Hang Gon ky quan cu thach Viet Nam

Hang Gon ky quan cu thach Viet Nam

1 Pages 1-10

▲back to top

1.1 Page 1

▲back to top
PGS.TS. PHẠM ĐỨC MẠNH - PGS.TS. NGUYÊN g ia n g h ả i
ThS. NGUYỄN HồNG ÂN
930.109 597 75
ĐC
H 106 G
liw lõi
KỲ QUAN CỤ THẠCH
VIỆT NAM

1.2 Page 2

▲back to top
2j l -P[' %(.
4í\\^

1.3 Page 3

▲back to top
HÀNG GÒN
- KỲ QUAN Cự THẠCH VIỆT NAM

1.4 Page 4

▲back to top
Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Hàng Gòn - Kỳ quan Cự thạch Việt Nam / Phạm Đức Mạnh,
Nguyên Giang Hải, Nguyên Hồng Ân. - H. : Khoa học hội,
2015. - 508tr.: minh hoạ ; 24cm
ĐTTS ghi: Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG-HCM; Viên Khảo
cổ học
1. Khảo cổ học 2. Di tích cự thạch 3. Mộ cổ 4. Hàng Gòn
5. Long Khánh 6. Đồng Nai
930.10959775-dc23
KXF0064p-CIP

1.5 Page 5

▲back to top
PGS.TS. PHẠM ĐỨC MẠNH - PGS.TS. NGUYẺN GIANG HÁI
ThS. NGUYỄN HÔNG ÂN
HÀNG GÒN
- KỲ QUAN Cự THẠCH
VIỆT NAM
2018/ec/VL 00001520
NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC HỘI
NỘI - 2015
-2-B16/TC/VLQ-Ú4738 -

1.6 Page 6

▲back to top

1.7 Page 7

▲back to top
DANH SÁCH THAM GIA KHAI QUẬT
NGHIÊN CỨU CHÍNH QUÀN THẺ KIẾN TRÚC
Mộ Cự THẠCH HÀNG GÒN (ĐÔNG NAI)
1. Đỗ Nghiệp (Bào tàng tinh Đồng Nai)
2. Đỗ Đăng Thẳng (Ban Quản Di tích Danh thắng Đồng Nai)
3. Đỗ Ngọc Chiến (Trường Đại học Khoa học hội nhãn văn,
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)
4. Edmond Saurin (Service Géologique de rindochine)
5. Eiji Nitta (GS. TS., University ofKagoshima, Japari)
6. Jean Bouchot (École franẹaise d’Extrême-Orient)
7. Henri Parmentier (Écolefran<;aise d’Exưême-Orienf)
8. Khúc Ngọc Hải (Ban Quàn Di tích Danh thắng Đồng Nai)
9. Thanh Thiện (Ban Quàn Di tích Danh thắng Đồng Nai)
10. Trí Dũng (Ban Quản Di tích Danh thắng Đồng Nai)
11. Louis Malleret (Écoỉe/ranqaise d’Exưême-Orient)
12. Lưu Ánh Tuyết (ThS., Bảo tàng tinh Đồng Naí)
13. Lưu Văn Du (Bảo tàng tình Đồng Naí)
14. Mariko Yamagata (TS., Universựy ofRikkyo, daparì)
15. Nguyễn Giang Hải (PGS. TS., Viện Khảo cổ học)
16. Nguyễn Công Chuyên (Trường Đại học Khoa học hội
nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chi Mình)
17. Nguyễn Hồng Ân (ThS., Sở Văn hóa, Thể thao Du lịch tinh
Đồng Nai)

1.8 Page 8

▲back to top
18. Nguyễn Hữu Lộc {Bảo tàng tinh Đồng Nai)
19. Nguyễn Thị Hoài Hương (ThS., Viện Nghiên cứu phát triển
Thành phổ Hồ Chí Minh)
20. Nguyễn Thị Tính {Ban Quản Di tích Danh thắng tinh
Đồng Nai)
21. Nguyễn Văn Long (TS., Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ)
22. Nguyễn Văn Trung {Ban Quàn Di tích Danh thắng Đồng Naí)
23. Nguyễn Vĩnh Huy {Bào tàng tinh Đồng Nai)
24. Nguyễn Xuân Nam {Ban Quàn Di tích Danh thang Đồng Nai)
25. Nishimura Masanari (GS. TS., Universìty ofKansai, Japari)
26. Pcttcr Bcllwood (GS. TS., University ofCanberra, Australia)
27. Phạm Đức Mạnh (PGS. TS., Trường Đại học Khoa học hội
nhăn văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)
28. Phạm Quang Sơn (TS., Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ)
29. Phạm Thị Ngọc Thào (ThS., Trường Đại học Khoa học hội
nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)
30. Phạm Văn Minh {Ban Quản Di tích Danh thang Đồng Nai)
31. Phan Đình Dũng (ThS., Bảo tàng tinh Đồng Nai)
32. Phan Th| Thịnh {Ban Quản Di tích Danh thẳng Đồng Nai)
33. Trần Anh Thỉnh {Bảo tàng tinh Đồng Nai)
34. Trần Hữu Hạnh {Bảo tàng tinh Đồng Nai)
35. Trần Minh Trí {Bảo tàng tinh Đồng Naí)

1.9 Page 9

▲back to top
MỤC LỤC
Lời giới thiệu
PHÂN THỬNHÁT
ĐIÊU KIỆN Tự NHIÊN NHÂN VĂN
VÙNG ĐÁT ĐỎ BA DAN ĐỒNG NAI
Trang
15
19
PHÂN THỬHAI
CÁC DI TÍCH VĂN HÓA cự THẠCH TRÊN VÙNG
ĐẤT ĐỎ LONG KHÁNH - XUÂN Lộc (ĐÔNG NAI)
27
Chương I
Di tích cự thạch Hàng Gòn I (7A)
30
A. Phát hiện ban đầu
30
B. Khai quật
30
C. Các công bố đầu tiên của Jean Bouchot
31
D. Công trình nghiên cứu của Henri Parmentier học
già nước ngoài
35
E. Công cuộc khảo cứu di tích Cự thạch Hàng Gòn I (7A)
của giới khảo cổ học Việt Nam giai đoạn 1975-1995
41
Chương II
Di tích cự thạch Hàng Gòn H (7B)
51
A. Phát hiện ban đầu
51

1.10 Page 10

▲back to top
B. Vị ưí - cảnh quan hiện tại của khu di tích Cự thạch
Hàng Gòn II (7B)
c. Điền khảo cổ học di tích Cự thạch Hàng Gòn II
(7B)
C1. Khai quật khảo cổ học
1. Các phương pháp nghiên cứu hiện trường
2. Bình diện khảo cổ học
3. Địa tầng khảo cổ học
C2. Thám sát khảo cổ học
53
57
57
57
58
60
61
Chương IH
Điền (thám sát - khai quật) nghiên cứu hiện trường
Hàng Gòn vùng phụ cận giai đoạn 2006-2011
63
A. Đợt điền 2006-2007 phục vụ chương trình tôn
tạo, trùng tu, bảo tồn Hàng Gòn theo Luật Di sản
văn hóa
63
B. Đợt điền 2010-2011 nghiên cứu trầm tích Hàng
Gòn vùng ba dan trè phụ cận
85
Chương IV
Hiện vật khảo cổ học
88
A. Di tích Cự thạch
88
1. Cụm A
88
2. Cụm B
88
3. Cụm c
88
B. Di vật khảo cổ học khác
91
1. Đồ đồng
91

2 Pages 11-20

▲back to top

2.1 Page 11

▲back to top
2. Đồ gốm
94
3. Đồ đá
104
Chương V
Kết quả giám định thổ nhưỡng mẫu vật tại Hàng Gòn
vùng phụ cận 1996-2011
124
A. Phân tích bào tử phấn hoa Hàng Gòn vùng
phụ cận
124
B. Phân tích thạch học dưới kính hiển vi phân cực
145
c. Phân tích thành phần chất liệu gốm bằng phương
pháp hóa học - quang phổ định lượng
152
D. Phân tích thành phần hợp kim đồng bàng phương
pháp quang phổ định lượng
154
E. Phân tích niên đại tuyệt đối bằng phương pháp I4C
155
PHÀN THỨBA
QUÀN THẺ DI TÍCH cự THẠCH HÀNG GÒN
TRONG BÌNH DIỆN VÀN MINH KIM KHÍ ĐỒNG NAI
VÃN HÓA Cự THẠCH CHÂU LỤC
159
Chương I
Quần thể di tích cự thạch Hàng Gòn - một trung tâm
văn hóa tinh thần Đồng Nai thòi kỳ "tiền nhà nước"
161
Chương H
Quần thể di tích kiến trúc đá lớn Hàng Gòn (Đồng Nai
- Việt Nam) trong bình diện văn hóa cự thạch khu vực
châu lục
179

2.2 Page 12

▲back to top
A. Các trung tâm văn hóa Cự thạch miền Đông Bắc
186
1. Bán đảo Triều Tiên
186
2. Quần đảo Nhật Bàn
192
3. Lục địa Trung Quốc Đài Loan
202
B. Các trung tâm văn hóa Cự thạch miền Tây Nam Á
207
1. Sự phân bố chung
208
2. Loại hình di tích Cự thạch bàn
210
3. Phổ hệ niên đại chung đôi nét phác dựng
hội Cự thạch cổ Ấn Độ
213
c. Các trung tâm văn hóa Cự thạch miền Đông Nam Á
219
1. Quần đào Indonesia
220
2. Bán đảo dịa đảo thuộc Lai
236
3. Miền Tây Thái Lan
242
4. Vùng cao nguyên Thượng Lào
243
5. Đôi điều phụ chú về văn hóa Cự thạch châu Á
về các vết tích liên quan đến truyền thống
tạo dựng Đá lớn trên lãnh thổ Việt Nam
254
THAY CHO KÉT LUẬN
289
TÀI LIỆU THAM KHẢO
319
PHỤ LỤC
347
Phụ lục 1. Chú dẫn bảng thống
349
Phụ lục 2. Chú dẫn bàn đồ đồ - hình ảnh
351
SUMMARY
357

2.3 Page 13

▲back to top
CONTENTS
INTRODUCTION
PARTONE
GEOGRAPHICAL AND HUAMANITIES CONTEXT
OF THE BASALTIC RED SOIL REGION
AT DONG NAI PROVINCE
Page
15
19
PART TWO
MEGALITHIC SITES IN THE RED SOIL REGION OF
LONG KHANH - XUAN LOC, DONG NAI
27
Chapter I
The megalithic site Hang Gon I (7A)
30
A. Prospection
30
B. Excavations
30
c. Jean Bouchot’s Fừst Publication
31
D. Studies by Henri Parmentier and Foreign Scholars
35
E. Researches and Studies on the Megalithic Site Hang
Gon I (7A) by Vietnamese Archaeologists, 1975-1995
41
Chapter n
The megalithic site Hang Gon H (7B)
51
A. Prospection
51

2.4 Page 14

▲back to top
B. Actual Situation and Landscape of the Megalithic
Site Complex Hang Gon II (7B)
c. Archaeological Fieldworks at the Megalithic Site
Hang Gon II (7B)
Cl. Excavations
1. Methods of Field Studies
2. The Archaeological Plane
3. The Archaeological Stratigraphy
C2. Archaeological Test Diggings
Chapter ni
The archaeological íĩeldvvorks (reconnaissance and
excavations) and studies at Hang Gon and neighbouring
regions (2006-2011)
A. The Archaeological Fieldwork (2006-2007) for
Embellishment, Reconstruit and Preserved Plans of
Hang Gon Megaliths according to Heritage Law
B. The Archaeological Fieldwork (2010-2011) for
Stratigraphy Studying of Hang Gon and neighbouring
Basaltic Regions
Chapter IV
Archaeological artiíacts
A. Megalithic Vestiges
1. Group A
2. Groupe B
3. GroupeC
B. Other Archaeological Findings
1. Bronze Artiíacts
53
57
57
57
58
60
61
63
63
85
88
88
88
88
88
91
91

2.5 Page 15

▲back to top
2. Ceramic Artifacts
94
3. Stone Artifacts
104
Chapter V
Results of pedology and sample analyses or Hang Gon
site and neighbouring regions, 1996-2011
124
A. Analysis of Spores and Pollens from Hang Gon Site
and Neighbouring Regions
124
B. Lithological Analysis by Polarizing Microscope
145
c. Analysis of Ceramic Paste Elements by Quantitative
Spectro-Chemical Method
152
D. Analysis of Bronze Alloy Elements by Quatitative
Spectrological Method
154
E. Dating by Radio-Carbon Hc Analysis
155
PARTTHREE
THE HANG GON MEGALITHIC COMPLEX ON
CONTEXT OF ĐÒNG NAI METAL CIVILIZATION
AND OF CONTINENTAL MEGALITHIC CULTURES
159
Chapter I
The Hang Gon I-II (Hang Gon A-B) megalithic site
complex, a spiritual culture center of Dong Nai in the
"pre-state" period
161
Chapter II
The Hang Gon (Dong Nai - Viet Nam) megalithic
architectural complex on the regional and Continental
megalithic culture plane
179

2.6 Page 16

▲back to top
A. Megalithic Culture Centers in North-East Asia
186
1. The Korean Peninsula
186
2. The lapanese Archipelago
192
3. Continental China and Taiwan
202
B. Megalithic Culture Centers in South-West Asia
207
1. General Distribution
208
2. Basic Types of Megalithic Sites
210
3. Common Chronological Genealogy and A Sketch
of Ancient Indian Megalithic Society
213
c. Megalithic Culture Centers in South-East Asia
219
1. The Indonesian Archipelago
220
2. The Malaysian Peninsula
236
3. The Westem Thailand
242
4. The Upper Lao Highlands
243
5. Some Remarks on Asian Megalithic Culture and
on Vestiges relating to the Megalithic Tradition
in Vietnamese Territory
254
FOR A CONCLUSION
289
REFERENCES
319
APPENDĨX
347
1. Notes on Inventory Tables
349
2. Notes on Charts, Drawings, Photos
351
SUMMARY
357

2.7 Page 17

▲back to top
LỜI GIỚI THIÊU
Đồng Nai - vùng đất trù phú mệnh danh dòng chảy huyết mạch
của cả "Miền Đông Nam Bộ gian lao anh dũng" - từng
chứng kiến sự hình thành, nảy nở, dao động của cả một cộng dồng
người cổ quần tụ đông đào, vùng đất từng chứa đựng trong lòng
cả một phức thể di tích - di vật khảo cổ học quan trọng xuyên
suốt từ buổi đầu của thời đại Đồng sang kỳ thời đại sắt. Tất cả
những chúng ta mục kích hôm nay trên bản đồ khảo cổ học cổ
xưa của miền đất này cho thấy, những the hệ tiền nhân khởi đầu
quà cảm sáng tạo, bằng lao động khai phá chiếm lĩnh, thích
ứng với tự nhiên xây đắp nên một trung tâm văn hóa Kim khí
rực rỡ "vang bóng một thời" - một nền văn minh đặc sắc ngày
nay chúng ta quen gọi Văn minh Sông Đong Nai.
Bằng những cố gắng điền dã và nghiên cứu của các nhà khảo
cồ học bảo tàng học từ nhiều thập kỳ nay, nhiều di sản mang
những tên làng tên đất tên sông tên suối Đồng Nai như Phước
Tân, Bình Đa, Me, Cái Vạn, Cái Lăng, Rạch Lá, Suối Linh, Núi
Gốm, Dầu Giây, Phú Hòa, Bến Gỗ đã trở nên quen thuộc. Từ
những nơi đó, ngôn ngữ khảo cổ học bảo tàng học đã mang từ
nghìn xưa về cho hôm nay một vóc dáng cụ thể hài hòa của đất
nước - con người Đồng Nai thời Tiền sử sử, với những biểu
tượng văn hóa bản địa "không tiền khoáng hậu" như những làng
làm nông chài lưới, những công xưởng chế tạo đồ ưang sức (Đồi
Phòng Không) đàn đá Tiền sử (Lithophone préhistorique),
những kho tàng chứa khí đồng thau kiểu "Qua đồng" hình
tượng con "Trút" đồng (Manis Javanica) (Long Giao), những

2.8 Page 18

▲back to top
"Cánh dồng chum gốm" mang hình hài những nghĩa trang cộng
đồng dày dặc thời sắt đặc biệt, cả quần thể kiến trúc Đá lớn
độc đáo đã được phát hiện chính trong vùng từng trung tâm sinh
tụ tinh thần Đồng Nai thời sắt - Mộ Cự Thạch Hàng Gòn, di
tích lịch sir Văn hóa quốc gia Việt Nam ngày nay.
Mộ Cự thạch Hàng Gòn dược khám phá khai quật đầu tiên
bởi một kỹ cầu đường người Pháp Jean Bouchot từ hơn 8 thập
kỳ trước, từng được ghi nhận trong Danh mục những công trình
lịch sứ của xứ Nam Kỳ xưa (Liste des monuments historiques de
1’ancienne Cochinchine) (1930) thu hút sự quan tâm đặc biệt của
nhiều học già nổi tiếng trên thế giới (Henri Parmentier, G. Coedès,
Van Stein Callenfels, Jean-Yves Claeys, Paul Lévy, o. Jansé, Louis
Bezacier, E. Garpardone,, H. H. E. Loofs, Edmond Saurin, Louis
Malleret, Henri Fontaine, Peter Bellwood, Eiji Nitta...). Người ta
đã cho rang đây loại hình kiến trúc Đá lớn kiểu hầm mộ ghép
phiến các hàng trụ đá liên hệ Mộ Hàng Gòn với các di sản Cự
thạch khắp châu lục (bán đảo Deckker Transjordanie, Assam, Bắc
Miến Điện, dào Java, Bắc Trung Hoa, Ẩn Độ Tissamharama (Sri
Lanca) cả châu ủc... Nhưng nhiều nhận thức lớn, đặc biệt về vị
thế, niên đại chủ nhân đích thực của cả quần thể Cự thạch này
vẫn còn những "Câu do Lịch sử" đầy ẩn.
Gần 7 thập kỳ sau khám phá Mộ Cự thạch Hàng Gòn, từ cuối
năm 1995, công nhân lái xe ủi nghiệp Đá lại đụng phải các tấm
đan hoa cương nằm gần hầm mộ xưa di tích khẩn cấp được các
nhà khảo cồ bảo tàng khai quật, khám phá thêm nhiều dữ liệu
quý báu bằng đá, gốm, đồng tập hợp mẫu than tro giám định
bằng phương pháp phân tích l4C để định tuổi tuyệt đối cho di tích
2.670 đến 2.220 ± 40 BP. Các nhà khai quật tin rằng di tồn Cự
thạch vừa khám phá liên kết chặt chẽ với quần thể kiến trúc Mộ Cự
thạch đã biết đó chính nơi tập kết nguyên liệu dạng
"Công xưởng chế tác Đá lớn" (Megalithic workshop-site) lần đầu
tiên được biết Việt Nam Đông Nam Á.

2.9 Page 19

▲back to top

2.10 Page 20

▲back to top
Hàng Gòn qua các giai đoạn từ năm 1927 đến năm 2015, đặc biệt
trình bày về các di tích liên quan trực tiếp đến hầm mộ Đá lớn Hàng
Gòn 1 (7A) Công xưởng Cự thạch Hàng Gòn n (7B), với các kết
quả giám định thạch học, thành phần chất liệu đá, gốm, dồng thau
hệ thống niên đại 14c, với nhiều minh họa, thống chi tiết và hệ
thống về các hiện tượng ghi nhận chính trong hiện trường khảo cổ.
Phần m Kết luận, các tác giả nêu lên những nhận định bước
đầu về đặc trưng văn hóa, về vị trí lịch sử của cả quần thể Cự thạch
Hàng Gòn đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với các di tích thời đại Kim
khí "miệt cao" Nam Bộ nói riêng trong bình diện văn hóa Cự
thạch hiện biết khu vực châu lục. Các tác giả cố gắng phác họa
bức tranh văn hóa hội đặc sẳc của cả miền Đông Nam Bộ trong
đó, quần thể kiến trúc Cự thạch Hàng Gòn dược nhận thức như "Một
Trung tâm tinh thần Đồng Nai" thời kỳ "Tiền Nhà nước" cũng
công trình "có một không hai" khi đối sánh với các truyền thống tạo
dựng Đá lớn Việt Nam châu Á trong thời đại Kim khí.
Hy vọng cuốn sách này đến với bạn đọc gần xa như một nguồn cứ
liệu khoa học - văn hóa với những thông tin bổ ích, những liệu thú
thiết thực, thể làm tài liệu tham khảo cho giới nghiên cứu, làm tài
liệu học tập cho học sinh, sinh viên, giúp cho các thế hệ trè thêm hiểu
biết về quê hương rạng ngời "Hào khí Đồng Nai", về truyền thống lao
động sáng tạo thông minh của ông cha "Trên mành đất này".
Hiển nhiên, cuốn sách khó tránh được các hạn chế, suất, một
số ý kiến, luận điểm khoa học cũng như phương pháp thông tin vẫn
còn cần tiếp tục thảo luận, chúng tôi rất mong nhận được các ý kiến
quý báu và chân thành của bạn đọc để kịp thời rút kinh nghiệm,
tiếp tục phân tích sâu sắc hơn bồ sung hoàn chỉnh hơn.
Thành phố Hồ Chỉ Minh, 2015
TẬP THẺ TÁC GIẢ

3 Pages 21-30

▲back to top

3.1 Page 21

▲back to top
PHẦN THỨ NHẤT
ĐIỀU KIỆN Tự NHIÊN NHẤN VĂN
VÙNG ĐÁT ĐỎ BA DAN
ĐỒNG NAI

3.2 Page 22

▲back to top

3.3 Page 23

▲back to top
Phẩn thứ nhất: Biểu hiện tự nhiên nhân vần...
Đồng Nai tinh trung tâm miền Đông Nam Bộ, phía bắc giáp
Lâm Đồng Binh Phước, phía nam giáp tỉnh Rịa - Vũng
Tàu, phía đông giáp Bình Thuận, phía tây giáp tỉnh Bình Dương
Thành phố Hồ Chí Minh, diện tích 5.866km2, dân số 1.989.541
người (1/4/1999) gồm chủ yếu người Kinh (92%) hơn 40 dân
tộc anh em cùng sinh sống (Hoa, Tày, Nùng, Chơ-ro...).
Với nền địa hình nghiêng thoải theo hướng tây bác - đông nam
đồi núi nhấp nhô (cao nhất núi Chứa Chan 858m) xen kẽ các
lũng bằng đất đỏ ba dan phía bắc, đất phù sa cổ chính giữa đất
phù sa mới phía tây nam, toàn tinh nằm trong lưu vực sông Đồng
Nai các chi lưu lớn (sông Ngà, Đà, sông Buông), nhiều
danh thắng "sơn thủy hữu tình" nổi tiếng từ Định Quán, Cát Tiên đến
Trị An, Bửu Long... Trong các bàn đồ phân vùng địa mạo cổ địa
chung cho cả miền Đông Nam Bộ, tiểu vùng đất đỏ Xuân Lộc -
Long Khánh - cẩm Mỹ (Đồng Nai) năm trọn trong vùng cao nguyên
đồi núi đồng bằng bóc mòn cao, phân bố cực nam phụ miền cao
nguyên bình sơn Lâm Viên (cao độ 800-100m), với lỏp vỏ phong
hóa 10-30m lớp thổ nhưỡng đỏ, vàng nâu, tím đỏ nối tiếp bề mặt
đồng bằng bóc mòn lượn sóng, mạng lưới thủy văn dạng tỏa tia,
tiềm năng về rừng, chứa các nguồn liệu đá phun trào, cát kết,
phiến sùng, đá quý (saphir) bán quý (opal, calcédoan) các
nguồn sét núi con người thể khai thác để chế tạo công cụ,
khí dồ gốm trong quá khứ. Ngoài các bề mặt địa hình núi lửa,
đây còn ghi nhận các bề mặt bóc mòn san bằng từ các cao độ 300-
250m đến 50-40m cắt vào ba dan Xuân Lộc tuổi QII; các bậc thềm
sông cổ từ bậc III (70-50m) phía nam Xuân Lộc tuổi QI bậc II
(35-25m) tuổi QII-III, đến bậc I (15-1 Om) dọc đôi bờ sông suối hiện
tại [64-7996]. Với nền khí hậu khá ồn định, chế độ phân hóa 2
mùa (mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4; mùa mưa từ tháng 5 đến
tháng 11, chiếm 140-160 ngày với 90% tổng lượng mưa), giàu nhiệt
lượng (tổng nhiệt độ toàn năm 9.500-10.000°C) ẩm độ, không

3.4 Page 24

▲back to top
bão tố sương muối, các thàm rừng nhiệt đới - á nhiệt đới hiện còn
bảo tồn thế giới động - thực vật giàu lượng loại - da sinh cảnh (chim,
thú, tôm, nhuyễn thể...). Nen cảnh môi trường sinh thái vùng đất
dỏ ba dan phong hóa Long Khánh - Xuân Lộc - cẩm Mỹ cả Đồng
Nai nói chung chính nơi "Đất lành chim đậu" những điều kiện
thiết yếu thuận hợp cho cuộc sống định cư, phát triển kinh tế,
sang tạo văn hóa, hội tụ văn minh cùa các cộng đồng người mọi
thời kỳ lịch sử.
Trong quá khứ gần, dây miền đất "toàn những đám rừng
hoang vu đầy rậm, mỗi dám rừng chỗ rộng hơn nghìn dặm"
[102-/77ỐỊ, vùng trú lâu đời của các sắc dân "sơn cước"
(montagnards) Ch’rau K’Ho thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Á (loại
hình Bahnar ]102-7972b]; loại hình Mạ ]19-7964]).
Khi Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vâng mệnh Chúa Nguyễn
mờ đất xứ Biên Hòa hướng về Nam năm 1698 "lấy đất Nông Nại
đặt làm Phủ Gia Định, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long,
dựng Dinh Trấn Biên" [220-7S2Ơ], vùng Long Khánh - Xuân Lộc -
Cẩm Mỹ thuộc tổng Tân Chánh (Phước Long) còn vùng hiểm địa
"gò đồi trùng điệp, rừng liền dăng, cây cao lớn chọc trời, rậm rạp
vài trăm dặm" (Đại Nam nhất thong chí), nằm bên vùng bình địa
"Lộc Động" Biên Hòa - Đồng Nai (Plaine des Cerfs) [114-7963].
Trong quá khứ nguyên thủy, chinh trên các bậc thềm cao nguyên
dung nham đất đò phong hóa, các bề mặt phù sa cổ bãi bồi thung
lũng dọc theo nhiều dòng chảy đã tích tụ nhiều vết tích liên quan
đến hoạt dộng của người xưa. Đó các sưu tập công cụ ba dan (rìu
tay, rìu hình hạnh nhân, công cụ hình rìu, công cụ chặt thô, mũi
nhọn, nạo, hạch đá, hòn ném, vuốt thú hóa thạch...) do các nhà địa
chất - khảo cổ học khám phá Hàng Gòn 6 Dầu Giây 2 [187-
7973], Núi Đất, Suối Đá (Gia Liêu), cẩm Tiêm, Bình Lộc, Bình
Xuân ]162-7979a, 2007c]... chưa ghi nhận "tại chỗ" (in situ)
trong địa tầng khảo cổ học chưa thấy kèm theo các di tồn cổ
nhân - cồ sinh tương ứng, nhiều tiêu bản Xuân Lộc, đặc biệt rìu tay

3.5 Page 25

▲back to top
công cụ hình rìu được nhiều nhà khoa học Việt Nam nước
ngoài phân tích loại hình phương thức chế tác để thừa nhận
sàn phẩm đích thực của những "bầy người vượn tối cổ" tụ trên
miền đồi bán bình nguyên đất đỏ ba dan Đồng Nai, gần như
dồng thời với những "bầy người đứng thẳng" (Homo Erectus) từng
dược các nhà nhân chủng học mệnh danh "Mông cổ phương
Nam" (Mongoloide méridionale) trú trong hang động đá vôi vùng
Lạng Sơn miền châu thổ ngã ba sông - sông Chu (Thanh
Hóa). Từ đây, trang sử mở đầu tiến trình chinh phục Đồng Nai ghi
nhận sự thành hình truyền thống chế tác công cụ từ cuội ba dan
những hoạt động đầu tiên của "xã hội người xác định Xuân Lộc
tối cổ” truyền thống gia công cuội của họ tiếp tục được duy trì
trong các cộng đồng người cồ Đồng Nai nhiều vạn năm sau.
Sang thời đại Kim khí, tiểu vùng Xuân Lộc - Long Khánh trở
thành một địa bàn phát sinh mật tập nhiều làng làm nông, làng-
xưởng, các nghĩa địa, kho tàng tầm quan trọng bậc nhất của
hội cổ Đồng Nai trong suốt hai thiên niên kỳ kế cận Công lịch.
Di chi Tiền sử được khảo cứu tốt nhất vùng này cầu sắt -
một làng cổ tọa lạc trên đất đỏ ba dan ven suối Săng Dốc được
phát hiện khai quật trong các năm 1975-1976 một trong
các di chỉ trú mật độ tàng trữ công cụ sản xuất đá mành
gốm dày đặc nhất Việt Nam: với địa tầng dày 75cm trong diện tích
đào 320m2 đã thu dược 788 đồ đá (294 rìu - cuốc, 76 đục, 54 dao
gặt, 60 mũi nhọn, 269 bàn mài, nhiều hòn ghè, hòn kê, chày nghiền
hạt, mảnh vòng tay) hàng vạn mảnh gốm; xác thực sự hiện diện
nền nông nghiệp nương rẫy cổ trong miền đất đỏ phì nhiêu thuở
ấy, bên cạnh các nghề thủ công chế tác công cụ - trang sức đá, nghề
làm gốm bằng bàn xoay kinh tế săn băn hái lượm khai thác sàn
vật đồi rừng nhiệt đới Đồng Nai xưa. Di chi cầu sắt, cùng với Suối
Linh vùng ngã ba Sông - Đồng Nai, được coi 2 làng cổ tiêu
biểu cho giai đoạn khởi đầu của truyền thống văn hóa - kỹ thuật chế
tác đá - gốm thời Kim khí miền Đông Nam Bộ vào thời đoạn giáp
ranh 2 thiên niên kỷ III-II trước Công nguyên (BC).

3.6 Page 26

▲back to top
Hl. Bàn đồ khảo cổ học tiền sử - sử Long Khánh
vùng phụ cận (Xuân Lộc - Cảm Mỹ - Thống Nhất)
(nền: Tổng cục Địa chính, Nxb. Bán đồ, Nội, 999)
thời kỳ lịch sử "sau cầu sắt", dân Đồng Nai nối tiếp
truyền thống lập làng trú trên sườn đồi đất đò mầu mỡ
thoáng mát ven các dòng chày. những khu vực quần lớn
quy từng "làng cổ" không thua diện tích một làng Việt hiện đại
(l-3ha) nằm xung quanh Mộ Cự thạch; như, quần thể 7 di chỉ do
E. Saurin phát hiện ưong khu Đồn điền cao su Hàng Gòn (quan
trọng nhất di chi Hàng Gòn 1 - Núi Gốm phát hiện 4 khuôn đúc
đồng niên đại l4C: 3.950 ± 250 BP); quần thể di chi thuộc địa
phận Xuân Phú - Xuân Trường - Xuân Bình (Bình Xuân, Đồi Mít,
Đồi Xoài, Dầu Giây 3, Tân Lập, Lập Thành, Sông Nhạn...) với niên
biểu chung khoảng nửa đầu thiên kỳ IIBC...

3.7 Page 27

▲back to top
Trong thời đại kỳ đồ sát, bên cạnh các làng trú làm nông
- săn bắn hái lượm cổ truyền, đã xuất hiện các loại hỉnh di tích dặc
trưng vùng Long Khánh - Xuân Lộc với các trầm tích văn hóa bản
xứ đã đưa ra ánh sáng khoa học nhiều di sản quý báu liên quan đến
phát minh kỹ nghệ tiên tiến mang tính thời đại - thuật luyện rèn sắt
ứng dụng thành quà cùa tiến bộ kỹ thuật này trong thực tiễn sản
xuất chiến dấu truyền thống, khởi đầu từ giữa Thiên niên kỷ I BC.
Đó các di chl - xưởng dúc đồng rèn sắt - mộ thổ táng truyền
thống các nghĩa trang chuyên dùng quan tài bằng chum gốm
chôn người chết Suối Chồn, Dầu Giây, Phú Hòa (l4C: 2.590 ±
240, 2.400 ± 140 BP), Hàng Gòn 9 (‘"C: 2.300, 2.190, 2.100 ± 150
BP) chứa đựng các sưu tập di vật nội địa ngoại nhập giàu
phong phú về lượng loại bằng đá (rìu - cuốc, đục, dao gặt, bàn mài,
chày nghiền, bùa đeo, khuôn dúc sa thạch, vòng tay, khuyên tai 2
đầu thú, hạt chuỗi gia công tinh xào từ nhiều khoáng chất), thủy
tinh (vòng tay, khuyên tai 3 mấu, hạt chuỗi), gốm đất nung (dọi
se sợi, bi, quà cân, dồ dựng), đồng (rìu lưỡi trũng, chậu, vòng, lục
lạc, đồng), sắt (thuổng, liềm, dao, kiếm, vòng nhẫn), quý kim
(chuỗi vàng, hoa tai đồng mạ vàng), di tồn hữu (xương vụn, than
tro, nhựa, da, biển)...(Hl).
Các "Cánh đồng chum" dày đặc vùng Long Khánh - Xuân Lộc
(Suối Chồn, Dầu Giây, Hàng Gòn 9, Phú Hòa) hình thành một cụm
di tích mang đầy đủ tính chất văn hóa bàn địa hội tụ nhờ giao lưu
với nhiều tố chất văn minh ngoại nhập nét nổi bật nhất đến từ
Văn minh Sa Huỳnh vùng duyên hài cực nam Trung Bộ văn
minh Ấn Độ cổ từ Tây Phương Thiên Trúc. Cùng với cả cụm di
tích độc đáo này, sự mặt kho tàng Long Giao cũng minh định
tiến trình giao lưu hội nhập văn hóa liên vùng ghi dấu một
"tầm cao" mới cùa cả miền này thời kỳ đồ sắt. Với những di sàn
bản địa được tìm thấy (rìu cuốc đá, gốm thô, thẻ đeo dạng "bùa",
tượng động vật bằng đồng tạo hình con "Trút" (Manis javanica)
nặng tới 3,4kg..., cùng hàng ưăm khí bằng đồng biến cải "tiền

3.8 Page 28

▲back to top
mẫu" văn minh Trung Hoa kiểu "Qua" (Ko - Halberts) nhung lại
mang trên mình hoa văn trang trí theo "Phong cách Đông Sơn" Việt
cổ (Phạm Đức Mạnh, 1985). Phát hiện kho tàng Long Giao nằm
trong địa bàn quy tụ cụm di tích tiêu biểu nhất văn minh Đồng Nai
thời Sắt - những "Cánh đồng chum" quây quần xung quanh mộ
Đá lớn Hàng Gòn E. Saurin [187-7973] tin chắc về "quan hệ họ
hàng giữa chúng" trên những cánh rừng già nhiệt dới xen cắt nhiều
sông lạch với tiềm năng lâm sản "cung ứng tận cho đời sống săn
bắn luợm hái tiền sử" [S3-7972a] những dải đồi dất đỏ ba
dan phong hóa "ở một trong những vùng đất phì nhiêu nhất Đông
Nam Á" [11-7975] - một vùng đất nhiều công cụ sản xuất khí
giới sắt, nhiều đồ trang sức lộng lẫy, mộ đồ sộ mộ chum
dày đặc, tượng đồng hình thú hiếm quý, khí đồng "kiểu
Hoa Hạ" trống đồng "kiểu Đông Sơn" quyền uy xứng danh một
trung tâm sinh tụ trung tâm tinh thần một thời vang bóng của
người cổ Đồng Nai. Và, các sưu tập trống đồng Việt cổ Đông
Nam Bộ xung quanh mộ Cự thạch Hàng Gòn cũng những dấu
hiệu đầu tiên về sự hình thành lớn lên của cấu quyền lực tối
cao, vượt lên trên đội ngũ thủ lĩnh tiểu vùng trang bị khí kiểu
qua đồng của cộng đồng tộc người bàn xứ cũng những "hiện
tượng Đồng Nai" trong lịch sử thăng trầm của văn hóa văn minh
Đông Nam Á.
Những dấu tích hoạt động của người Đồng Nai xưa lược ghi
trên chính hệ thống căn bản dẫn liệu khảo cổ học quan trọng
nhất hiện biết trên tiểu vùng đất đỏ ba dan phong hóa Xuân Lộc -
Long Khánh trong nền cảnh chung văn hóa Kim khí Đông Nam
Bộ. Đó cũng chính các dẫn liệu quan hệ đến "cơ sở văn hóa kỹ
thuật" (Techno-Cultural basis) hay "bức phông văn hóa kỹ thuật"
(Techno-Cuỉtural backdrop) của quần thể công trình kiến trúc
Cự thạch đặc sắc "độc nhất nhị" của miền văn hóa này từ
Tiền sử.

3.9 Page 29

▲back to top
PHẦN THỨ HAI
CÁC DI TÍCH VĂN HÓA cự THẠCH
TRÊN VÙNG ĐẤT ĐỎ LONG KHÁNH
- XUÂN LỘC (ĐỒNG NAI)

3.10 Page 30

▲back to top

4 Pages 31-40

▲back to top

4.1 Page 31

▲back to top
Các di tích Cự thạch đầu tiên trên miền đất đỏ Đông Nam Bộ
thoạt đầu mang tên Xuân Lộc khi mới được phát hiện,
chúng nằm trong cương vực Công ty Đồn điền Cao su Xuân Lộc
(Socìété desplantations d’Hévens de Xuân Lộc), thuộc địa phận
Xuân Lộc, tổng Bình Lam Thượng, tinh Biên Hòa. Sau đó, khu vực
này thuộc ấp Hàng Gòn, Thới Giao, quận Xuân Lộc, tinh Long
Khánh; rồi ngày nay, thuộc địa phận ấp Hàng Gòn, Xuân Thanh,
huyện Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

4.2 Page 32

▲back to top
Chương I
DI TÍCH Cự THẠCH HÀNG GÒN I (7A)
A. PHÁT HIỆN BAN ĐÀU
Đầu năm 1927, trong lúc đang chì huy thi công làm đường
luyến từ Xuân Lộc đi Rịa (nay Liên tình lộ số 2), viên kỹ
cầu đường người Pháp Jean Bouchot đã được ông Mercier báo cho
biết các tảng lớn hình thù rất kỳ lạ dựng ven lộ trình này
dường như chúng được chôn sâu từ lâu đời trong lòng đất đỏ thuộc
Đồn điền do ông William Bazé (cha nuôi của vua Bảo Đại) làm
Giám đốc. Cột lớn dứng thẳng dưới tán cây cổ thụ đã từ lâu
được dàn sờ tại coi như "một thạch đài huyền hoặc", họ kính
cẩn gọi "Ông Đà" (Monsier le Rocher) dựng một miếu thờ
nhò nằm bên cạnh "Ông Đá" về phía đông, vốn "Thông tín viên"
của Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO: École íranẹaise
d’Extrême-Orient), Jean Bouchot nhận được ủy nhiệm "Đại
biểu" của tổ chức khoa học này đề tiến hành các cuộc khai quật
khẩn cấp đây cùng với các nhân công vốn tội hlnh do chính
viên Toàn quyền Pháp Nam Kỳ khi đó cung ứng.
B. KHAI QUẬT
Cuộc khai quật được khởi công từ ngày 14 tháng 4 đến ngày 16
tháng 5 năm 1927. J. Bouchot đã cho đào xung quanh "Ông Đá"
một hố rộng gần ưòn lòng lõm giống "lòng chào" lớn. Ông phát
hiện các phiến - cột trụ đá cắm đứng hay hơi xiên chéo, sắp xểp gần
như đối xứng với nhau thành hai hàng.

4.3 Page 33

▲back to top
giữa một phòng đá lớn được gọi "Phòng mộ" (Tombeau-
Chambre), khép kín bởi 6 tấm đá hoa cương. "Phòng đá" hầu như
còn nguyên vẹn, ngoại trừ một vết vỡ nhỏ góc phòng phía đông
bắc do bị tấm phiến trụ granite bên cạnh đổ đè lên. Trước sự chứng
kiến của nhiều người dân sở tại, ông chủ Đồn điền W.Bazé
nhiều quan khách từ Sài Gòn đến (ông Blanchard de la Brosse, các
nhà báo nhiếp ảnh gia,...); hầm đá được nậy tấm đan đầu đông
ra nhưng không của quý ngoài "những đồ gốm hết sức mủn
dển đỗi chúng rơi nát vụn ngay khi bàn tay cầm tới". Do không tìm
thấy quý trong hầm mộ đá kiên cố đến kỳ dị này, J. Bouchot dự
tính sẽ tiếp tục khai quật lại khi mùa mưa Long Khánh ngừng
hẳn, với nhũng phương tiện kỹ thuật đào bới chuyển vận đá tốt
hơn. Nhưng ước của ông không thực hiện được.
c. CÁC CÔNG ĐẦU TIÊN CỦA JEAN BOUCHOT
Ngay sau khi cuộc đào kết thúc, các thông tin nóng sốt đầu tiên về
"Những cuộc khai quật" di tích Cự thạch Xuân Lộc dược tạp chí của
Hội Nghiên cứu Đông Dương (Bulletin de la Société des Etudes
Indochinoises) dăng tài liền trong 2 kỳ (N.2-3) của năm 1927 kèm
theo một ảnh chụp. Sau dó, vào năm 1929, J. Bouchot công bố thêm
"Vài ghi nhận bên lề cuộc khám phá Xuân Lộc" cùng 4 bàn ảnh nữa.
Các công bố đầu tiên của J. Bouchot bỏ qua nhiều chi tiết quan trọng,
không thỏa mãn các yêu cầu nghiên cứu khảo cổ học bản nhất.
Thậm chí, những người tiếp tục muốn nghiên cứu về sau không thể
biết hố đào ban đầu của ông ra sao, sâu rộng bao nhiêu, quan hệ địa
tầng giữa những hàng cột trụ với hầm mộ như thế nào, bao nhiêu
gốm tìm thấy trong hầm đá và chúng đụng bên trong...
Theo tác giả, "12 trụ cột xếp thành hàng đôi" theo hướng
gần đông - tây, trong đó: hai phiến trụ lớn nhất làm bằng đá granite
(dài tới 7,2m, rộng l,lm dày 0,35m) dựng cao hơn nền phòng đá
khoảng lOcm dầu dưới tạo thành mấu phỉnh rộng dường như

4.4 Page 34

▲back to top
dùng để lắp vào một "hệ thống mộng kỳ lạ". Đầu trên thanh hoa
cương tạo thành "võng lưng" giống cái "yên ngựa" dường như để
chịu một loại đà thân gỗ ưòn đặt ngang qua hầm dá. 10 trụ nhỏ hơn
băng đá grès hoặc ba dane cao khoảng 2,5 - 3m, được đặt ngay trên
đất, không can "đe chống lún" cao hơn nền phòng đá khoảng 60cm,
cũng "rãnh yên ngựa" đầu, chế tác kỳ công với mặt cắt ngang
thân hỉnh bầu dục.
H2. Cuộc khai quật di tích Cự thạch Xuân
Lộc năm 1927 - quang cảnh công trường
hầm đá J. Bouchot gọi "Dolmen"
xuất lộ cùngcác trụ cột đá granite.
{Ảnh hiện trường: M. Gaspadỳ)
Với hầm đá Cự thạch giữa, tác giả xác định dứt khoát tính
cách giống với những loại hỉnh mộ cổ trên thế giới được gọi
"Thạch bằng" (Dolmen). "Dolmen Xuân Lộc" hình hộp chữ

4.5 Page 35

▲back to top
nhật, ghép kín bởi 6 tấm đan hoa cương đảm bảo cho sự an toàn
của một hay nhiều thi hài kho tàng chứa bên trong. Tấm đan làm
nắp lớn (kích thước 4,2x2,7m, dày 0,3m), dựa vào tỳ trọng đá hoa
cương thể tới 7 tấn.
J. Bouchot cho rằng giả thiết về các hang trụ cột xung quanh
hầm đá một hệ thống dùng cho việc dịch hay nâng hạ phiến
đan trên nắp mộ dược dễ dàng hơn sai lầm các trụ cột hầm
đá không cùng kiến tạo trong một thời kỳ lịch sứ. lẽ vào thời
kỳ đầu, người xưa kiến thiết riêng Dolmen phụ kiện granite kèm
theo, đây loại vật liệu người thợ đá cổ phải khai thác rất xa
Xuân Lộc, các mỏ thích hợp nhất chỉ Nam Tây Nguyên
(cách Đà Lạt khoảng 6km) hay miền Trung Việt Nam. các mỏ đá
này, người cổ thể dễ dàng khai thác các tấm đan lớn rộng (5-
6m), dày 25-40cm, khi chuyển vận về Xuân Lộc, họ chi cần gia
công ghè đẽo cho chúng thành hình chữ nhật, đục mài các đương
"mương rãnh mộng" để láp thành hlnh hộp chữ nhật.
Sau "thời kỳ hoa cương", người ta tiếp tục chế tạo lắp dựng
thêm các trụ sa thạch theo "các hàng dài" cao hơn mặt đất của nền
hầm mộ khoảng 60cm. Đây loại vật liệu người cổ thể dễ
dàng tìm kiếm ngay trong các mỏ lộ thiên kế cận di tích, nhưng
ưình độ kỹ thuật chế tác điêu luyện tinh xào hơn. Những thanh đá
grès hoặc ba dan thời kỳ muộn hơn tính chất trang hoàng phụ
thêm cho Dolmen.
Tác giả tin rằng đây chính một công trình tượng đài Cự thạch
thuộc thời kỳ "Văn minh Đá mới" trong bậc thang địa chất "Đá mới
hiện tại" do Sừ Gabriel de Mortilet đặt tên "Robenbausien". Sự
đỏng kín hầm mộ Cự thạch Xuân Lộc do các nhà xây dựng Tiền sử
quan tâm đến "sự bảo mật" giống như "bí truyền" thường thấy
nhiều dân tộc vùng Thái Bình Dương. Tác giả cố găng tìm kiếm các
đặc điểm tương tự Dolmen Hàng Gòn ở vùng Caucase, Bắc Miến
Điện (Haute Birmanie), Assam, Bắc Trung Hoa... - theo quan sát

4.6 Page 36

▲back to top
của học giả Victor Goloubew; Java - theo Dr. Van Stein Calleníels;
Changkat Mentri (Sungkai, Nam Perak) theo thông báo của các học
già thuộc Bào tàng Straits Settlements (Mã Lai), các dạng mộ
"Tumulus" Nagasaki, Kyushiu "là mộ phần của những nhân vật
quan trọng liên hệ với thời kỳ khởi của Lịch sử" - theo các linh
mục Abbé de la Trappe Martin... Ông còn liên hệ cả các chi tiết
kiến trúc Dolmen Xuân Lộc như các "rầm chìa" hoặc "rãnh kiểu yên
ngựa" của các trụ chính với các cấu kiện tương tự trong các di tích
Cự thạch giống mộ phòng "tombeaux", "chamber de Pierre", hoặc
dền thờ "Sanctuaire" Transjordanie (Palestine) qua liệu của
Lubbock, Alfred Bertholet, Mader, Evans... tin rằng Dolmen
Hàng Gòn - Xuân Lộc còn quan hệ với họ hàng Dolmen Viễn
Đông "Đại diện cho Gia đình Dolmen châu Á".
Khi ghi nhận sức lao động phi thường của người nguyên thủy
bàn địa khai thác, chuyển vận đường trường xây dụng nên
Dolmen Xuân Lộc với những cấu kiện kiến trúc ngay Đen
Angkor cũng không thấy những tảng đá nặng nề đến như vậy,
tác giả vững tin đây hầm mộ Cự thạch dành riêng cho "Thủ lĩnh"
(Tombe de Cheí); gợi ý cho công cuộc lần tìm hậu duệ của
những người sáng tạo hầm mộ kỳ lạ xưa trên đất Tây Nguyên, bởi:
"Một dân tộc không bao giờ diệt vong hoàn toàn" (Renan). Theo J.
Bouchot, sự phối trí các hang trụ cột quanh mộ Cự thạch Xuân Lộc
giống đến lạ lùng với cấu trúc nhà mồ của "những người giàu có"
(riches) hoặc các "thủ lĩnh" (chefs) trong các nghĩa địa Gia Rai
Plai Rlung (Dak Lak) minh họa cho tác phẩm "lungles mois" của
Henri Maitre. Các cấu kiện kiến trúc bản cho phép thừa nhận
hoặc liên tường răng người Gia Rai đã bảo tồn một cách cẩn trọng
cải tiến những nghi thức mai táng đặc thù vốn từ cổ xưa, khởi
nguồn từ "Thời đại Xuân Lộc" với ngôi mộ Đá lớn mang các đặc
trưng đồng nhất với "Gia đình mộ cổ Dolmen toàn thế giới" như
một truyền thống chung hoặc một "phong tục xa xưa của Nhân
loại" về Cự thạch [18-/927ứ-ố, 1929} (H2).

4.7 Page 37

▲back to top
D. CÔNG TRÌNH NGHIÊN cứu CỦA HENRIPARMENTIER
HỌC GIẢ NƯỚC NGOÀI
Sau phát hiện của J. Bouchot, di tích kỳ lạ trong vùng đất đỏ
Đông Nam Bộ đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu chiêm ngưỡng
của nhiều học giả trên thế giới.
Người đầu tiên đến hiện trường ngay sau khi cuộc khai quật
chấm dứt nhà khoa học nồi tiếng - Chủ sự Sở Khảo cổ học Đông
Dương Henri Parmentier (ngày 3 tháng 5 năm 1927). Ông hết sức
sửng sốt hơn ba thập kỳ phiêu lưu khắp Đông Dương chưa hề
thấy một công trình Đá lớn nào đồ sộ thế. Sau dó, trong khoảng
thời gian từ ngày 13 tháng 12 năm 1927 đến cuối năm 1930, ông
còn trở lại đây thêm ba lần nữa cùng các học giả G.Coedès Van
Stein Callenfels thăm viếng "Hầm mộ Cự thạch" trước khi kiến
nghị Toàn quyền Đông Dương xếp hạng "Công trình Cự thạch"
Xuân Lộc trong "Danh mục chung" gồm những di tích lịch sử quan
trọng nhất của Liên bang Đông Dương, vốn kiến trúc Quốc
Gia, H. Parmentier cố gắng khôi phục trên bản vẽ từ nhũng "phé
tích hoang tàng" (ruines) ngổn ngang quanh hầm mộ Cự thạch quan
trọng này. Ông ghi nhận tầng đất đò thuần nhất liên tục đến Im
dưới nền phòng đá còn lẫn khá nhiều "sỏi cuội" thuộc loại đất đỏ
nổi tiếng được Chủ sự Sở Địa chất Đông Dương F. Blondel giám
định thuộc Kỷ Đệ Tứ giống đất la màu mỡ các cao nguyên
ba dan Đông Dương.
Hầm đá "hình khối chữ nhật", kích thước 4,5x2m cao
1,5m (các số đo về sau được L. Malleret H. Fontaine sử dụng),
dược ghép bời 6 tấm đan hình "khối độc thạch", nằm dài theo
hướng gần đông - tây (vách đầu đông hơi chếch sang nam khoảng
2°). Ông khảo tả kỹ hơn về các cấu kiện kiến trúc, các rãnh mộng
đáy nắp căn phòng, 2 đầu nhô của nắp dạng "tay nắm" rộng, về
chất liệu hoa cương trắng vị trí các cột trụ sa thạch chính, các
miếng đế lót chống lún trong đất đỏ xốp, các mấu nhỏ "rãnh yên

4.8 Page 38

▲back to top
ngựa" từng cột trụ ,v.v... Ông hiệu gần đù các cặp trụ dụng
(BB’, CC’, DD’, EE’, FF’), ghi nhận vị trí tại chỗ hoặc các mảnh
vỡ gom bờ hố phía đông, cung cấp cho chúng ta "cái nhìn tương
đổi" về bình đồ và thiết đồ di tích (H3), nhưng hết sức quý giá
cho đến tận ngày nay còn được nhiều người đánh giá "với sở
khoa học cùa nó, các bản vẽ có được sự thuyết phục cao đáng tin
cậy" [44-7993].
c. Thiết đồ thực địa của quần thế Cự thạch
H3. Phục chế mặt bằng mặt cắt Hàng Gòn I (7A)
(Parmentier, H. 1929)

4.9 Page 39

▲back to top
Theo H. Parmentier [158-7929], công trình Cự thạch Xuân Lộc
(Nam Kỳ) "những dấu hiệu khác thường dộc nhất nhị Đông
Dương thời bấy giờ". Ông so sánh những trụ đá Hàng Gòn với loại
hình trụ tìm thấy Châu Đại Dương, nhưng cuộc khai quật của
J. Bouchot "không tìm được gì" đáng dược coi "Di chi" ngoại trừ
những bình đất khô nung thấp chứng tỏ sự cổ kính, nên khó thể
xếp hầm mộ Hàng Gòn cùng thời đại với Menhir hay Dolmen trên
thế giới chôn kèm theo "các công cụ dá mài nhẵn".
về chức năng cùa Quần thể Cự thạch Xuân Lộc, căn hầm chìm
xuống đất không thể vào được, gợi cho tác già ấn tượng công trinh
giống như một "Hầm mộ" (Tumulus) chôn dưới đất với ít nhất
một "ngõ" dẫn đến sát dầu hầm - tương tự các công trình "Mộ táng
Thù lĩnh" hoặc "Nấm mồ chung" chứa những thi hài của "các vị
quan" hay "binh sĩ" "thi thể" của họ được chôn chung sẽ
bị tiêu nhanh cả thịt lẫn xương do đặc tính chứa chất phosphore (P)
của đất đỏ Xuân Lộc. Theo tác già, căn hầm giống như "một tiền
sảnh thực sự của sự bất tử", với "tấm đan làm nắp trần" thấp 2
đầu lồi ra như dạng "vành tai" thể buộc dây để dịch mỗi khi
cần mai táng lần lượt các thù lĩnh hay binh đã chết.
Việc vận chuyển nắp đan trần hầm mộ được tác giả hinh dung
khá đơn giản: Sau khi cào hết lớp đất đỏ phủ trên nắp hầm, người
tiền sử xưa thể đặt một khúc cây dưới mỗi "chỗ khuyết" đầu
tấm đan, lồng dây qua hệ thống đà gỗ thân tròn gác ngang các cặp
trụ đá theo các "bậc" huy động hai nhóm người chầm chậm kéo
nắp đan theo hai chiều đối nghịch nhau giữ cho nắp đá ổn định
trên hệ thống cây tròn gác ngang các cặp trụ đá CC’, DD’, EE
đầu hầm trong "suốt thời gian hành lễ". Chính cấu trúc hình thù
như vậy gợi ý về nghề mộc nguyên thủy cách thức sử dụng gỗ
rất thông dụng của dân sơn cước thời bấy giờ. Đặc biệt, hình
dạng các cột trụ cao lớn vững chắc BB’ chứng tỏ sự thiện nghệ của
người thợ mộc cổ trong truyền thống kiến dụng cấu trúc sườn nhà

4.10 Page 40

▲back to top
thời nguyên thủy cùng với nhiều cặp trụ đá cũng gợi mở khả
năng "phòng mộ thể được đóng mở nhiều lần" trong tiền sừ.
Theo H. Parmentier, đây sự phối trí lạ lùng chưa từng thấy
trong các công trình kiến trúc cổ khác ở Đông Dương nên cần khảo
sát nghiên cứu so sánh thêm trên toàn vùng đất dỏ Xuân Lộc -
Long Khánh các vùng khác nữa. như, trong cương vực Đồn
điền Suzannah chính bản thân J. Bouchot đã ghi nhận "một
hang đá mang những họa dồ tiền sử", Đất (Long Thành), giữa
sông Ngà trong rừng rậm nhiều đá hoa cương lộ thiên
dường như còn vết tích một dường hầm đá. Ngoài ra, còn cần so
sánh với nhũng tấm dan lởn cắm thẳng xuống đất trong "công trình
đá ghép vây quanh" giống hầm đá bình đồ hình chữ nhật
Đồng Phổ gần Sa Huỳnh (Quảng Ngãi); những tấm đan dài mỏng
thô nhưng công dụng khó hiểu không rõ xuất xứ còn lưu tồn
trong Bào tàng Phnom Penh (Campuchia); những mộ chum đá lớn
trên cao nguyên Trấn Ninh (Lào) những "Công trình Cự thạch"
với các cây cột chống kiểu dáng tương tự trụ đá lớn Hàng Gòn
Châu Đại Dương theo công bố của F.Benoit (13-7972].
Sau các công trình nghiên cứu của J. Bouchot H. Parmentier,
nhiều học giả nước ngoài đã viếng thăm "Lăng mộ Cự thạch Xuân
Lộc" như Giám đốc Trường Viễn Đông Bác cổ G.Coedès cùng
viên thanh tra ủy viên thường trực Hội Khảo cổ học Jean-Yves
Claeys, Dr Van Stein Callenfels (1930-1931), o. Jansé (1934), L.
Malleret, Paul Lévy, L. Bezacier (1937, 1943), E. Saurin (1963)
H. Fontaine (1972) cũng phát hiện thêm nhiều di tích văn hóa cổ
xung quanh hầm mộ đá lớn.
Học già nước ngoài đầu tiên coi hầm mộ công trình Cự thạch
đích thực của cộng đồng người cổ bản địa thời Kim khí E.
Saurin, khi ông liên hệ hầm mộ Cự thạch với quần thể di tích tiền
sử do ông khám phá đặt tên chính Đồn điền Hàng Gòn này
(các địa điểm Hàng Gòn mang số 1-5, 8-10); đặc biệt, với khu mộ