

▲back to top

3.1 Page 21

▲back to top
Trong giai đoạn kháng chiến chông thực dân
Pháp, thực hiện phương châm tiêu thổ kháng chiến
của chính quyền cách mạng, nhân dân địa phương
đã tháo dỡ đình Bình Ninh để không cho kẻ địch sử
dụng. Năm 1956, Ban Hội hương nhân dân đã
quyết định xây dựng miếu tại vị trí với các hạng
mục tiền đình, chánh điện nhà khách. Miếu được
thay đổi chức năng từ miếu thành đình cho phù hợp
với quy kiến trúc công năng sử dụng.
Đình Bình Ninh thờ Thần Thành hoàng bổn
cảnh vị thần bảo hộ cho làng các vị Tiền hiền, Hậu
hiền, Anh hùng liệt sĩ, Ngũ hành Nương nương...
Hàng năm, đình Bình Ninh tổ chức cúng lớn
vào dịp Kỳ yên ngày 16 17 tháng 3 (âm lịch) theo
nghi thức đình làng Nam Bộ.
* Đình Bình Lợi (ấp 2, Bình Lợi)
Đình Bình Lợi được nhân dân địa phương thôn
Bình Lợi xây dựng vào đầu thế kỷ XIX. Ban đầu
đình quy nhỏ bằng các loại vật liệu sẵn tại
địa phương như gỗ, gạch, ngói... mục đích thờ các
vị thần linh, Thần Thành hoàng bổn cảnh, Tả ban,
Hữu ban, Tiền hiền, Hậu hiền, Thần nông, Thổ địa,
Ngũ hành Nương nương... để nhân dân trong thôn
nơi sinh hoạt tín ngưỡng.
Trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân
Pháp, thực hiện yêu cầu của chính quyền cách mạng
nhân dân địa phương tiến hành tháo dỡ đình theo
phương châm tiêu thổ kháng chiến.
20

3.2 Page 22

▲back to top
Đinh Bình Lợi
Năm 1956, đình được xây dựng lại tại vị trí
nhưng với diện tích nhỏ hơn. Đến năm 1972, đình bị
xuốhg cấp nghiêm trọng nhân dân địa phương đứng
ra đóng góp công kinh phí để trùng tu đình vối các
hạng mục: tiền đình, chánh điện nhà khách nốỉ tiếp
nhau tạo nên diện mạo khang trang như ngày nay.
Hàng năm, đình Bình Lợi tổ chức lễ Kỳ yên vào
ngày 16 17 tháng 3 (âm lịch) theo nghi thức đình
làng Nam Bộ.
* Đình Xuân Hòa (ấp 5, Bình Lợi)
Đình Xuân Hòa được xây dựng vào năm nào
hiện chưa tài liệu nào đề cập cụ thể. Theo các vị
lão địa phương thể đình được xây dựng vào thế kỷ
XIX cùng với quá trình lập thôn, làng. Ban đầu đình
chỉ ngôi miếu nhỏ bằng vật liệu đơn vách ván,
mái lợp ngói âm dương thờ Thần Thành hoàng làng.
21

3.3 Page 23

▲back to top
Cũng như các đình làng khác, trong kháng
chiến chống thực dân Pháp thực hiện phương châm
tiêu thổ kháng chiến năm 1945 đình Xuân Hòa bị
tháo dỡ.
Năm 1954, Ban Tế tự cùng nhân dân địa phương
người góp công, người góp kinh phí để xây dựng lại
đình với kiến trúc gồm: tiền đình, chánh điện nhà
khách nốĩ tiếp nhau.
Năm 2005, đình Xuân Hòa được trùng tu lớn
tạo nên diện mạo như ngày nay gồm: bình phong,
tiền đình, chánh điện, hậu đình nhà khách nốì
tiếp nhau. Tường gạch, mái lợp ngói tây trang trí
lưỡng long triều dương bằng chất liệu xi măng, hoa
văn dây lá, lân chầu... đến năm 2008 xây dựng cổng
tam quan.
Đình Xuân Hòa
22

3.4 Page 24

▲back to top
Hiện nay, đình Xuân Hòa thờ Thần Thành
hoàng bổn cảnh, Tả ban, Hữu ban, Thần nồng, Thổ
địa, Ngũ hành Nương nương, Tiền hiền, Hậu hiền
đều các vị thần linh trong tín ngưỡng dân gian,
vai trò bảo hộ, bảo vệ vùng đất con người
nơi đây.
Hàng năm, đình Xuân Hòa tổ chức lễ Kỳ yên
vào ngày 19 20 tháng 12 (âm lịch) theo nghi thức
cúng đình làng Nam Bộ.
* Đình Đa Lộc (ấp 5, Binh Lợi)
Đình Đa Lộc cũng như các ngôi đình khác
Nam Bộ được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX cùng
với quá trình lập thôn Đa Lộc. Ban đầu, đình chỉ
ngôi miếu nhỏ bằng vật liệu đơn vách ván, mái lá,
nền đất.
Đình Đa Lộc
23

3.5 Page 25

▲back to top
Trải qua thời gian tồn tại phát triển, đình Đa
Lộc nhiều lần được trùng tu, tôn tạo. Lần gần nhất
vào năm 2006 do đình bị xuống cấp nghiêm trọng
nhân dân địa phương tiến hành trùng tu, sửa chữa
với các hạng mục gồm: tiền đình, chánh điện nhà
khách nốì tiếp nhau tạo nên diện mạo như hiện nay.
Đình Đa Lộc thờ Thần Hoàng bổn cảnh - vị thần
bảo hộ cho làng các vị thần phụ trợ Tả ban, Hữu
ban, Thần nông, Thổ địa, Ngũ hành Nương nương
Tiền hiền, Hậu hiền.
Hàng năm, đình Đa Lộc tổ chức lễ Kỳ yên ngày
16 17 tháng 2 (âm lịch) theo nghi thức cúng đình
làng Nam Bộ vối mong muốn cầu cho mưa thuận gió
hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống ấm no hạnh phúc.
* Đình Bình Thanh (ấp 5, Bình Lợi)
Theo các cụ lão địa phương miếu Bình Thanh
được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX cùng với quá trình
lập thôn Bình Thanh. Ban đầu miếu được xây dựng
bằng các vật liệu đơn giản sẵn tại địa phương,
miếu thờ Thần Hoàng bổn cảnh - Tả ban, Hữu ban,
Thần nông, Thổ địa Tiền hiền, Hậu hiền...
Năm 1945, thực hiện phương châm tiêu thổ
kháng chiến của chính quyền cách mạng Miếu Bình
Thanh bị phá hủy. Năm 1954, miếu Bình Thanh
được xây dựng lại trên nền dạng tứ trụ gồm: nhà
khách, chánh điện nhà bếp cột gỗ, tường bằng
gạch hai mái lợp ngói vảy cá, nóc trang trí lưỡng long
triều dương, nền tráng xi măng đổi tên thành
đình Bình Thanh.
24

3.6 Page 26

▲back to top
Đình Bình Thanh
Năm 2011, đình Bình Thanh bị xuống cấp
nghiêm trọng, Ban Quý tếcùng nhân dân địa phương
tiến hành trùng tu lớn tạo nên diện mạo khang trang
như ngày nay gồm: cổng tam quan, bình phong, tiền
đình, chánh điện, hậu đình... mái lợp ngói tây, trang
trí lưỡng long triều dương.
Hàng năm, đình Bình Thanh tổ chức lễ Kỳ yên
ngày vào ngày 19 tháng 4 19 tháng 12 (âm lịch)
theo nghi thức cúng đình làng Nam Bộ.
3.2. Miếu
Miếu một dạng tín ngưỡng văn hóa trong dân
gian người Việt quy nhỏ hơn đền, đình. Đối
tượng được thờ miếu rất đa dạng, thể hiện tên gọi
của miếu - tên gọi theo đốì tượng được thờ thường
phiếm chỉ tượng trưng như: miếu Bà, miếu Cô,
25

3.7 Page 27

▲back to top
miếu Cậu, miếu thờ thần núi gọi chung miếu Sơn
thần, miếu thờ thần nước gọi miếu hoặc
miếu Thủy thần. Miếu thờ thần đất gọi miếu Thổ
thần hoặc thần hậu thổ.
Miếu thường được xây trên cao, nơi sườn núi,
bờ sông hoặc đầu làng, cuối làng, những nơi yên tĩnh
để quỷ thần thể an vị, không bị ảnh hưởng của sự
ồn ào từ đời sốhg dân sinh. một số nơi, trong các
ngày giỗ như ngày sinh, ngày hóa (nhân thần), ngày
hiện hóa (thiên thần) làng mở tế lễ, mở hội, nghinh
rước Thần từ miếu về đình. Tế lễ xong, lại rước thần
về miếu yên vị. Hiện nay, trên địa bàn Bình Lợi
05 ngôi miếu.
* Miếu Xóm Côi (ấp 2, Bình Lợi)
Miếu Xóm Cối được xây dựng khoảng đầu
thế kỷ XX do dân làng đóng góp xây dựng tôn thờ các
Ngũ hành Nương nương tượng trưng cho 5 vị ngũ
Miếu Xóm Cối
26

3.8 Page 28

▲back to top
hành gồm: Kim; Mộc, Hỏa, Thủy Thổ với ước vọng
về cuộc sốhg no đủ, mùa màng bội thu.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, thực
hiện phương châm tiêu thổ kháng chiến miếu bị phá
hủy. Năm 1956, miếu Xóm Cối được xây dựng lại
trên nền cũ. Năm 1998, miếu Xóm Cối được trùng
tu, sửa chữa tạo nên diện mạo như ngày nay với diện
tích 15m2 hai mái đô tông, nóc mái trang trí lưỡng
long triều dương, tường xây gạch, nền lót gạch men.
Miếu Xóm Cốì tổ chức lễ Vía Ngũ hành
vào ngày 16 tháng 3 (âm lịch) theo nghi thức truyền
thốhg Nam Bộ.
* Miếu Xóm Giữa (ấp 2, Bình Lợi)
Miếu Xóm Giữa được dân làng xây dựng đầu
thế kỷ XX cùng với quấ trình xây dựng phát triển
thôn Bình Ninh. Ban đầu, miếu Xóm Giữa chỉ
ngôi miếu nhỏ được xây dựng bằng vật liệu đơn
sơ, vách ván, mái lợp ngói âm dương thờ Ngũ hành
Nương nương tượng trưng cho ngũ hành kim, mộc,
thủy, hỏa, thổ với ước vọng về cuộc sổng no đủ, bình
an, mùa màng bội thu.
Năm 1945, thực hiện phương châm tiêu thổ
kháng chiến của chính quyền cách mạng Miếu
Xóm Giữa bị phá hủy. Năm 1954, miếu Xóm Giữa
được xây dựng lại tại vị trí cũ. Năm 2016, do bị xuốhg
cấp nghiêm trọng Miếu được trùng tu gồm các hạng
mục nhà khách, chánh điện nhà bếp kèo bằng
gỗ, mái lợp ngói tây phần nóc trang trí lưỡng long
triều dương, tường xây gạch, nền lót gạch bông.
27

3.9 Page 29

▲back to top
Miếu Xóm Giữa
Hàng năm, vào ngày 10 tháng 2 (âm lịch) Miếu
Xóm Giữa tổ chức lễ Vía Ngũ Hành theo phong
tục truyền thống Nam Bộ.
* Miếu Vạn (ấp 4, Bình Lợi)
Miếu Vạn được xây dựng vào năm nào hiện
chưa tài liệu nào đề cập cụ thể. Theo các vị lão
địa phương Miếu Vạn được xây dựng đầu thế kỷ XX.
Miếu được trùng tu lớn vào các năm 1995, 1998
2009 tạo nên diện mạo như hiện nay.
Miếu Vạn được trang trí theo kiểu thức kiến
trúc hình chữ nhị, mặt tiền nhìn ra sông Đồng Nai.
Cột tường xây bằng gạch, mái lợp ngói tây trang
trí lưỡng long triều dương.
Miếu Vạn thờ Tiên sư, Tiền hiền, Hậu hiền. Hình
28

3.10 Page 30

▲back to top
thức thờ bằng chữ
đại viết lên tường.
Hàng năm, tại
Miếu Vạn tổ chức
cúng Tiên vào
ngày 16/2 (âm lịch);
Đoan ngọ 5 tháng 5
(âm lịch); Thượng
ngươn 15 tháng
1 (âm lịch) Hạ
ngươn 15 tháng 10
(âm lịch) theo phong
tục truyền thống
Nam Bộ.
Gian thở chính trong Miếu Vạn
* Miếu (ấp 5, Bình Lợi)
Miếu được xây dựng vào năm nào hiện chưa
tài liệu nào đề cập cụ thể. Theo các vị lão địa
phương Miếu được xây dựng đầu thế kỷ XX do
nhân dân địa phương đóng góp. Miếu thờ Ngũ
hành Nương nương tượng trưng cho kim, mộc, thủy,
hỏa, thổ.
Năm 1945, thực hiện phương châm tiêu thổ
kháng chiến của chính quyền cách mạng Miếu bị
phá hủy. Năm 1954, miếu được xây dựng lại trên
nền cũ.
Năm 1999, trải qua thời gian dài tồn tại Miếu
29

4 Pages 31-40

▲back to top

4.1 Page 31

▲back to top
bị xuống cấp nặng nề, Ban tế tự đứng ra vận động
nhân dân các mạnh thường quân tiến hành trùng
tu tạo nên diện mạo như hiện nay. Kiểu thức kiến trúc
Miếu theo kiểu chữ nhị, mặt tiền nhìn ra sông Đồng
Nai. Cột tường bằng gạch, mái lợp ngói tây, nóc trang
trí Lưỡng long triều dương.
Hàng năm, vào ngày 16 tháng 2 (âm lịch) Miếu
tổ chức cúng Ngũ Hành theo phong tục truyền
thống của Nam Bộ.
3.3. Chùa
* Chùa Long Vân (ấp 4, Bình Lợi)
Theo các tài liệu còn lưu trữ tại chùa lời kể
của các vị lão tại địa phương, chùa Long Vân do dân
làng xây dựng lên vào năm 1916 thờ Tam thế phật, Hộ
pháp, Phật Đản sinh, Địa tạng...
Một góc chùa Long Vân
30

4.2 Page 32

▲back to top
Năm 1941, do bị xuống cấp nặng nề nên các
phật tử tánh tiến hành được trùng tu, sửa chữa.
Năm 1946, chùa bị cháy hoàn toàn, tăng lưu lạc
khắp nơi.
Sau năm 1954, chùa Long Vân được phật tử
Thị Liêng (Tư Liêng) quê Lợi Hòa cúng dường xây dựng
lại chùa trên nền cũ, năm 1963 các lão nhân dân
địa phương tiến hành phục dựng lại hạng mục chánh
điện; năm 1970, xây dựng hậu tổ; năm 1974 sửa chữa
nhà trù. Những năm về sau chùa được các Trụ trì
phật tử tu sửa các hạng mục còn lại tạo nên diện
mạo khang trang như ngày nay.
Hàng năm, ngoài các lễ truyền thông của Phật
giáo chùa Long Vân còn tổ chức lễ giỗ Tổ khai sơn
vào ngày 23 tháng giêng (âm lịch).
Chánh điện chùa Long Vân
31

4.3 Page 33

▲back to top
* Chùa Bửu Phước (ấp 4, Bình Lợi)
Chùa Bửu Phước được xây dựng từ năm nào
chưa thấy tài liệu nào đề cập đến. Theo các vị lão,
chùa được dựng vào năm 1862. Ban đầu chỉ am
nhỏ, vách ván, mái lợp ngói âm dương.
Năm 1945, trong kháng chiến chống thực dân
Pháp thực hiện phương châm tiêu thổ kháng chiến
của chính quyền cách mạng chùa bị phá hủy hoàn
toàn. Năm 1954, Chùa được xây dựng lại cách nền
đất khoảng 400m. Năm 1975, do bị xuống cấp nên
các phật tử tánh tiến hành trùng tu, tôn tạo.
Đến năm 1998, do chùa gần bờ sông thường xuyên
bị sạt lở nên tánh quyết định xây dựng lại chùa
bằng vật liệu kiên cố vững chắc tại vị trí mới mặt
Hệ thống tượng thờ chùa Bửu Phước
32

4.4 Page 34

▲back to top
tiền quay về sông
Đồng Nai với kiểu
thức kiến trúc gồm
Chánh điện; Nhà tổ
Nhà bếp tạo nên
diện mạo khang
trang như hiện nay.
Chùa
Bửu
Phước nơi thờ
Tam thế phật, Hộ
pháp, Phật Đản
sinh, Địa tạng, Tổ
đạt ma... Hàng
năm, chùa thực
hiện cúng tế theo lễ
nghi truyền thông
của Phật giáo phái
lâm tế chánh tông.
Tháp TỔ trong khuôn viên
chùa Bửu Phước
Tóm lại, với mục đích chính giới thiệu đến quý
độc giả di tích đình Long Chiến chủ yếu vậy đối
với các di sản văn hóa khác trên địa bàn Bình Lợi
chúng tôi chỉ giới thiệu một cách khái quát dừng
mức liệt kê, khảo lược lịch sử hình thành, giá trị lịch
sử, văn hóa, nghệ thuật của các di sản vãn hóa như
một gợi mỗ cho hành trình khám phá di sản trên
vùng đất Bình Lợi - Vĩnh Cửu.
33

4.5 Page 35

▲back to top
4. Truyền thông đấu tranh cách mạng
Bình Lợi vùng đất lịch sử khá lâu đời,
dân tụ hội về từ nhiều địa phương đại bộ phận
những người nông dân cần cù, yêu tự do phải
luôn đốì mặt vởi lam sơn chướng khí, thiên nhiên
khắc nghiệt, thú dữ. Họ mang theo truyền thốhg
quê hương vào vùng đất mới cộng với quá trình
thực tiễn đấu tranh để sinh tồn đã góp phần định
hình tính cách riêng đáng quý, tình yêu quê
hương, ý chí kiên cường bất khuất, chống áp bức
bất công, tinh thần tự lực tự cường, đoàn kết tương
thân tương ái, trung thực, khẳng khái,... Những
đặc điểm truyền thống, tính cách đó đã góp phần
tạo nên sức mạnh của tinh thần chiến đấu bền bỉ,
quật cường trong suốt cuộc trường chinh chống các
thê lực ngoại xâm bọn tay sai bán nước.
Ngày 09/03/1945, phát xít Nhật đảo chính lật
đổ chính quyền thực dân Pháp Việt Nam. Ngày
12/03/1945, Trung ương Đảng ra chỉ thị Nhật -
Pháp bắn nhau hành động của chúng ta”, nêu
phát xít Nhật kẻ thù trước mắt. Thực hiện chỉ
thị này, cả nước dấy lên phong trào chống Nhật cứu
nước. Nhiều hoạt động chuẩn bị giành chính quyền
34

4.6 Page 36

▲back to top
được ráo riêt thực hiện, trong đó hoạt động của
đội Thanh niên Tiền phong hội họp, luyện tập quân
sự hàng ngày để tham gia cướp chính quyền tại
Bình Lợi. Ngày 02/9/1945 cùng vối nhân dân cả
nước nhân dân Bình Long, Lợi Hòa cùng phấn
khởi tập trung về quảng trường Sông Phô' dự lễ mít
tinh chào mừng ngày độc lập của đất nước.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp
chống Mỹ vùng đất Bình Lợi một trong những
cái nôi cung cấp lương thực, thực phẩm, thuốc men
cho bộ đội chiến khu Đ, thanh niên háo hức tòng
quân giết giặc với nhiều chiến công lẫy lừng.
Truyền thốhg đấu tranh cách mạng thể hiện
qua những nhân vật gắn liền lịch sử đất nước như:
Nhà văn Văn Sâm; Hoàng Văn Bổn. Tại Bình
Lợi 06 mẹ Việt Nam anh hùng; 01 Anh hùng
lực lượng trang nhân dân; 64 liệt sỹ hy sinh
trong thời kỳ chốhg Pháp 56 liệt sỹ hy sinh
trong thời kỳ chống Mỹ. Bình Lợi đã được nhà
nước công nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng
trang nhân dân.
35

4.7 Page 37

▲back to top

4.8 Page 38

▲back to top

4.9 Page 39

▲back to top
Chương
__________ 02
Lịch sử
hình thành - phát triển
đấu tranh cách mạng
tại đình Long Chiến

4.10 Page 40

▲back to top
1. Đình Long Chiến hình thành
Ngôi làng nơi phản ánh đậm nét dấu ấn văn
hóa của cộng đồng người Việt, trong buổi đầu di dân,
khai hoang, lập làng vùng đất mới phương Nam
không khỏi gặp phải những điều kiện tự nhiên khắc
nghiệt (rừng thiêng, nước độc, thú dữ) gây ra những
mất mát, bệnh tật, mùa màng thất bát... Do đó, con
người đi khai phá phải gần nhau, gắn kết tập hợp
thành nhóm dần hình thành thôn, xóm như quê
hương họ. Để chống chọi với tự nhiên khi số người
ngày càng phát triển cùng với đó các đợt di sau
bổ sung các thôn ban đầu chuyển lên thành làng,
rồi tách ra thành nhiều làng.
Trong quá trình sinh sông như thế nhu cầu
văn hóa tinh thần song hành rất cần thiết với
họ. Khi chợ được lập, cầu được bắc thì các sở văn
hóa của làng cùng ra đời với các loại hình đình đền,
miếu, phủ... với quy kiến trúc khác nhau, làng
điều kiện kinh tế thì xây dựng lớn, nhiều; làng ít
điều kiện kinh tế thì xây dựng nhỏ hơn, nhưng nhìn
chung thì càng về sau thì đình, chùa, miếu mạo càng
được xây dựng lớn, khang trang đẹp đẽ từ vật
liệu tre nứa, vách ván ban đầu chuyển sang gạch,
vôi vữa, gỗ quý nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín
ngưỡng tâm linh của nhân dân.
Cùng vái sự ra đòi của các sở tín ngưỡng thì
đình Long Chiến cũng được hình thành để đáp ứng
nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của người dân thôn
39