Lich su Dang bo phuong Binh Da

Lich su Dang bo phuong Binh Da

1 Pages 1-10

▲back to top

1.1 Page 1

▲back to top
324.259 707 509 597 75
ĐC
-------------------- ÀNHỬY BIÊN HÒA
L302 S
H ĐẢNG BỘ PHƯỜNG BÌNH ĐA
LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ
ì® NHÀ XUẤT BẢN ĐỒNG NAI

1.2 Page 2

▲back to top
LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ PHƯỜNG BÌNH ĐA
(1945-2020)

1.3 Page 3

▲back to top

1.4 Page 4

▲back to top
THÀNH ỦY BIÊN HÒA
BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ PHƯỜNG BÌNH ĐA
LỊCH SỬ
ĐẢNG Bộ PHƯỜNG BÌNH ĐA
(1945-2020)
THtíVíịỉirèỉOỒNGNAI
SÁCHTẶNG
Z025/«c/vv 002009
NHÀ XUẤT BẢN ĐỒNG NAI

1.5 Page 5

▲back to top
CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN
+ BAN THƯỜNG vụ THÀNH ỦY BIÊN HÒA
+ BAN TUYÊN GIÁO THÀNH ỦY BIÊN HÒA
CHỈ ĐẠO NỘI DUNG
BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ PHƯỜNG BÌNH ĐA
BAN CHÌ ĐẠO
+ Đ/c Nguyễn Văn Thanh - thư Đảng ủy
+ Đ/c Nguyễn Vàn Anh - Phó BTĐU-CTUBND
+ Đ/c Nguyễn Diệu Hoàng - UVBTV-CTHĐND
+ Đ/c Bùi Huy Soạn - Phó Ban Tuyên giáo
+ Đ/c Nguyễn Hòa Hưng - ĐUV - Chỉ huy trưởng QS phường
+ Đ/c Nguyễn Thanh Hoài - Tníởng‘công an phường
+ Đ/c Bùi Thị Hồng Quế - Công chức tài chính - Kế toán

1.6 Page 6

▲back to top
BAN BIÊN SOẠN
+ Đ/c Nguyễn Văn Thanh - thư Đảng ủy
+ Đ/c Nguyễn Văn Anh - Phó thư - Chủ tịch UBND
+Đ/c Nguyễn Diệu Hoàng - ủyviên Thườngvụ - Chủ tịch HĐND
+ Đ/c Bùi Huy Soạn - Phó Ban Tuyên giáo
+ Đ/c Trần Quang Toại - Tổng Thư Hội KHLS Đồng Nai
+ Đ/c Trần Minh Trí - Hội KHLS Đồng Nai
+ Đ/c Ninh Thị Vui - Hội KHLS Đồng Nai
BAN THƯ
+ Đ/c Nguyễn Phước Thiên Thảo - Phó Chủ nhiệm ƯBKT
+ Đ/c Đỗ Tiến Dũng - Phó Khối vận

1.7 Page 7

▲back to top

1.8 Page 8

▲back to top
Lòigìái tíùệu
Phường Bình Đa quá trình hình thành phát
triển cùng với tiến trình hình thành vùng đất Biên
Hòa - Đồng Nai hơn 320 năm (1698-2020). Năm 1698, kh
Chưởng Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh
chúa Nguyễn Phúc Chu kinh lược đất phương Nam, nhiều
lớp dân người Việt từ vùng Ngũ Quảng vượt bao khó
khăn đến Bình Đa - Biên Hòa sinh sống khận hoang, mở
đất lập làng. Với truyền thống yêu nước từ ngàn xưa, qua
các thời kỳ lịch sử, người dân Bình Đa luôn cần mẫn trong
lao động sản xuất để xây dựng quê hương; khi đất nước
bị hiểm họa xâm lăng, người dân đã anh dũng đứng dậy
theo tiếng gọi của non sông, chiến đấu độc lập tự do
cho Tổ quốc.
Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp chống
Mỹ, khu vực Bình Đa nay thuộc phường An Bình vùng
rừng rậm rạp liền nhau, nhân dân truyền thống chiến
đấu dũng cảm, kiên cường bám trụ, đã xây dựng thành
căn cứ du kích lợi hại từ thời chống Pháp. Từ bàn đạp này,

1.9 Page 9

▲back to top
các lực lượng trang cách mạng đột nhập vào thị Biên
Hòa, nhiều lần vươn ra đánh giao thông đường sắt, đường
I đường 15. Căn cứ Bình Đa một mắt xích quan trọng
trên hành lang giao liên từ Chiến khu Đ đến Rịa. Thời
chống Mỹ, chính quyền Sài Gòn mở xa lộ, lập khu kỹ nghệ,
cấy dân di cư, ủi phá địa hình, cuộc sống của nhân dân
địa phương nhiều xáo trộn, khó khăn. Nhưng, nhân dân
Bình Đa vẫn một lòng son sắt thủy chung theo Đảng, theo
Bác Hồ, hướng về cách mạng bằng những hành động
việc làm thiết thực, nhân dân đã đóng góp nhiều lương
thực, thuốc men, hàng hoá vào các cãn cứ kháng chiến.
Chiến thắng đại mùa Xuân năm 1975, mở ra thời
kỳ lịch sử mới đầy tự hào của dân tộc, dưới sự lãnh đạo
của tổ chức sở đảng, các đảng viên, cán bộ nhân dân
phường Bình Đa cùng đoàn kết vượt qua mọi khó khăn,
từng bước khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng cuộc
sống mới, đạt được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực kinh
tế, vãn hóa - hội, quốc phòng - an ninh.
Với tinh thần "Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người
trồng cây", nhằm ghi nhớ phát huy truyền thống của
những thế hệ cha anh đi trước đã đấu tranh xây dựng
quê hương, Ban Chấp hành Đảng bộ phường Bình Đa tổ
chức sưu tầm, biên soạn quyển "Lịch sử Đảng bộ phường
Bình Đa 1945-2020". Đây sẽ tài liệu nhằm tuyên truyền
đến cán bộ, đảng viên nhân dân, nhất thế hệ trẻ tiếp

1.10 Page 10

▲back to top
tục phát huy truyền thống quê hương, ra sức phấn đấu
thực hiện thắng lợi mọi chủ trương của Đảng, chính sách
pháp luật của Nhà nước trong giai đoạn cách mạng mới.
Mặc Ban Biên soạn đã nỗ lực nhiều cố gắng,
với tinh thần trách nhiệm cao, song trong quá trình thực
hiện còn gặp nhiều khó khăn, nguồn tài liệu thành văn bị
thất lạc; mặt khác, các nhân chứng lịch sử đến nay tuổi
đã cao, già yếu, trí nhớ bị suy giảm, nhiều người đã mất.
Chính vậy, nội dung cuốn sách không thể tránh khỏi
những thiếu sót nhất định, chúng tôi rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp chân tình, tính chất xây dựng
của bạn đọc gần xa, để khi hội đủ điều kiện Đảng bộ sẽ bổ
sung hoàn chỉnh tái bản với chất lượng cao hơn.
BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ
PHƯỜNG BÌNH ĐA

2 Pages 11-20

▲back to top

2.1 Page 11

▲back to top
I

2.2 Page 12

▲back to top
MỒ ĐẦU
DẶC DIÊM Tự NHIÊN,
VÃNHÚA TRUYÈN THÙNG
1. NHỮNG DẶC DIỀM VỀ D|A LÝ, Tự NHIÊN
- Vị trí địa lý:
Phường Bình Đa phường nội ô, cửa ngõ vào thành
phố Biên Hòa. Phường Bình Đa diện tích tự nhiên
126,52ha, Suối Linh chảy ngang qua hai tổ 22, 23 thuộc
khu phố 3. Phường Bình Đa 3.126 hộ dân, với trên
19.000 người với 05 dân tộc gồm: Kinh, Hoa, Tày, Nùng,
Mường; tíong đó người Kinh chiếm số lượng đông đảo.
Về tôn giáo: Công giáo chiếm 33%, Phật giáo chiếm 57%,
còn lại những người không đạo các tôn giáo khác.
Phường Bình Đa được thành lập vào ngày 01/9/1988 theo
Quyết định số 103/HĐBT ngày 08/6/1988 của Hội đồng
Bộ trưởng trên sở tách ra từ phường Tam Hòa. Trước
năm 1975, phường Bình Đa một ấp với tên gọi ấp Trần
Quốc Toàn, thuộc phường Tam Hiệp.

2.3 Page 13

▲back to top
Vị trí địa của phường Bình Đa được xác định như
sau:
+ Phía Đông giáp phường Long Bình;
+ Phía Tây giáp phường Tam Hiệp;
+ Phía Nam giáp phường An Bình;
+ Phía Bắc giáp phường Tam Hòa.
Phường Bình Đa được chia thành 04 khu phố:
+ Khu phố 1 chia ra 10 tổ nhân dân;
+ Khu phố 2 chia ra 26 tổ nhân dân;
+ Khu phố 3 chia ra 19 tổ nhân dân;
+ Khu phố 4 chia ra 15 tổ nhân dân.
- Đặc điểm tự nhiên:
Phường Bình Đa tổng diện tích tự nhiên 126,52ha,
gồm:
+ Đất nông nghiệp: 0,87ha, chiếm 0,69%;
+ Đất phi nông nghiệp: 125,65ha, chiếm 99,31%.
Trong 0,87ha đất nông nghiệp của phường 0,16ha
đất trồng cây lâu năm; Đất nuôi trồng thủy sản diện tích
0,71ha chiếm 81,17% diện tích đất nông nghiệp, khu vực
chủ yếu quanh Suối Linh.

2.4 Page 14

▲back to top
Đối với đất phi nông nghiệp, bao gồm:
+ Đất diện tích 51,51ha, chiếm 41% diện tích đất
phi nông nghiệp. Đất tập trung chủ yếu dọc theo Xa lộ
Nội, đường Phạm Vãn Thuận, đường Trần Quốc Toản...
+ Đất chuyên dùng: 69,46ha, chiếm 55,28% diện tích
đất phi nông nghiệp. Trong đó đất xây dựng trụ sở quan
l,39ha; đất quốc phòng 21,68ha; đất an ninh 0,02ha; đất
xây dựng công trình sự nghiệp llha; đất sản xuất kinh
doanh phỉ nông nghiệp ll,85ha; đất mục đích công
cộng: 23,53ha, bao gồm: đất giao thông 20,72ha; đất thủy
lợi 0,60ha; đất sinh hoạt cộng đồng 0,02ha; đất khu vui
chơi giải trí cộng đồng 2,18ha; đất công trình năng lượng
0,01ha; đất sở tôn giáo l,48ha, chiếm 1,18% đất phi
nông nghiệp; đất sở tín ngưỡng 0,1 Iha, chiếm 0,09% đất
phi nông nghiệp; đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối 3,08ha,
chiếm 2,45% đất phi nông nghiệp diện tích của Suối
Linh các suối nhánh trên địa bàn phường.
2. Đặc điểm về dân văn hóa truyền thống đấu
tranh cách mạng
Trên mảnh đất Bình Đa lịch sử quá khứ lâu đời đã
được các nhà khoa học, lịch sử nghiên cứu công bố. Qua
cứ liệu lịch sử khảo cổ cho thấy, địa bàn Bình Đa ngày
nay sự trú của con người từ khá lâu. Trong số các di

2.5 Page 15

▲back to top
tích khảo cổ học, thì di chỉ khảo cổ Bình Đa(1) một minh
chứng ràng nhất. Di tích được phát hiện vào cuối thế
kỷ XIX, một trong những di tích khảo cổ học được phát
hiện sớm nhất Biên Hòa miền Đông Nam bộ. Tháng
12/1979, di tích đã được khai quật với tổng diện tích 174m2
thu được 284 rìu đá vai, 155 rìu tứ giác, trên 200 mảnh
vỡ công cụ, 150 bàn mài, 1 dao đá, 6 vòng trang sức một
số hiện vật khác. Đặc biệt đã phát hiện 42 thanh đoạn
đàn đá - một loại nhạc cụ cổ khá độc đáo; khoảng 38.000
mảnh gốm, phân loại theo màu sắc, chất liệu theo 2 lớp
văn hóa. Ngoài ra còn một ít gốm xốp thô, chỉ chiếm 1%
cả 2 lớp văn hóa, thu được khoảng 300 tiêu bản xương
răng động vật. Di tích niên đại C14 3180+50 năm cách
ngày nay.
Thời kỳ - Mạc, Trịnh - Nguyễn đã đánh nhau không
ngớt, gây bao đau thương cho nhân dân. Lại thêm nạn
quan lại tham nhũng, các địa chủ lớn nhỏ bóc lột người
nông dân lao động đến xương tủy nên nỗi khổ càng chồng
chất. Thế nhiều người, nhiều gia đình rời bỏ quê hương
thân yêu, dùng thuyền theo gió mùa đông bắc vào vùng
đất phương Nam xa xôi làm ăn sinh sống... nhiều nhóm
người ngược sông Đồng Nai lần lần khai phá vùng Long
Thành, Bến Gỗ, Bình Đa, lao Phố, Chợ Đồn, Bến Cá,
Tân Uyên... họ cùng các con dân tộc Chơro, Mạ, S'tiêng
1 tọa độ 10°56’05" Bắc, 106° 51’30kinh Đông - nay thuộc
phường An Bình cùng thành phố.

2.6 Page 16

▲back to top
những người Hoa tị nạn, tiến hành phá rừng tạo ruộng,
xây dựng xóm làng ngày càng đông vui, mở cảng Nông Nại
tấp nập ghe thuyền các nước vào ra buôn bán.
Sách Gia Định thành thông chí (1820) ghi tổng Phước
Vinh (huyện Phước Chánh, phường Phước Long, ưấh
Biên Hòa) các thôn Bình Đa, Tân Mai... Bản đồ Boalu
(Boilloux, 1881) tờ tỉnh Biên Hòa, về tổng Phước Vinh
Thượng các làng Bình Đa, An Hảo, Tân Mai, Vĩnh Cửu...
Theo tài liệu của Tòa bố Biên Hòa đề ngày 15/9/1923, ấp
Bình Đa thuộc làng Bình An, tổng Phước Vĩnh Thượng.
Theo các sách địa chí cũ, Biên Hòa hai nơi làm
nghề đá ong truyền thống Bình Đa Tân Phong, nhưng
Bình Đa phát triển hơn tiện vận chuyển đường sông
một ưong ba nguồn sống chính của dân làng. Đá ong
Bình Đa góp phần xây dựng phố lớn Nông Nại (Cù lao Phố),
bến cảng trao đổi hàng hàng hóa phồn thịnh khoảng 300
năm trước. Đá ong Bình Đa góp phần xây dựng nhiều lăng
mộ, đền miều núi Sam, núi Sập (An Giang) trải đường
cái quan tỉnh Rạch Giá cũ. Rừng Bình Đa nhiều loại cây
gỗ tốt: sao, sến, dầu...
Tháng 12 năm 1861, quân Pháp chiếm thành Biên Hòa,
lập bộ máy cai trị từ đây. Noi gương các bậc đi trước, Đoàn
Văn Cự, một chiến yêu nước làng quê Bình An, huyện
Bình An tỉnh Biên Hòa (nay quận Thủ Đức - Thành phố
Hồ Chí Minh) ngầm tổ chức hội kín gồm nhiều người yêu

2.7 Page 17

▲back to top
nước Bình Đa, Vĩnh Cửu, lao Phố, Chợ Đồn tới vùng
núi Nứa (Long Thành), đầu năm 1905 đã mật tập hợp
xây dựng căn cứ kháng chiến làng Bình Đa, huyện Vĩnh
Cửu. Làng Bình Đa các ông Nguyễn Văn Chánh, Nguyễn
Văn Kì, Trịnh Văn Nhiêu, Huỳnh Văn Liễn... Hội kín Đoàn
Văn Cự tổ chức chặt chẽ, các ông liên lạc với nhau bằng
những ám hiệu, lo tích lũy lương thực, rèn gươm dao,
thỉnh thoảng luyện tập chờ thời nổi dậy đánh Pháp
tỉnh lỵ Biên Hòa. Trong lúc đang chuẩn bị lực lượng thì
ngày 11/5/1905 giặc Pháp kéo quân đến bao vây, ông cùng
16 chiến khác hy sinh tại căn cứ. Tất cả được an táng
trong một ngôi mộ tập thể cạnh Quốc lộ 1A. Nhân dân
Tam Hiệp đã lập đền thờ Đoàn Văn Cự để tưởng nhớ một
nhà Nho yêu nước dám xả thân nước.
Thời kỳ thực dân Pháp xâm chiến nước ta, Tam
Hiệp gồm 3 làng Bình An, Vĩnh Cửu, Tân Mai.
Tháng 10/1945, quân Nhật Biên Hòa theo lệnh Đồng
minh lùng sục vào Vĩnh Cửu. Cuối tháng 10/1945, thực
dân Pháp theo chân quân Anh - Ấn đánh chiếm tỉnh lỵ
Biên Hòa. Thực hiện lệnh "tiêu thổ kháng chiến", "bất hợp
tác" với thực dân, đồng bào trong tỉnh lỵ đã tản ra vùng
ngoại ô. Công nhân nhà máy cưa BIF đốt phá những bành
gỗ ván sàn, tháo dỡ máy móc, thiết bị chuyển về vùng Bình
Đa, An Hảo... để phục vụ kháng chiến.
Sau khi Pháp tái chiếm Biên Hòa, được sự chỉ đạo của
Xứ ủy Nam Kỳ để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài,

2.8 Page 18

▲back to top
các lực lượng cách mạng của tỉnh Biên Hòa tạm thời nít
dần ra chiến khu Bình Đa - Vĩnh Cửu các thuộc huyện
Tân Uyên - Biên Hòa (sau đó hình thành Chiến khu Đ).
Rừng Bình Đa trở thành căn cứ du kích áp sát thị Biên
Hòa, che chở cho các lực lượng trang lập nhiều chiến
công. Để xây dựng lực lượng kháng chiến, Tỉnh ủy quyết
định thành lập trại du kích Vĩnh Cửu do đồng chí Phan
Đình Công phụ trách. Sau khi địch mở rộng lấn chiếm,
Ban Chỉ huy trại huấn luyện du kích quyết định chuyển
trường về bên kia Quốc lộ 15, đóng đồi An Hảo, sau đó
trường lại dời về đình Bình Đa. Đình Bình Đa vừa trung
tâm chỉ huy của trường, vừa hội trường để lên lớp cho
các học viên. Khi trường dời về đình Bình Đa, chính lúc
đoàn quân Nam tiến do đồng chí Nam Long chỉ huy vào
đến Biên Hòa. Trường được tăng cường thêm một số giảng
viên quân sự, chính trị đã tốt nghiệp trường Quân chính
Việt Bắc như: Đỗ Hy Vọng, Mạnh Liên, Quang Phục...
Trường đã mở được hai khóa huấn luyện, mỗi khóa 15
ngày. Tuy thời gian huấn luyện ngắn nhưng những chiến
tốt nghiệp tại trường du kích Vĩnh Cửu vừa biết chiến
đấu, chỉ huy chiến đấu, quản đơn vị, biết làm công tác
chính trị, binh vận, dân vận... Hầu hết các học viên sau này
đều những cán bộ nòng cốt xây dựng lực lượng trang
các tính miền Đông Nam bộ.
Ngoài huấn luyện quân sự, chính trị, tăng cường cán
bộ c
ng còn phối hợp với lực lượng
SÁCH TẶNG
2025/OC/VV
17

2.9 Page 19

▲back to top
quân Nam tiến đánh chiếm cầu Bình Lợi, ngăn chặn quân
Pháp mở rộng lấn chiếm ra ngoài Sài Gòn (20/10/1945).
Trường huấn luyện du kích Vĩnh Cửu, Bình Đa chính
tiền thân của trường Quân chính Quân khu 7 trong kháng
chiến chống Pháp.
Rạng sáng ngày 02/01/1946, từ các hướng Hóa An, Tân
Phong, Bình Đa các lực lượng kháng chiến đã tiến công
vào nội ô Biên Hòa tại các điểm: Thành Sãng Đá, các tua
gác đầu cầu Gành, nhà máy cưa BIF, các công sở của địch
trong tình lỵ Biên Hòa, nhà ga Biên Hòa. "Tiếng súng Biên
Hòa" đã thôi thúc hàng loạt thanh niên từ các vùng tạm
chiếm thoát ly ra khu kháng chiến.
Tháng 4/1946, thực hiện sắc lệnh số 23/SL của Chủ
tịch Hồ Chí Minh về việc thành lập Nha Công an vụ, Quốc
vệ cuộc Biên Hòa được đổi tên thành Ty Công an Biên
Hòa. Đồng chí Nguyễn Văn được Khu ủy miền Đông
chỉ định làm thư Tỉnh ủy kiêm trưởng Ty Công an. Ty
Công an Biên Hòa rút đồng chí Đỗ Văn Thi về giao nhiệm
vụ thành lập Đội Quốc vệ. Đội Quốc vệ đội của Một Thi
quy tụ được 30 thanh niên dũng cảm, nhưng chỉ 4 súng
mút một ít lựu đạn, còn lại gậy gộc, dây thừng... Đơn
vị được đưa về đóng quân ngọn sông Buông trong chiến
khu Bình Đa.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Đại đội Lam
Sơn (thuộc Chi đội 10, sau Trung đoàn.3Ị0 Biên Hòa)

2.10 Page 20

▲back to top
đứng chân hoạt động địa bàn căn cứ Chiến khu Bình Đa,
bộ đội nhân dân thường chuyền nhau câu thơ:
"Lam Sơn bám trụ Bình Đa
Đánh giặc Pháp thành ma không đầu"
Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)
Bình Đa nằm trong đường dây giao liên từ chiến khu Đ qua
các căn cứ Hố Cạn, Bình Đa xuống Long Thành, Rịa.
Sau năm 1954, Mỹ nhảy vào miền Nam, nhận vị trí
quan trọng của Bình Đa, từ đầu năm 1955, địch đã đưa
đoàn 5 Vòong A Sáng từ Sông Mao - Bình Thuận vào xây
dựng trại Trần Quốc Toản Bình Đa; từ năm 1959, Mỹ ngụy
tiến hành ủi phá căn cứ cách mạng Bình Đa, xây dựng xa
lộ Sài Gòn - Biên Hòa để phục vụ cho chiến tranh; cho xây
dựng khu kỹ nghệ trên vùng căn cứ du kích Bình Đa-An
Hảo; năm 1965 đế quốc Mỹ trực tiếp đưa quân vào miền
Nam, tiến hành xây dựng tổng kho Long Bình ngay cạnh
phường Bình Đa với qui lớn nhất Đông Nam Á gồm các
kho bom đạn, xăng dầu phục vụ chiến tranh xâm lược. Địa
bàn phường Bình Đa trở thành khu vực quân sự của chính
quyền Sài Gòn với hàng loạt căn cứ, đồn bót: tiểu đoàn 5,
tiểu đoàn 7 nhảy dù, tiểu đoàn 30 chiến tranh chính trị,
tiểu đoàn Vận tải (quân vận), đại đội Pháo binh, tiểu đoàn
16 Công vụ, đại đội quân khuyển, đại đội cảnh sát chiến
kho Quân đoàn III Tiếp vụ những đơn vị làm nhiệm
vụ hậu cần phục vụ cho các đơn vị quân đội thuộc Quân

3 Pages 21-30

▲back to top

3.1 Page 21

▲back to top
khu III (gồm các tỉnh Bình Tuy, Phước Tuy, Biên Hòa, Hậu
Nghĩa, Bình Dương, Sài Gòn - Gia Định.v.v...), bàn đạp
để Mỹ thực hiện cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam
đánh phá miền Bắc nước ta.
Tuy sống trong vòng kiềm tỏa của địch nhưng người
dân phường Bình Đa vẫn âm thầm hoạt động cách mạng
chống lại những âm mưu của địch; điển hình đồng bào
khu vực vườn chôm chôm. Đây tụ điểm ăn chơi của bỉnh
lính Mỹ, ngụy, tụ điểm hút chích ma túy. Lợi dụng tụ điểm
này, lực lượng cách mạng đã cài sở của ta vào trong lòng
địch để khai thác thông tin phục vụ cho lực lượng trang,
lực lượng đặc công tiến công vào căn cứ hậu cần Long Bình
các đơn vị địch trên địa bàn.
Trong cuộc Tổng tấn công nổi dậy Xuân Mậu Thân
1968, sở trong nhân dân ấp Bình Đa, An Hảo cùng
sở tại chỗ các ấp vùng ngoại nội ô như: Hiệp Hòa, Lân
Thành, Tân Thành... treo cờ, rải truyền đơn kêu gọi nhân
dân nổi dậy, diệt một số tên tay sai ác ôn. Nhân dân ấp
Bình Đa An Hảo đã tổ chức che giấu nuôi dưỡng gần 20
cán bộ chiến của đoàn 5 đi lạc trong chiến dịch, sau
đó sở lại tìm cách qua mắt địch, đưa 20 cán bộ, chiến
về căn cứ an toàn.
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, ấp Bình
Đa nơi đứng chân của Chi bộ Tam Hiệp, của Ban
Công vận thị Biên Hòa để tập hợp, tổ chức công nhân

3.2 Page 22

▲back to top
đấu tranh chống áp bức, đòi dân sinh dân chủ, quyền lợi
cho công nhân. sở cách mạng Bình Đa sở của
Thị ủy, thông qua đường lối dân vận đúng đắn Đảng bộ
Biên Hòa đã tuyên truyền giáo dục, vận động nhân dân,
trong đó cả đồng bào đạo nhận thức đúng về âm
mưu gây chia rẽ, lợi dụng tôn giáo của kẻ thù để chống phá
cách mạng. Một số đồng bào đạo Công giáo Bình Đa,
Tân Mai, Tam Hiệp đã trở thành những cảm tình, nòng cốt
trong các phong trào đấu tranh chống địch bắt lính, chống
khủng bố, đòi dân sinh dân chủ địa phương. Trong chiến
dịch Hồ Chí Minh lịch sử tháng 4/1975; dưới sự lãnh đạo
của Thị ủy Biên Hoà, ủy ban khởi nghĩa Tam Hiệp phát
động công nhân nổi dậy làm chủ, tiếp thu nguyên vẹn
sở vật chất các nhà máy, nghiệp, công ty Khu Kỹ nghệ
Biên Hòa.
Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước,
ấp Trần Quốc Toản (gồm 02 khu phố) thuộc phường Tam
Hòa nay phường Bình Đa. Đến ngày 01/9/1988 phường
Bình Đa được thành lập theo Quyết định số 103/HĐBT
ngày 08/06/1988, của Hội đồng Bộ ưưởng (tách từ phường
Tam Hòa).
Ngày nay, Bình Đa một phường nội ô của thành phố
Biên Hòa, tọa lạc vị trí đắc địa, giáp với nhiều khu công
nghiệp lớn của tỉnh nên dân về đây sinh sống làm
việc đông đúc, nhiều dịch vụ kinh doanh thương mại lớn

3.3 Page 23

▲back to top
thuận lợi cho nhân dân phát triển kinh tế, đời sống được
nâng cao. sở hạ tầng của phường Bình Đa hiện nay đã
hoàn thiện đồng bộ, thuận lợi cho việc phát triển kinh
tế, an ninh quốc phòng. Các đường phố đều được đầu
khang trang, được trải nhựa tông hóa đáp ứng nhu
cầu đi lại, buôn bán cho nhân dân, tạo cảnh quang đô thị
hiện đại, văn minh. sở vật chất các khu phố được đầu
đồng bộ, từ các trụ sở hành chính đến trường học, sở
y tế... Hệ thống điện, điện thoại, internet, nước máy được
đầu đồng bộ, hiện đại đáp ứng nhu cầu sử dụng của
nhân dân.
Sau hơn 30 năm kể từ khi thành lập, dưới sự lãnh đạo
đúng đắn của Đảng bộ qua các thời kỳ, phường Bình Đa
đã nhiều thay đổi theo hướng tích cực. Theo đó, đời
sống nhân dân ngày càng được nâng cao về vật chất
tinh thần; công tác xây dựng hệ thống Đảng chính trị
ngày càng hoàn thiện, đáp ứng những yêu cầu trong công
tác quản lý, lãnh đạo địa phương; diện mạo phường ngày
càng thay đổi theo hướng hiện đại, văn minh, nề nếp; an
ninh quốc phòng được đảm bảo...
Phường Bình Đa hiện 4 khu phố được đặt tên theo
số thứ tự từ khu phố 1 đến khu phố 4:
+ Khu phố 1: Được thành lập cùng với quá trình hình
thành phường Bình Đa, chi bộ nhân dân khu phố 1 dưới
sự quan tâm của Đảng ủy phường, sự đồng lòng của đảng

3.4 Page 24

▲back to top
lịch sử Đảng bộ phường Bình Đa (1945-2020)
viên nhân dân sở để tập thể khu phố đạt được nhiều
kết quả đáng trân trọng: 14 năm khu phố vãn hóa, được
đảng chính quyền các cấp tặng nhiều bằng khen, giấy
khen. Hiện nay, khu phố 1 462 hộ thường trú, 24 hộ tạm
trú với 3056 nhân khẩu; chi bộ khu phố 25 đảng viên,
luôn gương mẫu thực hiện các chủ trương, chính sách của
Đảng pháp luật Nhà nước. thư khu phố 1 đồng chí
Trần Sách Hưng. Dưới sự lãnh đạo của chi bộ, khu phố 1
đã đạt một thành tựu nhất định như xóa sửa chữa
nhà tạm cho hộ nghèo, tông hóa 100% đường hẻm góp
phần ổn định đời sống kinh tế cho nhân dân, khu phố
20 năm liên tục được công nhận khu phố văn hóa.
+ Khu phố 2: Trong hơn 30 năm hình thành phát
triển phường Bình Đa sự đóng góp công sức trí tuệ
của cán bộ, đảng viên nhân dân khu phố 2. Hiện nay
khu phố 2 182 đảng viên, sinh hoạt 8 tổ đảng, ưong đó
67 đồng chí nhận được huy hiệu từ 30 đến 70 năm tuổi
đảng. thư khu phố 2 hiện nay đồng chí Nguyễn Quốc
Việt, Đảng ủy viên - Phó Chủ tịch HĐND. Từ năm 2013 cho
đến nay, chi bộ khu phố 2 luôn được công nhận chi bộ
trong sạch vững mạnh. Giai đoạn 2013 đến 2015, chi bộ
khu phố 2 3 đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ 5
năm liền. Trong nhiều năm qua, chi bộ cùng với nhân dân
khu phố đã nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng quê
hương Bình Đa văn minh giàu đẹp. Khu phô đã xây dựng 6
căn nhà tình nghĩa cho hộ chính sách khó khăn về nhà

3.5 Page 25

▲back to top
trị giá 180 triệu đồng; xây cầu, làm đường, nâng cấp nhiều
đoạn đường bằng nguồn kinh phí hội hóa trị giá 1 tỷ 350
triệu đồng. Cùng với sự phát triển kinh tế việc cải thiện
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân luôn
được chú ưọng. Khu phố đội dưỡng sinh của người cao
tuổi với gần 50 hội viên, 60% dân số tập thể dục, thể thao
thường xuyên. Khu phố 21 năm được công nhận khu
phố văn hóa.
+ Khu phố 3: một trong 4 khu phố lịch sử gắn với
quá trình hình thành phát triển phường Bình Đa. Trong
suốt hơn ba mươi năm qua, chi bộ nhân dân khu phố
3 đã rất nhiều đóng góp cho sự lớn mạnh phát triển
của địa phương. Cho đến nay, chi bộ khu phố 3 đã trải qua
16 kỳ đại hội, khi mới thành lập chi bộ 10 đảng viên,
đến nay chi bộ 7 tổ đảng, hơn 86 đảng viên, 42 đồng
chí đã được tặng huy hiệu từ 30 đến 60 năm tuổi đảng.
thư chi bộ khu phố 3 hiện đồng chí Thị Hồng Vân,
Đảng ủy viên - Chủ tịch UBMTTQVN phường. Khu phố
3 19 tổ dân phố, 839 hộ 4197 nhân khẩu. Đời sống
nhân dân chủ yếu sống bằng nghề buôn bán, kinh doanh
các mặt hàng phục vụ đời sống, sản xuất, làm công nhân
các công ty, trong các khu công nghiệp. Khu phố trên
22 năm được công nhận khu phố văn hóa.
+ Khu phố 4: một trong bốn khu phố gắn liền với
quá trình hình thành phát triển phường Bình Đa, trong

3.6 Page 26

▲back to top
hơn 30 năm qua, cán bộ nhân dân khu phố 4 đã nhiều
đóng góp cho sự nghiệp xây dựng phát triển của địa
phương; cán bộ nhân dân khu phô ra sức phấn đấu thực
hiện Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, đẩy
mạnh toàn diện đồng bộ sự nghiệp đổi mới, tiến hành
cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng. Khu phố
hơn 20 năm đạt khu phố văn hóa. Hiện nay, chi bộ khu
phố 4 65 đảng viên sinh hoạt 5 tổ đảng, đồng chí Đinh
Xuân Hoàn giữ chức vụ thư.
* Đặc điểm văn hóa tín ngưỡng: bất kỳ giai đoạn
lịch sử nào, đã người dân nước Việt, thuộc dân tộc
nào, theo tôn giáo nào, tín ngưỡng hay không,... ai
cũng khát khao, mong muốn đất nước mình độc lập, nhân
dân mình được sống trong tự do hạnh phúc. Hiến pháp
năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo
soạn thảo, đã khẳng định quyền tự do tín ngưỡng quyền
tự nhiên của người Việt Nam. Người nghiêm khắc phê
phán những biểu hiện vi phạm quyền tự do tín ngưỡng,
quan tâm giáo dục cán bộ chính quyền, quân đội các
đoàn thể phải tôn trọng tự do tín ngưỡng, bảo vệ đền chùa,
nhà thờ. Chính thế để phát huy giữ gìn bản sắc văn
hóa dân tộc theo NQ33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng (khóa XI). lẽ đó Đảng bộ phường luôn coi
trọng về chính sách tôn giáo dân tộc trong giai đoạn từ
1988 đến nay được thể hiện như:

3.7 Page 27

▲back to top
Phường Bình Đa 9 sở tôn giáo, tồn tại trên địa bàn
từ những năm của thập niên 50. Trong đó bao gồm: 2 nhà
thờ, 3 khu nhà nguyện, 1 nhà dòng, 1 đền thờ vua Hùng,
01 ngồi chùa, 01 ngôi miếu. Các sở này nơi
quần chúng nhân dân gởi gắm tâm linh, tín ngưỡng theo
từng tôn giáo họ ngưỡng vọng, tôn sùng. Đảng ủy cùng
khối vận, các ban ngành đoàn thể đã xây dựng mối quan
hệ mật thiết với các ban hành giáo, ban trị sự trong công
tác vận động thực hiện phương châm "tốt đời, đẹp đạo".
Luôn chấp hành các quy định pháp luật, pháp lệnh của
nhà nước, mối quan hệ hòa đồng, tôn trọng lẫn nhau
trên tinh thần đoàn kết. về sở vật chất tinh thần ngày
càng được nâng cao tính nghiêm trang thánh thiện.
Đặc biệt Đền thờ Quốc tổ Hùng Vương được công nhận
di tích văn hóa lịch sử của tỉnh Đồng Nai. Các sở tín
ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn phường Bình Đa tọa lạc rải
rác các khu phố được xây dựng quy mô, kiên cố, lối
kiến trúc đặc trưng, mang đậm dấu ấn lịch sử, văn hóa của
từng tôn giáo, tín ngưỡng. Nhiều năm qua, các sở tín
ngưỡng, tôn giáo đã đáp ứng nhu cầu tâm lỉnh của các giáo
dân, tín đồ quần chúng nhân dân trong ngoài địa bàn
phường. Trong những ngày lễ, tết các sở tín ngưỡng, tôn
giáo đã gìn giữ, tổ chức các hoạt động lễ hội làm phong
phú đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân sở tại.
+ Giáo xứ Thánh Giuse: Nguyên thủy Thánh đường
Giuse một nhà nguyện được xây dựng từ năm 1956, năm

3.8 Page 28

▲back to top
1968 nâng lên thành giáo xứ. Thánh đường Giuse được xây
dựng theo kiến trúc hiện đại diện tích khá lớn. Đây
nơi giáo dân thường xuyên lui tới đọc kinh cầu nguyện.
Hàng năm, Thánh đường tổ chức các ngày lễ theo lịch
Công giáo. Tọa lạc trên đường Trần Quốc Toản thuộc khu
phô 3 phường Bình Đa. Giáo đường được xây dựng năm
1957 do Linh mục Khổng Tiến Giác, Chánh xứ đầu hên.
Đến nay đã trải qua 06 đời linh mục chính thức trông coi,
điều hành quản lý. Hiện nay linh mục cùng Ban Hành giáo
luôn gắn cùng địa phương vận động giáo dân thực hiện
tốt các công tác hội từ thiện, thanh niên thi hành nghĩa
vụ quân sự, nhân dân hưởng ứng tốt các phong trào địa
phương góp phần xây dựng đời sống văn hóa đoàn kết
trong cộng đồng dân cư. Một phường nhiều thiết chế tín
ngưỡng, tôn giáo, lịch sử xây dựng lâu đời, chứa đựng
nhiều giá trị văn hóa - lịch sử.
+ Giáo xứ Mỉcae: Được xây dựng khánh thành vào
năm 1973, với tên gọi ban đầu nhà nguyện Khiết Tâm.
Ngày 20/10/2015 chính thức được công nhận giáo xứ
tên Thánh đường Giáo xứ Micae, thuộc tổ 21, khu phố
3, phường Bình Đa. Thánh đường diện tích hơn 300 mét
vuông, đây nơi thờ phượng, đọc kinh cầu nguyện cử
hành các nghi thức, nghi lễ tôn giáo theo lịch phụng vụ
Công giáo.

3.9 Page 29

▲back to top
+ Dòng tu Nữ tỳ thánh thể Micae: Tọa lạc tại 38, tổ
12, KP2, p. Bình Đa. sở được xây dựng từ năm 1965 do
Linh mục Hoành Đức Trọng quản lý. Từ năm 1990 đến nay
do nữ tu Đoàn Thị Minh Tâm - Chức phẩm bề trên trực
tiếp quản lý. Ngoài việc thực hiện tu xuất, các đã tổ chức
những việc làm thiết thực như mở lớp khuyết tật, thành
lập trường mẫu giáo Hoa Lan góp phần cùng địa phương
giải quyết gánh nặng về trường lớp.
+ Chùa Tịnh Nghiêm: Chùa Tịnh Nghiêm thuộc khu
phố 4 do Đại đức Thích Tam Đạt khai sơn vào năm 1969.
Chùa kiến trúc hiện đại, không gian thoáng đãng, hệ
thống tượng thờ trang nghiêm được sơn son thếp vàng cổ
kính. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông, đối tượng thờ chính
tam thế Phật (Phật Thích Ca, Phật Di Đà, Phật Bồ Tát).
Hàng năm, chùa tổ chức cúng lớn vào rằm tháng Giêng,
tháng Tư, tháng Bảy âm lịch theo nghi thức tôn giáo.
+ Miếu Nguyên: Còn tên gọi miếu Quan Âm,
tọa lạc tại khu phố 2. Miếu do nhóm người Hoa gốc Quảng
Đông, Trung Quốc di về địa phương xây dựng vào năm
1969, trùng tu năm 1974. Miếu Nguyên diện tích
90m2, mái tồn giả ngói, các đầu đao được thiết kế vươn dài
về phía trước, đỉnh mái gắn rồng chầu hồ bằng gốm.
Miếu dạng chữ nhất, chánh điện kết cấu tứ trụ đúc
bằng tông cốt thép, cột xi măng trang trí nổi rồng mây,
nền gạch bông. giữa miếu thờ mẹ Quan Âm, bên phải thờ

3.10 Page 30

▲back to top
Quan Công, bên trái thờ Án thủ công công (có cốt tượng);
riêng tượng bằng xi măng từ thời dựng miếu. Hệ
thống liễn đối chữ Hán được đắp nổi tinh xảo trên tường,
cột, cổng tam quan. Phía trước miếu tượng Phật Di Lặc,
Tiêu Diện đại sĩ, Hộ pháp; bên phải sân miếu tượng Đức
Quan Âm lộ thiên.
Hàng năm, tại miếu Nguyên tổ chức các ngày cúng:
19 tháng 2 vía Quan Âm cúng từ 7 giờ tối đến 3 giờ sáng
hôm sau, mục đích cầu an cho cộng đồng người Hoa. Ngày
15 tháng 7 âm lịch cúng lễ Vu lan, lễ vật chính heo sống
tế (theo thông lệ cứ 3 nãm mới tế một lần) cùng hoa quả,
gà, vịt. Lễ Vu lan một lễ lớn trong năm, nên chùa thường
treo các đèn phúc đăng để con thỉnh về cầu cho phúc,
lộc, cát tường.
+ Miếu Án Thủ: Miếu tọa lạc tại khu phố 3, do cộng
đồng người Hoa địa phương dựng vào cuối thập niên
60 của thế kỷ XX với vật liệu nhẹ đơn sơ: vách tre gỗ, mái
lợp tôn; để thờ Án thủ công công (có 2 cốt tượng được đúc
năm 1992 1998). Năm 1992, cộng đồng người Hoa tại địa
phương cùng nhau góp công, của tạo dựng lại ngôi miếu
theo kiểu chữ nhất trên diện tích khoảng 80m2. Hàng nám
miếu không tổ chức lễ cúng riêng phối cúng với miếu
Quan Âm (Miếu Nguyên).
+ Đền Hùng Vương: Đền thờ Hùng Vương thuộc khu
phố 3, được xây dựng vào năm 1968; trùng tu năm 1991,

4 Pages 31-40

▲back to top

4.1 Page 31

▲back to top
với diện tích 230mz bằng tông cốt thép, mái ngói, các
đầu đao hình mũi hài tạo dáng cổ kính. Đền thờ 5 gian,
gian giữa bài trí tượng thờ vua Hùng thứ 18 (phiên bản của
tượng Hùng Vương Phú Thọ). Lễ giỗ Tổ Hùng Vương
đền thờ Quốc tổ Hùng vương phường Bình Đa trước đây
chỉ được tổ chức vào ngày mùng 10 tháng 3 (âm lịch). Ngày
nay, lễ được tổ chức vào các ngày mùng 08, 09 10 tháng
03 (âm lịch) hàng năm. Gồm hai phần: Lễ hội. Cụ thể
phần lễ như sau:
Từ ngày mùng 06 07 tháng 3 (âm lịch): UBND
phường Bình Đa cùng với Ban Trị sự đền thờ họp bàn phân
công nhiệm vụ dọn dẹp vệ sinh trong, ngoài di tích cho
sạch sẽ, tươm tất. Lên thực đơn, chuẩn bị vật thực cúng
tế. Chưng bông hoa, trái cây, nhang đèn trên các bàn thờ.
Mượn bàn ghế, dựng rạp, tteo cờ, băng rôn tuyên ưuyền.
Ngày mùng 09 tháng 3 (âm lịch): Ban Trị sự đền thờ
tổ chức lễ Cáo yết để nghinh đón các vua Hùng Bác Hồ
về chứng giám cho lòng thành kính của con cháu. Ngày
10 tháng 3 âm lịch (lễ chính): UBND thành phố Biên Hòa,
UBND phường Bình Đa tổ chức lễ rước kiệu vua Hùng
Bác Hồ, lễ dâng hương tại đền thờ Quốc tổ Hùng Vương;
Ban Trị sự đền thờ tổ chức lễ tế nữ lễ tế nam.
Trong tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam, thời
đại các vua Hùng đánh dấu mốc quan trọng, sở nền
tảng cho việc từng bước hình thành, phát ưiển quốc gia.

4.2 Page 32

▲back to top
Với truyền thống nhớ ơn tổ hên, vào năm 1968, người
dân Tam Hiệp (Biên Hòa) xây dựng một ngôi đền thờ
Quốc tổ Hùng Vương, thể hiện tấm lòng nghĩa cử nhớ
về cội nguồn dân tộc. Di tích hiện nay tọa lạc trên địa bàn
khu phô 3, đường Phạm Văn Thuận (quốc lộ 15 cũ) thuộc
phường Bình Đa. Năm 1971, đền được xây dựng hoàn
chỉnh. Bàn thờ Quốc tổ Hùng Vương được trang trọng
đặt trong trung tâm kiến trúc đền. Kiến trúc di tích đền
được trùng tu qua nhiều đợt, trong đó, đợt trùng tu lớn
vào những năm đầu thập niên 90, thế kỷ XX. Từ ngôi đền
nhỏ, quy kiến trúc di tích được xây dựng khang trang
với những vật liệu kiên cố. Một toà nhà hình chữ nhật với
kiểu thức 3 gian hai chái với sự trí hài hoà. Kiến trúc
tổng thể hình chữ nhật, kiểu thức lầu trống nhô lên tôn
cao nơi thờ phượng. Trên mái trang trí hình ngọc châu
toả sáng như vút lên trong một không gian thoáng đãng.
Mặt tiền di tích hàng cột lưỡng long câu đối nêu cao
truyền thống nhớ ơn tổ tiên. Đền Hùng Vương Biên Hòa
những tặng vật của nhân dân Phú Thọ tặng như đất,
nước trống đồng minh khí - những biểu tượng nối kết từ
đất Tổ đến vùng đất phương Nam của đất nước. Bức lam
chạm trổ với đề tài "Lưỡng long tranh châu" với đường nét
tinh xảo làm tăng thêm vẻ uy nghiêm nơi chôn thờ phụng.
Trong di tích còn bức phù điêu chủ đề: "Công đức lưu
truyền, Hùng Vương điển tích" thể hiện đất nước Việt Nam
thống nhất.

4.3 Page 33

▲back to top
Đền thờ Quốc tổ Hùng Vương phường Bình Đa,
thành phố Biên Hòa một số đền thờ các tỉnh phía
Nam đều thờ vọng Quốc tổ Hùng Vương (đối tượng chính).
Trong sâu thẳm tâm thức của mỗi người dân Việt Nam nói
chung, người dân Biên Hòa - Đồng Nai nói riêng từ bao đời
nay, vua Hùng vị Tổ đã công dựng nên quốc gia Văn
Lang - Nhà nước đầu tiên, khai của dân tộc Việt Nam.
Vua Hùng chính nguồn gốc tổ tiên chung của cả dân tộc
Việt Nam. Chính vậy, tín ngưỡng thờ cúng vua Hùng
một vị trí rất quan trọng trong đời sống tâm linh tình
cảm của các thế hệ người Việt Nam, vừa thiêng liêng, vừa
điểm tựa tinh thần, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân tộc cùng nhau dựng nước giữ nước. Đối với vùng
đất Biên Hòa - Đồng Nai, việc gìn giữ phát huy những
giá trị văn hóa quý báu tín ngưỡng thờ cúng vua Hùng
trong đời sống đương đại, để tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp
đổi mới phát triển kinh tế - hội của tỉnh hết sức
cần thiết. Cũng những lẽ trên, tín ngưỡng thờ cúng
vua Hùng Bình Đa - Biên Hòa luôn được chính quyền
nhân dân địa phương đặc biệt quan tâm. Lễ giỗ Tổ Hùng
Vương các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao,
trò chơi dân gian, đang sẽ được tổ chức một cách
quy mô, trọng thể, trang nghiêm mục tiêu: "Xây dựng
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân rộc" theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khóa
VIII) của Đảng ta đề ra. Với những giá trị văn hóa, lịch sử,

4.4 Page 34

▲back to top
đền Hùng Vương được UBND tỉnh Đồng Nal công nhận
Di tích cấp tỉnh nâm 2015.
- sở giáo dục: Lĩnh vực giáo dục luôn được quan
tâm nên trong nhiều năm qua Đảng bộ nhân dân trong
phường đầu cả về vật chất lẫn đội ngũ giáo viên nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục. Hiện nay, toàn phường
một số trường học của tỉnh địa phương như: Trường
Chính trị tỉnh Đồng Nai, Trường Đại học Đồng Nai, Trường
Phổ thông Thực hành phạm các trường của phường
như: Trường Tiểu học Trần Quốc Tuấn, Trường Tiểu học
Bình Đa, Trường THCS Bình Đa, Trường Mầm non Bình
Đa. Ngoài ra còn 01 trường mầm non thục Hoa Lan
14 nhóm trẻ ngoài công lập đã được cấp phép hoạt động
theo quy định.
Theo số liệu thống năm 2019, tổng số giáo viên,
cán bộ, người lao động đang làm việc các trường trên
địa bàn phường 291 người; số đảng viên đang sinh hoạt
tại chi bộ các trường 92 đảng viên. Đội ngũ đảng viên,
người lao động các trường đều chấp hành tốt quy định
của chính quyền cũng như nhiều hoạt động phong trào
địa phương. Trong nhiều năm, các chi bộ trường, đảng
viên, giáo viên đã đạt được nhiều thành tích cao như giáo
viên giỏi cấp huyện, cấp tỉnh, nhận được khen thưởng các
cấp... Những thành tích của các đảng viên, cán bộ, người
lao động đang sinh hoạt, làm việc các trường đã góp phần
cho địa phương hoàn thành nhiệm vụ được giao.

4.5 Page 35

▲back to top
- Trạm y tếphường: Trạm y tế phường Bình Đa được
xây dựng vào năm 1975, ban đầu chỉ một trạm nhỏ,
sở vật chất thiếu thốn, chỉ 4 y tá. Đến nay trạm được
xây mới với diện tích 300mz. Gồm 14 phòng chức năng
như: phòng khám phụ khoa, phòng kế hoạch hóa gia đình,
phòng dược, phòng phụ sản, phòng khám thai. Hiện nay
trạm y tế 10 cán bộ nhân viên, trong đó 01 bác sĩ.
Trạm y tế phường được công nhận đạt chuẩn quốc gia về
y tế tại Quyết định số 171/QĐ-UBND ngày 17/01/2014
của UBND tính Đồng Nai (phường đạt chuẩn y tế quốc gia
năm 2007).
Hàng năm trạm y tế phường hoàn thành tốt các
chương trình y tế quốc gia, phối hợp với chính quyền địa
phương tuyên truyền nhân dân thực hiện kế hoạch hóa
gia đình, duy trì sinh hoạt các câu lạc bộ sức khỏe sinh sản
vị thành niên, thanh niên. Vận động các cặp vợ chồng áp
dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, giảm tỷ lệ tăng dân
số tự nhiên. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được
chú trọng, công tác khám chữa bệnh tại trạm y tế đảm bảo
chất lượng. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền phòng
chống dịch bệnh, các năm qua trên địa bàn phường không
dịch bệnh xảy ra. Trạm y tế phường Bình Đa hiện 5
đảng viên sinh hoạt tại các chi bộ thuộc Đảng bộ phường
Bình Đa.

4.6 Page 36

▲back to top
CHƯƠNG I
BÌNH ĐA TRONG KHÁNG CHIẾN CHÓNG PHÁP
[1945-1954]
1. NHỮNG NĂM ĐÀU KHÁNG CHIÉN
Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời một bước ngoặt đại
trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Lần đầu tiên sau gần
100 năm bị thực dân Pháp đô hộ, Đảng Cộng sản Việt Nam
đã lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi ước bao đời
của dân tộc: Tự do, độc lập, nhân dân làm chủ vận mệnh
của mình. Địa bàn phường Bình Đa hiện nay ấp Trần Quốc
Tuấn thuộc Tam Hiệp thời kỳ kháng chiến chống thực
dân Pháp đế quốc Mỹ. Sau cách mạng ủy ban nhân dân
cách mạng lâm thời Tam Hiệp đã cử anh Nguyễn Vãn
Cường, một thanh niên tiên bộ làm chủ tịch. Trụ sở ủy ban
đặt tại nhà hội cũ. Anh Thâm được cử làm trưởng thôn
Bình Đa, An Hảo.
Công việc đầu tiên của chính quyền Tam Hiệp
xây dựng lực lượng trang nhân dân. Mỗi thôn Tân Mai,

4.7 Page 37

▲back to top
Vĩnh Cửu, Bình Đa tổ chức một tiểu đội dân quân tự vệ
thường xuyên luyện tập, ban đêm tuần tra canh gác bảo
vệ xóm làng. Lực lượng hang Tam Hiệp buổi đầu chỉ
hai khẩu súng săn Ca líp 12 tịch thu của hương chức
cũ, còn lại chỉ hang bị giáo mác tầm vông vạt nhọn.
Trong nhân dân dấy lên phong trào lấy súng Nhật rất sôi
nổi. Anh cống một số dân làng tìm cách đột nhập trại
lính Nhật suối Săn Máu lấy được mấy thùng đạn đại liên.
Nhưng do anh em không giữ được mật, chúng bắt được
anh Cống trong hàng rào rồi đem đi thủ tiêu mất tích. Một
buổi tối anh Hai Cục từ Bến Gỗ về nhà, qua sở cao su tổng
Trường thấy tên lính Nhật mắc đi tiểu xa bót gác, để khí
hớ hênh, đã xông vào cướp khẩu súng một ba trong
đó một radlo quân sự với mấy bộ đồ quần áo lính. Bằng
nhiều cách khác: mua, đổi chác, kế mỹ nhân... chỉ trong
một thời gian ngắn, tiểu đội dân quân Bình Đa gồm các
thanh niên tích cực do đồng chí Huỳnh Văn Hớn tổ chức
từ năm 1944 đã dăm sáu khẩu súng, tiểu đội này được
điều đi canh gác, bảo vệ một số quan nội ô.
Tháng 9/1945, Tỉnh ủy Biên Hòa mở Trại huấn luyện
cán bộ du kích đầu tiên do đồng chí Phan Đình CôngU) chỉ
đạo để đào tạo cán bộ quân sự chính trị cho du kích
các địa phương trong toàn tỉnh. Lớp học bộ phận tiếp
1 Phan Đình Công, ủy viên Thường vụ Tình ủy lâm thời tinh
Biên Hòa được Tinh ủy phân công mở lớp huấn luyện. Ban đầu gọi Trại
huấn luyện Du kích Vĩnh Cửu (ấp Vĩnh Cửu, Tam Hiệp).

4.8 Page 38

▲back to top
tế lương thực, thực phẩm, hàng ngày những đoàn phụ nữ
cứu quốc Tam Hiệp đều đặn cử chị em tới giúp nấu
nướng ủng hộ rau, hoa quả cho học viên. Lúc đó, tuy
chưa phong trào 3 không (không thấy, không nghe,
không nói để phòng gian bảo mật), nhưng nhân dân đã
ý thức cao: ai không việc thì không đi vào phạm
vi của trại huấn luyện, người lạ mặt lảng vảng gần đó thì
nhân dân báo cho bộ phận bảo vệ xét hỏi kịp thời... Tháng
10/1945, sau khi đánh chiếm thị Biên Hòa, theo lệnh
quân đồng minh, bọn lính Nhật tổ chức lùng sục, Ban Chỉ
huy trại Huấn luyện quyết định chuyển địa điểm về đình
Bình Đa một thời gian, rồi dời lên vùng Sở tiêu Đất Cuốc
(huyện Tân Uyên). Một trăm tám mươi học viên của hai
khóa vốn quý, làm nòng cốt xây dựng phòng trào Long
Thành, Xuân Lộc, Rịa, Tân Uyên... Một số sau này trở
thành cán bộ cao cấp của Đảng quân đội.
2. KHÁNG CHIẾN TOÀN DÂN TOÀN DIỆN
Núp dưới bóng quân Anh, thực dân Pháp quay trở lại
xâm lược nước ta lần thứ hai. Cuối 10/1945, chúng chiếm
thị Biên Hòa, Tỉnh ủy lâm thời Biên Hòa, Quận ủy Châu
Thành đã chỉ đạo nhiều quan, công sở của tỉnh tản
lên Tân Uyên, một số quan đoàn thể của quận Châu
Thành dời xuống Vĩnh Cửu (ấp), Bình Đa, Bến Gỗ, để lại
một thị vườn không nhà trống, ủy ban Tam Hiệp
vẫn làm việc bình thường tại trụ sở. Chợ Bao bất đầu
nhóm họp, mới đầu chỉ vài hàng quán rồi nhanh chóng

4.9 Page 39

▲back to top
phát triển đủ loại tiệm phê, hủ tiếu, sạp tạp hóa,
người buôn thúng bán bưng... Đêm đêm đèn khí đá, đèn
măng xông thắp tới khuya trong khi vùng thị chìm
riong bóng tối nặng nề, thỉnh thoảng rộ lên vài ttàng súng
hoảng loạn. Báo chí xuất bản tại Sài Gòn vẫn tới tay người
đọc tại đây nội trong ngày. Nhưng không khí hòa bình
đây chỉ kéo dài hơn một tháng. Khoảng 9 giờ sáng ngày
01/12/1945 tiểu đội dân quân Bình Đa đang canh gác
bến đò Kho chợt nghe tiếng tàu giặc từ Rạch Cát vọng tới.
Anh Mẹo tiểu đội trưởng ra lệnh triển khai đội hình
chuẩn bị chiến đấu. Cả tiểu đội lúc đó một súng côn,
hai khẩu súng ca líp 12 vài khẩu mút kỹ - mỗi khẩu đội
hai chục viên đạn vài trái lựu đạn. Một tàu giặc bằng gỗ
từ thị chạy thẳng về phía bến đò. Nóc tàu một tên
da đen vạm vỡ ôm cây trung liên, miệng phì phèo thuốc
lá. Mặc hai bên quá chênh lệch về hỏa lực khí, anh
Mẹo vẫn hạ quyết tâm chiến đấu để bảo vệ nhân dân
các quan phải hy sinh. Tàu giặc giảm tốc độ chực
đổ bộ xuống bến đò. Khi tàu chỉ cách Ưận địa ta vài chục
mét, anh em đồng loạt nổ súng. BỊ đánh bất ngờ bọn giặc
trên tàu hoảng hốt, một mảnh gỗ của vỏ tàu trúng đạn
bị vỡ làm nước ào vô. Tàu chòng chành quay mũi về bên
phía lao Phố, anh em phấn khởi bắn tiếp. giặc bỏ lại
tàu lóc nhóc chạy bộ về Biên Hòa, mấy tuần sau mới cho
chiếc khác xuống kéo về. Chiến thắng trận đầu của đơn vị
dân quân Bình Đa tuy chưa diệt được tên địch nào nhưng

4.10 Page 40

▲back to top
đả gây niềm phấn khởi lớn ưong nhân dân cán bộ:
ta dám đánh đánh thắng. Ngay chiều hôm đó giặc mở
cuộc càn vào Bình Đa, bắn chết Tiểu để trả thù nỗi
nhục buổi sáng.
Theo kế hoạch chung, đêm 01 rạng sáng ngày
02/01/1946 cánh quân Ba Hên sẽ đi ghe lên nội ô Biên Hòa
tham gia cuộc tập kích vào quân Pháp ưong thị xã. Y ra
lệnh tập trung 10 chiếc ghe bến Đá trong khi y dẫn quân
đi bộ xuống bến đò An Hảoll). Đoàn ghe xuôi xuống An
Hảo đón thì y dẫn quân ngược lên bến Đá. Phía thị súng
nổ ran, lửa cháy sáng rực, quân Ba Hên vẫn nhùng nhằng
tại Bình Đa. Khi tiếng súng dịu đi, y ra lệnh lấy ba ghe lớn
chở đơn vị này dông tuốt về Long Thành.
Cuộc tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội khóa I ngày
06/01/1946 một sự kiện họng đại thể hiện quyền làm
chủ của nhân dân. Từ tờ mờ sáng, các công dân nam nữ từ
18 tuổi ưở lên Bình Đa đã tập trung tại phòng bỏ phiếu
xóm Cầy. Do hoàn cảnh thời chiến không kịp in phiếu
bầu nên mọi người tên vào danh sách làm sẵn, công
việc bỏ phiếu kết thúc gọn trong buổi sáng, không ai vắng
mặt. Tấm thẻ cử tri được nhân dân trân trọng giữ gìn
công nhận người mang tấm thẻ công dân của nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa, danh hiệu cao quý từ xưa
chưa hề có.
1 Bến đò An Hảo hiện nay thuộc phường An Bình.