Van hoa Dong Nai so thao

Van hoa Dong Nai so thao

1 Pages 1-10

▲back to top

1.1 Page 1

▲back to top

1.2 Page 2

▲back to top
TIẾN SĨ HUỲNH VĂN TỚI
THẠC SĨ PHAN ĐÌNH DŨNG
PGS.TS PHAN XUÂN BIÊN
(GIỚI THIỆU)
VĂN HÓA ĐỒNG NAI
(SƠ THẢO)
NHÀ XUẤT BẢN ĐỒNG NAI 2005

1.3 Page 3

▲back to top
VĂN HÓA ĐỒNG NAI
(Sơ thảo)
Thực hiện tập sách này,chúng tôi
chân thành tri ân những người thầy.
Giáo sư Trần Quốc Vượng
Phó Giáo sư-Tiến sĩ Diệp Đình Hoa.
Các nhà nghiên cứu:
Đỗ Bá Nghiệp
Huỳnh Ngọc Trảng
Nguyễn Yên Tri
Trần Quang Toại
Lưu Văn Du
cùng các đồng nghiệp.
Và những người dân trên địa bàn Đồng Nai đã chân tình giúp đỡ chúng tôi trong các
đợt điền dã, sưu tầm, xử lý tư liệu trong từng chuyên đề cụ thể.
›&š

1.4 Page 4

▲back to top
LỜI GIỚI THIỆU
Từ trước đến nay, ở phạm vi các tỉnh Nam Bộ, đã lần lượt xuất hiện nhiều
công trình nghiên cứu về văn hóa. Tuy nhiên, với một vùng đất thường được gọi là
mới, song với bề dày lịch sử với những đứt đoạn nối tiếp khá phức tạp, ấn chứa nhiều
yếu tố phong phú, số công trình hiện có chưa thể gọi là nhiều. Còn nhiều lĩnh vực,
nhiều khía cạnh cần phải được tiếp tục khám phá. Vì thế, tôi rất hân hạnh được đọc
trước và viết mấy lời giới thiệu cuốn Văn hóa Đồng Nai (sơ thảo) của hai tác giả:
Tiến sĩ Huỳnh Văn Tới và Thạc sĩ Phan Đình Dũng.
Cuốn sách gồm 26 bài nghiên cứu, có thể đứng riêng thành một đề tài như: Đồ
gốm tiền sử Đồng Nai, Văn nghệ dân gian Đồng Nai, Tín ngưỡng dân gian của
người Việt ở Đồng Nai, Cộng đồng cư dân Châu Ro, Châu Mạ ở Đồng Nai, hay
Tục thờ cúng nữ thần ở Đồng Nai, Những làng cổ ở Đồng Nai, Bảo tồn và phát
triển văn hóa phi vật thể ở Đồng Nai... Nhưng khi gộp chung lại thành một tập, từng
bài nghiên cứu ấy bổ sung cho nhau và làm thành một chủ đề thống nhất, ấy là diện
mạo văn hóa Đồng Nai bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể.
Các tác giả khá khiêm tốn khi chú thêm vào tên tập sách của mình dòng chữ:
Sơ thảo. Tuy nhiên, từng đề tài cụ thể được các tác giả đặt ra và giải quyết khá
logique, kỹ lưỡng, nghiêm túc của những người làm công tác khoa học.
Điều khá đặc biệt của Văn hóa Đồng Nai (Sơ thảo) là không phải một công
trình tầm chương trích cú, dĩ nhiên sự tầm chương trích cú vẫn có những cái hay của
nó. Điểm xuất phát của tất cả các trang viết ở đây là đời sống văn hóa, thực tiễn văn
hóa, có cái biểu hiện, nắm bắt được, có những điều đã chìm sâu trong ký ức của
người dân. Không có sự khảo sát, điền dã tỉ mỉ, thậm chí không “sống” cùng các lớp
văn hóa ấy, không thể có những trang viết như thế. Nói thế không có nghĩa đây chỉ là
một công trình mang tính mô tả, phản ánh. Các tác giả là những nhà nghiên cứu từng
được đào tạo bài bản, đã đem sở học của mình soi rọi cho những gì tìm thấy từ các
lớp trầm tích văn hóa. Vì thế, nếu chỉ xét ở một phạm vi hẹp là vùng Đồng Nai, nhiều
trang viết ở đây sẽ đem đến những bất ngờ, thú vị, tôi nghĩ rằng, tôi nghĩ rằng ai đã
và đang sống tại quê hương này.

1.5 Page 5

▲back to top
Khi các tác giả đặt tên cho công trình của mình là Văn hóa Đồng Nai tức đã
giới hạn không gian và sự ưu tiên nghiên cứu của mình. Nhưng danh xưng Đồng Nai
ở đây không chỉ là tỉnh Đồng Nai hiện trạng. Nó vừa có phần cốt lõi là tỉnh Đồng Nai
hiện nay, vừa là vùng đất của xứ Đồng Nai xưa. Vả lại, trong nghiên cứu về văn hóa
thì giới hạn về địa lý hành chính chỉ mang tính ước lệ. Hàng loạt vấn đề thú vị như
kiến trúc, mỹ thuật cổ, tín ngưỡng, tập quán của cư dân Việt ở Đồng Nai xưa cũng là
của cả vùng miền Đông, có khi của cả Nam Bộ xưa. Đó là chưa kể đến ca dao dân
ca, truyện kể, hát bóng rỗi, chặp địa nàng... những sắc màu ấy, nơi đậm, nơi nhạt,
vùng nào ở Nam Bộ cũng có. Trong công trình này, các tác giả Huỳnh Văn Tới và
Phan Đình Dũng đã bước đầu nhận dạng được những mảng màu ấy tại nơi chúng
sinh thành hay tồn tại.
Chúng ta đang xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Đó là nền văn hóa có sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và
quốc tế. Đó cũng là nền văn hóa thống nhất trong da dạng của cộng đồng các dân
tộc Việt Nam. Đồng Nai ngày xưa là xứ gạo trắng nước trong, đất lành chim đậu nên
thu hút nhiều lớp cư dân của các vùng miền trên cả nước. Hiện nay, chỉ riêng trên
địa bàn của tỉnh, đã có tới 35 thành phần các dân tộc cùng sinh sống. Vì thế, nói đến
văn hóa Đồng Nai là nói tới văn hóa của các cộng đồng dân tộc, của nhiều lớp dân
cư, nói đến bản sắc văn hóa của từng sắc dân và cả sự giao hòa, kết nối văn hóa.
Bạn đọc sẽ tìm thấy điều này khá rõ ở công trình Văn hóa Đồng Nai, khi các tác giả
Huỳnh Văn Tới và Phan Đình Dũng đã dành dung lượng hợp lý cho việc tìm hiểu,
phát hiện về văn hóa của đồng bào người Châu Mạ, Châu Ro, Stiêng - những lĩnh
vực còn quá mới mẻ đối với nhiều người, mặc dù đây chính là những cư dân bản địa
ở Nam Bộ.
Một cuốn sách hay là cuốn sách có nhiều điều mới mẻ và bổ ích Tôi tin bạn
đọc sẽ tìm thấy những điều ấy khi đọc cuốn sách này.
Thành phố Hồ Chí Minh ngày
15.01.2005 Phó Giáo sư, Tiến sĩ
Phan Xuân Biên

1.6 Page 6

▲back to top
š›
Tản mạn về danh xưng Đồng Nai
Danh xưng Đồng Nai có từ bao giờ thật khó mà khảo chứng chính xác. Về mặt
hành chánh, tên gọi Đồng Nai được chính thức trở thành tên gọi đơn vị tỉnh bắt đầu
vào năm 1976. Tỉnh Đồng Nai được thành lập trên cơ sở hợp nhất ba tỉnh: Biên Hòa,
Bà Rịa - Long Khánh, Tân Phú. Kể từ đó cho đến nay, tỉnh Đồng Nai trải qua nhiều
lần thay đổi địa giới nhưng tên gọi vẫn giữ nguyên. Có thể nói rằng, danh xưng Đồng
Nai trải qua bao thời kỳ lịch sử đã trở thành tên gọi thân quen của bao thế hệ con dân
xứ sở này khi nhắc về một vùng đất ở miền Đông Nam Bộ, về dòng sông dài nhất
nước phát tích từ nội địa hay về một Hào khí Đồng Nai oai hùng, vẻ vang đã đi vào
trong lịch sử của dân tộc.
Theo một số sử sách xưa, danh xưng Đồng Nai được dùng để chỉ một vùng đất.
Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Đôn có viết: “Đất Đồng Nai từ cửa biển Cần Giờ, Soi
Rạp, Cửa Đại, Cửa Tiểu... toàn là rừng rậm hàng mấy vạn dặm...” Trịnh Hoài Đức
trong tác phẩm khảo cứu Gia Định thành thông chí ghi chép rằng: “Bà Rịa ở đầu
trấn Biên Hòa, là đất có danh tiếng, nên các phủ phía Bắc có câu ngạn rằng: cơm
Nai Rịa, cá Rí Rang, ấy là lấy xứ Đồng Nai và Bà Rịa đứng đầu mà bao gồm cả Bến
Nghé, Sài Gòn, Mỹ Tho, Long Hồ vậy”. Bộ tư liệu sử Đại Nam nhất thống chí,
quyển Thượng tập thứ năm, của Quốc sử quán triều Nguyễn có nhiều chỗ đề cập
Đồng Nai, như: “chợ Lộc Dã ở phía Nam hạ lưu sông Phước Long, huyện Phước
Chánh, nguyên xưa kia là cánh đồng hươu nai ở nên đặt tên ấy, hoặc gọi là Lộc
Động, tục danh chợ Đồng Nai cũng là ở chỗ này. Xét sáu tỉnh Gia Định mà thông
xưng là Đồng Nai vì khai thác chỗ Đồng Nai trước hết, nên cứ chỗ gốc cũng gồm đủ
chỗ ngọn”. Những ghi chép trên và một số tư liệu trong sách sử khác thường được
trích dẫn trong các công trình nghiên cứu giới thiệu về Đồng Nai sau này, bài viết này
cũng không ngoài lệ đó.
Danh xưng Đồng Nai cũng xuất hiện nhiều trong các ca dao, tục ngữ như:
- “Nhà Bè nước chảy chia hai

1.7 Page 7

▲back to top
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”
- “Đồng Nai xứ sở lạ lùng
Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um”
- “Làm trai cho đáng nên trai
Phú Xuân đã trải, Đồng Nai đã từng”.
- “Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai.
Ai về xin nhớ cho ai theo cùng”.
- “Đồng Nai nước ngọt gió hiền
Biên Hùng muôn thuở đây miền an vui.”
- Đồng Nai gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó thời không muốn về”.
- “Hết gạo thì có Đồng Nai
Hết củi thì có Tân Sài chở vô.”
- Đồng Nai gạo trắng như cò
Trốn cha trốn mẹ xuống đò theo anh.”
- “Đồng Nai nguồn mọi cao sang
Chảy xuống hai hàng, hàng Đại, hàng Sâm.”
- “Bao giờ cạn nước Đồng Nai
Nát chùa Thiên Mụ mới sai lời nguyền.”
- “Rồng chầu ngoài Huế Ngựa tế Đồng Nai…”…
Tên Đồng Nai cũng được định danh cho một nền văn hóa ở Nam Bộ hay phức
hệ văn hóa của một nền văn minh tiền sử mà ngày nay chúng ta được biết qua những
kết quả nghiên cứa khảo cổ học: Văn hóa Đồng Nai/ Văn minh lưu vực sông Đồng
Nai.
Đọc về một cái tên/ danh xưng một vùng đất tưởng chừng như đơn giản hóa ra
cũng phức tạp. Nếu chuyện người xưa đã gọi như vậy thì nay cứ như thế mà gọi thì
quả tản mạn về danh xưng Đồng Nai không có lý gì để bàn. Chắc hẳn, cũng nhiều
danh xưng vô tình hay ngẫu nhiên được gọi mãi thành quen nhưng cũng có những
danh xưng, tên gọi có nhiều ý nghĩa mà nguồn gốc của nó không phải một sớm một

1.8 Page 8

▲back to top
chiều để lý giải được căn cơ, ngọn nguồn. Danh xưng Đồng Nai nằm trong trường
hợp thứ hai.
Từ trước tới nay, đã có nhiều cách lý giải, suy diễn về nguồn gốc hai chữ Đồng
Nai. Chúng tôi xin lược nêu lên những giả thiết sưu tầm dược của các tác giả nghiên
cứu về vấn đề này để mọi người tham khảo thêm.
Trong một bài viết của tác giả H.T.H tựa “Vài cảm nghĩ về hai tiếng Đồng
Nai” đăng trên báo Văn Nghệ Đồng Nai xuân Tân Dậu, có nêu lên một số ý kiến xin
được tóm lược như sau: Tác giả không đồng ý với Trịnh Hoài Đức trong tác phẩm
Gia Định thành thông chí khi cho rằng Đồng Nai là cánh đồng có nhiều nai: “một
Trịnh Hoài Đức, một Trương Vĩnh Ký và còn biết bao người nữa...đã khẳng định
Đồng Nai là Đồng bằng có Nai là sai, là lầm”. Về cách giải thích, H.T.H cho rằng:
tỉnh Biên Hòa cũ nói chung là phần đất trung du của Nam Bộ. Ven sông Đồng Nai có
đôi chỗ được gọi là đồng bằng nhưng đó chỉ là những trũng của miền trung du được
phù sa sông Đồng Nai bồi đắp thành đồng bằng nhỏ, manh mún. Những vùng đất
được gọi là đồng bằng ven sông Đồng Nai được trồng lúa nước với diện tích nhỏ, như
vậy không có đồng ruộng bát ngát hay đồng cỏ mênh mông có nai ăn cỏ được. Không
thể gọi là đồng đúng với từ địa lý hay so với các đồng bằng khác từ sông Sài Gòn
xuống sông Vàm Cỏ, sông Tiền...Tác giả đồng ý với quan điểm của nhà văn Bình
Nguyên Lộc (tên thật là Tô Văn Tuấn (sinh ngày 7/3/1914, tại làng Uyên Hưng, tổng
Chánh Mỹ Trung, huyện Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa - nay thuộc tỉnh Bình Dương), một
nhà văn và cũng là một nhà nghiên cứu với những công trình liên quan đến vùng đất
Đồng Nai - PĐD). Bình Nguyên Lộc cho rằng: “riêng ở Biên Hòa thì toàn địa danh
của người Mạ mà chúng tôi nghi là hậu duệ của Phù Nam. Tên Đồng Nai không phải
là tên Việt Nam mà là tên của Mạ, họ gọi sông Đồng Nai là Đạ Đờng. Đạ là hình
thức dầu tiên sẽ biến thành nước trong ngôn ngữ ta, qua Nác ở Huế và Dak của
người Mường. Mạ: Đa; Xtiêng: Đá; Bana, Sơđăng, Mường: Đák; Việt Nam, Thừa
Thiên: Nác; Việt Nam: Nước; Cao Miên: Tứk. Đờng được biến thành Đồng... Như
vậy, sông Đồng Nai là sông Đồng mà lưu vực có nhiều Nai”.
Trong bài viết này, tác giả H.T.H khẳng định: “Đồng bào dân tộc Mạ - một cư
dân quan trọng ở Đồng Nai - với địa bàn sinh sống của mình, trong đó có sông Đồng

1.9 Page 9

▲back to top
Nai. Họ đã gọi sông Đồng Nai là Đạ Đờng. Đạ là nơi xuất phát dòng nước. Đờng là
sông. Từ Đạ Đờng có sớm nhất cũng 3.000 năm rồi. Và cách đây 300 năm, từ Đạ
Đờng chuyển thành Đồng Nai. Thế có nghĩa từ Đờng chuyển âm thành Đồng, còn từ
Đạ bỏ mất thêm chữ Nai: Đồng Nai...”
Như vậy, quan điểm này cho rằng danh xưng Đồng Nai bắt nguồn và chuyển
dịch từ ngôn ngữ Mạ. Từ xuất phát điểm là hai chữ Đạ Đờng (chỉ sông lớn, sông cái)
mà người Mạ dùng gọi con sông Đồng Nai (hiện tại). Trong quá trình hình thành, dần
dà chữ Đạ mất đi, chữ Đờng được duy trì và đọc trại thành Đồng. Con sông Đồng có
nhiều Nai để gọi thành sông Đồng Nai. Có thể tóm tắt như sau: Đạ Đờng - Đờng -
Đồng + Nai = Đồng Nai. Cách lý giải này đưa đến một cách hiểu khác hoàn toàn với
cách miêu tả của Trịnh Hoài Đức, cụ thể là: Đồng Nai bắt nguồn từ con sông lớn có
nhiều nai chứ không phải là cánh đồng có nhiều hươu nai.
Trong Hội thảo với nội dung: “300 năm hình thành và phát triển vùng đất Biên
Hòa - Đồng Nai (1698 - 1998) tại Đồng Nai, có nhiều bài tham luận của các nhà
nghiên cứu, khoa học đề cập nhiều mặt trong diễn trình lịch sử của vùng đất Biên
Hòa - Đồng Nai. Trong đó, có hai bài có đề cập về tên gọi Đồng Nai. Chúng tôi xin
lược nêu những điểm đáng chú ý:
Tác giả Đỗ Quyên (tên thật là Đỗ Bá Nghiệp, nguyên Giám đốc Bảo tàng Đồng
Nai từ năm 1976 - 1997), có bài phát biểu “Danh xưng Đồng Nai”. Với mục đích cần
thiết phải cân nhắc, bàn bạc để tìm ra cách lý giải thỏa đáng, có sức thuyết phục về
danh xưng Đồng Nai, tác giả đã nêu một vấn đề đáng chú ý như:
¹ Tên sông Đồng Nai có trước hay tên đất có trước. Người ta lấy tên sông để
gọi tên vùng đất nó chảy qua hay lấy tên vùng đất ấy đặt tên cho dòng sông? Ngay cả
khi sông Đồng Nai có tên chữ là Phước Long thì phủ Phước Long mượn tên dòng
sông hay ngược lại ?
¹ Các danh xưng Thù Nại, Nông Nại rồi Lộc Dã, Lộc Động là sự chuyển dịch
ngôn ngữ từ Đồng Nai ra hay ngược lại ?
Tác giả cũng nói lên chính kiến: “Dù sao, thì nhiều người nhìn nhận cấu trúc
ngôn ngữ danh xưng Đồng Nai là thuần Việt” và đơn cử những địa danh gắn với con
vật móng guốc, ăn cỏ (Nai) như: Đồng Nai, Hố Nai, Hang Nai, Bàu Nai… và những

1.10 Page 10

▲back to top
địa danh gắn với từ Đồng như: Đồng Tràm, Đồng Lách, Đồng Đế, Đồng Tranh, Đồng
Môn... Dẫn theo một tài liệu của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu (đang sinh sống
tại thành phố Hồ Chí Minh/ tác giả nhiều công trình nghiên cứu về Địa bạ thời
Nguyễn/ tham gia tại Hội thảo), tác giả Đỗ Quyên cho biết: “Danh xưng Đồng Nai
được phiên âm ra tiếng Pháp là Donnai với chữ icréma và các giáo sĩ Bồ Đào Nha
ghi Dounai trên chữ u có dấu grouppetto ( ) đọc là Đồng Nai, từ giữa thế kỷ 17
người Pháp cũng định nghĩa Đồng Nai = champ des cerfs, là đồng có
nai.”. Đồng thời, tác giả cũng lưu ý: “Ở đôi bờ dòng sông đi qua (sông Đồng Nai -
PĐD), từ cuối thế kỷ trước (thế kỷ 19 - PĐD), các nhà khảo cổ Pháp và nhất là sau
giải phóng, khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện khai quật và ghi tọa độ hàng trăm
dấu vết của nền văn minh cổ lưu vực sông Đồng Nai. Tuy nhiên, bối cảnh xã hội,
trình độ văn minh và sự phát triển ngôn ngữ thế nào để chứng minh là người thời đại
đồng đã gọi sông Đồng Nai là Dah Đờng thì xin thận trọng”. Tác giả Đỗ Quyên đã
đưa ra nhiều vấn đề khá lý thú và có lẽ không tán thành quan điểm “Từ Đạ Đờng có
sớm nhất cũng từ 3.000 năm rồi của tác giả H.T.H được nêu trên.
Bài “Nguồn gốc, ý nghĩa và quá trình phát triển của địa danh Đồng Nai” của
PTS Lê Trung Hoa trong hội thảo đưa ra những vấn đề như sau:
¹ Địa danh Đồng Nai có lẽ ra đời vào gần thời điểm năm 1658, nhân sự kiện
vua Nặc Ông Chân “xâm phạm biên cảnh”, quân chúa Nguyễn đã đánh vào Moi
Xoai. (Địa điểm này được xác định như sau: Khi ấy địa đầu Gia Định là Mỗi Xuy/
hay Mô Xoài và Đồng Nai/ Biên Hòa trấn đã có lưu dân Việt đến trú ngụ, sinh sống.
Người Cao Miên khâm phục oai đức của triều đình nhà Nguyễn đem nhượng cả đất
ấy, rồi tránh ở chỗ khác, không tranh trở chuyện gì. Sự kiện này được Trịnh Hoài
Đức nêu trong Gia Định thành thông chí, tập Trung, khi Khâm mạng Trấn Biên
dinh/ tức trấn Phú Yên là Yến Vũ hầu, Tham mưu Minh Lộc hầu và Tiên phong Cai
đội Xuân Thắng hầu đem 3.000 quân vào Môi Xoai/ Môi Xuy giải quyết vụ việc vua
Cao Miên xâm phạm biên cảnh vào tháng 9 năm Mậu Tuấn/1658 - PĐD).
¹ Địa danh Đồng Nai xuất hiện bằng chữ quốc ngữ lần đầu tiên trong một báo
cáo của Giáo hội Thiến Chúa giáo về tình hình giáo dân ở Nam Bộ năm 1747 với
cách gọi là Dou-nai. Sau đó, địa danh Đồng Nai xuất hiện vừa bằng chữ Nôm vừa

2 Pages 11-20

▲back to top

2.1 Page 11

▲back to top
bằng chữ Quốc ngữ vào năm 1772 trong Từ điển An Nam - La tinh của
PigneaudeBéhaine/
Dictionariumannamtico-latinum. Hai chữ Hán và Nôm mà tác giả dùng để phiên âm
địa danh Đồng Nai về sau này các tác giả như: Lê Quý Đôn/ Phủ Biên tạp lục/ 1776,
Trịnh Hoài Đức/ Gia Định thành thông chí/ 1820, Taberd/ Dictionariumannamtico-
latinum/ 1838, Huỳnh Tịnh Của/ Đại Nam quốc âm tự vị/ 1895-1896, Génibrel Dict
onnaireannamite- francais/ 1898, cũng viết như thế. Như vậy, tất cả các sách từ điển
và sách sử, địa đều nhất trí về cách viết bằng chữ Nôm địa danh Đồng Nai.
¹ Về nghĩa hai chữ này, các tác giả đều hiểu là “cánh đồng có những con nai”.
Khi cần dịch sang chử Hán, các nhà nho đã dùng hai chữ Lộc Dã/ Lộc là con nai, Dã
là cánh đồng. Các nhà Hán học cũng hiểu từ ghép Đồng Nai vốn có nghĩa như trên.
Một số khác thay vì dùng Lộc Dã, lại dùng Lộc Động/ có lẽ hiểu theo nghĩa đen là
Hang Nai. Như vậy, không khớp nghĩa với Đồng Nai và thực tế con Nai không ở
trong hang. Ngoài trường hợp dịch nghĩa và dịch nghĩa-phiên âm trên còn có trường
hợp phiên âm thuần túy từ Đồng Nai thành Nông Nại. Từ Đồng được phiên âm thành
Nông có thể chấp nhận vì hai phụ âm “đ” và “nhân dân” cùng phụ âm đầu lưỡi, có
nhiều tiền lệ chuyển đổi như thế; còn từ Nai trong tiếng Hán-việt không có, nên phải
dùng từ Nại là âm tiết tương cận để phiên. Tác giả Lê Trung Hoa lưu ý về những cái
tên như. Lộc Dã, Lộc Động, Nông Nại không phải là những địa danh thực thụ mà chỉ
là tên dịch, tên phiên âm hoặc tên vừa dịch vừa phiên âm của địa danh Đồng Nai.
¹ Đồng Nai là một cấu trúc “từ chỉ địa hình + tên thú” rất phổ biến tại Việt
Nam, đặc biệt là ở Nam Bộ. Một số ví dụ điển hình như: rạch Bến Trâu, Gò Công,
Hố Bò, cầu Rạch Đĩa, ấp Bàu Trăn... ở Thành phố Hồ Chí Minh; còn yếu tố Nai hay
Hươu xuất hiện trong địa danh cũng khá nhiều như: Hố Nai, Đồng Hươu/ ở Biên
Hòa; rạch Nai, ấp Bàu Nai, sông Mũi Nai, Hóc Hươu/ ở Thành phố Hồ Chí Minh.
¹ Cho đến nay, địa danh Đồng Nai đã chỉ ít nhất 8 đối tượng, tức là có 8 địa
danh Đồng Nai theo trình tự phát triển như sau: cánh đồng có nhiều nai; một vùng
trong địa phận tỉnh Đồng Nai hiện nay; chợ ở hạ lưu sông Đồng Nai vào thế kỷ 19,
cách Biên Hòa độ 5 dặm/ “chị Hươu đi chợ Đồng Nai Ghé qua Bến Nghé ngồi nhai
thịt bò.”; chỉ cả vùng miền Đông Nam Bộ/ “Nhà Bè nước chảy chia hai. Ai về Gia

2.2 Page 12

▲back to top
Định Đồng Nai thì về.”; chỉ tên sông Đồng Nai vì chảy qua miền Đông Nam Bộ; chỉ
cả Nam Bộ/ “Đồng Nai gạo trắng như cò. Trốn cha, trốn mẹ xuống đò theo anh” và
trong bài “Chạy Tây” của Nguyễn Đình Chiểu: “Bến Nghé của tiền tan bọt nước.
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”; chỉ cây cầu trên xa lộ Hà Nội, bắc qua sông
Đồng Nai được làm trong khoảng thời gian từ 1955-1961; chỉ tỉnh Đồng Nai được
thành lập vào năm 1976; ngoài ra còn có địa danh Đồng Nai Thượng/ tên một tỉnh ở
thượng nguồn sông Đồng Nai, lấy Đà Lạt làm tỉnh lỵ, lập năm 1899 và giải thể năm
1901.
¹ Đối với tên nước Thù Nại, tác giả cho rằng không có quan hệ gì với địa danh
Đồng Nai vì mấy lý do: Trước hết, các nhà sử học chưa nhất trí về tên gọi nước này
(Thù Nại, Thù Cấm hay Chu Nại?) Kế đến, nước này nằm ở bộ phận nào (Nam Bộ
hay nơi khác?) Mặt khác, Nai có thể liên hệ về ngữ âm với Nại, chứ Cấm thì không.
Còn Thù và Chu hoàn toàn không có quan hệ về âm và nghĩa với Đồng. Sau cùng, tên
nước này vốn là một từ ngữ cổ được Hán Việt hóa, còn Đồng Nai là một từ ngữ thuần
Việt và xuất hiện trong thời kỳ cận đại.
Trong công trình nghiên cứu Cù Lao Phố, lịch sử và văn hóa do Nhà Bảo tàng
Đồng Nai thực hiện, NXB Đồng Nai xuất bản năm 1988/ nhiều tác giả có đề cập đến
địa danh Đồng Nai. Chương mở đầu Khởi nguyên Cù Lao Phố, có đoạn viết: “Ở
nước ta, hầu như đâu đâu cũng có một dòng sông gắn với một vùng đất. Sông Đồng
Nai, từ buổi đầu mở cõi về phương Nam, có vai trò quan trọng là đưa những nguồn
nhân lực đến đây khai hoang lập nghiệp và nó đã nối kết các cộng đồng cư dân cũ
mới, hòa trộn các ngọn nguồn văn hóa để rồi cấu thành một tổng thể đa chất và với
một nỗ lực trung nguyên nào đó chúng ta cũng tìm ra được những hạt giống nguyên
sơ ánh lên một sắc màu riêng biệt.
Chẳng hạn, ngay cái tên sông Đồng Nai quen thuộc đến mức thân thương này
cũng không phải là cái tên cổ nhất mà nó chỉ xuất hiện với tư cách là tục danh của
Phước Long Giang, từ hơn 300 năm trở lại đây - khi con cháu của vua Hùng đến
chặt nhát dao đầu tiên vào cánh rừng trải dài hàng nghìn dặm từ cửa Xoài Rạp lên
đến thượng nguồn của những con suối, những dòng sông; trong đó có sông Đồng Nai
mà người Mạ gọi là Đạ Đờng.

2.3 Page 13

▲back to top
Đạ Đờng theo J. Boulbet thì: Đạ (Dáa: phiên âm của Boulbet) là nước, dòng
nước, chất lỏng, và Đạ Đờng (Dáo Doòng) là “dòng sông, ở đây chỉ sông Đồng Nai
thượng; người Mạ có dòng sông riêng của họ, và đặt tên là sông Cái (cours d’eau
majeur); đây là cách gọi dành riêng cho chính dòng sông đó” (J. Boulbet: Pays des
Maá, domaine des genies/ Nggar Maá, nggar Yaang - E.F.EO, Paris, 1967). Căn cứ
vào dữ liệu mà Boulbet khảo cứu, chúng ta có thể định rằng từ Đồng trong tên sông
Đồng Nai bắt nguồn từ âm Đờng của tên sông Cái/ Đạ Đờng của người Mạ. Nói
cách khác, tên sông Đồng Nai không có nghĩa là Lộc Dã: cánh đồng có nai; và vấn
nạn tiếp theo là từ “Nai” .
J.Boulbet có đưa ra từ kép hao ning và giải nghĩa hao ning là leo dốc, có âm
và nghĩa gợi cho chúng ta sự liên hệ với địa danh Hố Nai. Điều này cho phép chúng
ta giả định từ “nai” của tên sông Đồng Nai có thể bắt nguồn từ từ “ning” của người
Mạ. Theo đó, Đồng Nai phải chăng là “Đờng Ning”: sông Cái (có) bờ dốc đứng”.
Và trong một đoạn khác cũng của chương này nhắc đến danh xưng “Nông Nại Đại
Phố”. Thật ra, danh xưng “Nông Nại Đại Phố” không phổ biến trong xứ ta mà nó
được Trịnh Hoài Đức, khi đi sứ qua Đại Thanh “đã thấy sử Trung Quốc chép người
Đồng Nai là người Nông Nại”.
Một công trình nghiên cứu khác: Làng Bến Cá xưa và nay do Nhà Bảo tàng
Đồng Nai thực hiện, tác giả Diệp Đình Hoa, Phan Đình Dũng, Nxb Đồng Nai xuất
bản năm 1998, cũng đề cập đến địa danh Đồng Nai. Ngay từ đầu Chương một có tên
gọi Đồng Nai và Bến Cá, các tác giả đi ngay vào địa danh Đồng Nai.
Phần Đồng Nai được viết như sau: “Đồng Nai là một địa danh thuần Việt,
ngày nay là tên của một trong 61 tỉnh thành. Nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh
Đồng Nai, tuy rất rõ ràng song vẫn làm băn khoăn không ít người muốn quan tâm
một cách thấu đáo. Thế kỷ XIX, các tác giả của cuốn Đại Nam nhất thống chí
(ĐNNTC) đã: “xét: 6 tỉnh Gia Định mà gọi chung là Đồng Nai, là vì lúc mới khai
phá, bắt đầu từ Đồng Nai, nên lấy chỗ gốc mà bao trùm”. Do đó có thể thấy rằng cho
đến thế kỷ XIX, Đồng Nai có thể là một địa danh chỉ một địa điểm cụ thể, một làng,
xã, ấp thôn, một địa danh lớn như phạm vi một tỉnh hiện nay, một địa danh phiếm chỉ
cả vùng Đông Nam Bộ, hoặc cả một vùng đầu thế kỷ XX này, chúng ta vẫn quen gọi

2.4 Page 14

▲back to top
là Nam Kỳ lục tỉnh, tức 6 tỉnh của vùng đất Nam Bộ. Đồng Nai là một địa danh trực
chỉ, cụ thể, vừa có vinh dự được sử dụng như một địa danh phiếm chỉ, khái quát.
Thế kỷ XVIII, chữ Quốc ngữ xuất hiện trong các báo cáo của giáo hội Thiên
Chúa giáo, các nhà nghiên cứu đã lưu ý đến cách phiên âm Dounai. Giáo sĩ người
Pháp thì viết chữ con chữ i, créma. Giáo sĩ người Bồ thì viết con chữ u, groupptto. Về
mặt chữ nghĩa, hai âm Du và Nai đã được khẳng định vào thế kỷ XVIII sớm nhất là
năm 1747. Về mặt ý nghĩa, các tác giả đều hiểu theo âm thuần Việt, nghĩa là cánh
đồng của những con nai. Géniberi chuyển ngữ sang Pháp văn là: La plaine aux cerfs.
Các nhà Hán học khi chuyển ngữ sang Hán văn là Lộc Dã, Lộc Động. Nông Nại là
Minh âm, theo thổ ngữ Quảng Đông. Lê Trung Hoa cho rằng phụ âm đầu lưỡi đ có
thể chuyển sang n, nhưng đó lại là quy luật của tiếng Việt. Người Trung Quốc không
có phụ âm đầu lưỡi đ. Dù sao đây cũng chỉ là nhận thức của những con người ở thế
kỷ XVIII về vùng đất mà chúng ta quan tâm.
Từ thế kỷ XVII trở về trước, địa danh mà chúng ta đang quan tâm được ghi
chép như thế nào? Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí, là người đầu
tiên dẫn Cựu Đường Thư, nêu ra nghi vấn về một vùng đất Thù Nại có liên quan đến
Gia Định. Lê Trung Hoa đồng ý với Nguyễn Đình Đầu cho rằng địa danh Thù Nại
chả có liên quan gì đến địa danh Đồng Nai, vì hai âm Đồng và Thù không có liên
quan gì với nhau. Hơn nữa, vị trí của nước Thù Nại cũng chưa xác minh được. Nói
tóm lại, đó là những vấn đề phiên âm, ngữ âm, ngữ nghĩa... Cựu Đường Thư tuy
không phải do Lưu Hưởng viết, nhưng người ta vẫn xem ông như tác giả có lẽ hoàn
thành vào thời Hậu Tấn, vào khoảng 941-945. Sách này cho biết nước Thù Nại, vào
thời Vĩnh Huy (650-655) nhà Đường, bị nước Chân Lạp diệt.
Đối với các nhà địa lý cổ, Việt Nam cũng như Trung Quốc, phong cách định vị
theo lối phiên âm phiếm chỉ rất phổ biến, vì đó là cách dùng một nơi đã biết để chỉ
một vùng chưa biết rõ. Cho đến thế kỷ XIX, các nhà địa lý Việt Nam vẫn còn sử
dụng khái niệm Đồng Nai để chỉ cả vùng Nam Bộ. Vì thế, việc định vị nước Thù Nại
cũng không nằm ngoài quy luật đó. Điều này cũng tương tự như việc định vị hàng
loạt những vùng được gọi là nước ở trong vùng như: nước Chi Kỳ, nước Xích Thổ,
nước Bà Ly...

2.5 Page 15

▲back to top
Bây giờ chúng ta thử khảo cứu âm Thù trong địa danh Thù Nại. Như trên đã
đề cập, hiện nay liên quan đến con chữ đ, phiên âm Bắc Kinh là t, căn cứ vào những
chữ Hán Việt thông dụng, theo Từ điển Tự giác, Từ điển Tân hoa… vấn đề này có
liên quan đến 304 chữ. Trong số này chuyển sang âm Hán Việt, với con chữ đ có 155
chữ, chiếm 50,98%, với con chữ th có 138 chữ, chiếm 45,39%. Số còn lại 11 chữ,
chiếm 3,61% với các âm d (1 trường hợp), kh (2 trường hợp), n ( 1 trường hợp), ph (l
trường hợp), s (5 trường hợp), x ( 1 trường hợp). Như vậy, khi chuyển sang âm Hán
Việt, âm đ và âm th, là hai trường hợp cùng tồn tại. Âm đ chuyển hẳn sang âm thuần
Việt, còn âm th vẫn còn bảo lưu ở âm Hán hiện đại, qua con chữ t của phiên âm Bắc
Kinh.
Năm 1747, với ký tự Dou Nai của các giáo sĩ Thiên Chúa giáo, chúng ta có thể
khẳng định rằng âm Thù đã tồn tại suất 800 năm. Từ âm Thù - Dou biến thành âm
Đồng là sự phát triển vào thế kỷ XIX. Cần nhớ rằng trong khối từ Hán Việt không có
từ đu mà chỉ có một âm du khi chuyển qua đ và th.
Thù là một từ phiên âm qua ký tự Hán Việt, cho nên nó vô nghĩa. Trong tiếng
Việt: thù với đặc trưng thuần Việt, lại có ý nghĩa.
Đứng ở góc độ dân tộc thực vật học, một phạm trù còn lưu giữ được nhiều kiến
thức dân gian nhất, chúng ta có thể hiểu được phần nào sự bảo tồn của triết lý dân
gian qua tên gọi. Người miền Nam gọi cây đu đủ là cây thù đủ. Cây thù đủ là cây
ngoại nhập, carica papaya L. họ đu đủ Caricaceae. Ở đây có vấn đề chữ nghĩa hóa âm
thù sang âm đu. Hiện tượng này không phải cá biệt. Trong đợt khảo sát tại Cà Mau
năm 1995, người dân Cà Mau dùng cây thù lù, Physalis Angulata L. để chữa bệnh.
Đây là loại cây thuộc họ cà Solanaceae. Cùng loại này, có các loại cây khác được gọi
cùng tên như: thù lù nhỏ (Physalis Peruviana L.), thù lù kiêng (Physalis Alkekengi
L.). Một cây họ đinh lăng, A raliaceae, cũng được dùng làm thuốc, là cây thù dù,
Trevesia Cavaleriei (Lév.) Grushv Skvorts. ý nghĩa của chữ thù ở đây có nghĩa là lớn.
Nại trong Thù Nại cũng là phiên âm từ ký tự Hán cho nên vô nghĩa. Thế kỷ
XIX, khái niệm nai được hiểu là con nai. Điều này đúng vì nai là từ thuần Việt, có ý
nghĩa rõ ràng. Dù sao cách hiểu đã nêu bao hàm cách lý giải mang tính phát triển.
Trong kho từ vựng tiếng Nôm, từ nai còn có nghĩa là vò đựng rượu. Ngày nay từ nai

2.6 Page 16

▲back to top
đã được thay thế bằng các từ vò, bình, vại chum, chóe. Các bằng chứng về khảo cổ
học cũng đã chứng thực vùng Đồng Nai - Biên Hòa, trong suốt 4.000 năm phát triển
vẫn là một trung tâm sản xuất gốm, rất thịnh vượng. Thù Nại phải chăng là một vùng,
trong quá trình tồn tại của nó, được người đương thời biết đến qua sản phẩm nổi tiếng
về những chóe đựng rượu.
Nếu thù có nghĩa là lớn thì còn vấn đề có liên quan đến ngữ pháp tiếng Việt.
Thù rồi tiếp đến sự định hình là đou, với tác dụng là một tính từ, cho nên vị trí của nó
phải đứng ở đằng sau danh từ mà nó có nhiệm vụ bổ ngữ. Sự linh hoạt của tiếng Việt
đã chứng thực vấn đề vị trí và tác dụng này có thể hoán đổi. Trường hợp các loại cây
cỏ với âm thù đã dẫn trên là một ví dụ. Một điểm khác nữa, thay vì nói cỏ xanh, ngực
đỏ, người Việt vẫn nói xanh cỏ, đỏ ngực. Những ví dụ như thế còn nhiều như: đông
đồng, vắng chợ...
Phiên âm Thù Nại có liên quan đến những vấn đề của nguyên tộc Việt cổ, còn
phiên âm Đồng Nai, một từ thuần Việt, có liên quan đến người Việt. Trong quá trình
kế thừa và phát triển gần 1.000 năm, sự thay đổi từ ngữ là diều tất yếu. Đó cũng là
một trong những quy luật khi nghiên cứu về địa danh học. Thù là tiếng phiên âm cổ
nhất đối với vùng đất Việt cổ, cách đây 1 000 năm. Điều này có liên quan đến những
từ Hán Việt, vốn còn giữ gốc Đường âm. Quá trình phát triển làm nảy sinh các âm:
Chu, Nông, Đông... cũng không có gì là lạ. Động thái này cuối cùng được định hình
với nghĩa đồng là cánh đồng, một vùng đồng bằng trước núi, phù hợp với quan niệm
địa lý hiện đại. Động thái phát triển của phiên âm nai, được định hình là con nai, với
âm chữ nghĩa hóa là lộc.
Trên đây chúng tôi chỉ giới thiệu một khả năng để hiểu phiên âm từ nai, chủ
yếu dựa vào chứng thực của khảo cổ học. Thật ra âm nai còn liên quan đến hai nghĩa
nữa: một có liên quan đến âm nái, cái có nghĩa là núi, là mẹ, là lớn; một có liên quan
đến dân tộc thực vật học. Người vùng này còn dùng từ nai đồng nghĩa với từ bổi ở
phía Bắc, chỉ các cây thuốc họ mộc xỉ, Dryopte-ridaceae, chủ yếu là giống
Arachniodes sp. Vùng đồng bằng sông Chu, sông Mã họ dùng từ này để chỉ các loại
cây ngứa, họ cây ngứa Urticaceae, chủ yếu là các loại cây lá han, Villebrunea sp. Một
hiện tượng thiên nhiên mang tính phổ biến, nhưng chỉ có một nơi đặc thù hóa, được

2.7 Page 17

▲back to top
định hình qua địa danh. Từ Việt cổ đến tộc Việt là một quá trình có nguồn gốc đa
nguyên.
Những điều đã nêu trên phản ánh triết lý về tính năng động của người Việt..
Trong Địa chí Đồng Nai (gồm 5 tập: Tổng quan, Địa lý, Lịch sử, Kinh tế, Văn
hóa-Xã hội) của tỉnh Đồng Nai, Nxb Đồng Nai xuất bản năm 2001, ngay từ đầu tập
Tổng quan/ phần Địa danh và Lược sử do Tiến sĩ Huỳnh Văn Tới biên soạn, đã đề
cập về nguồn gốc của địa danh Đồng Nai. Tác giả đã lược kết những nguồn tư liệu,
giả thuyết, lý giải của nhiều nhà nghiên cứu về vấn đề này. Trong đó có đoạn viết:
“Theo tài liệu của Trương Bá Cần/ lược sử Công giáo Nam Bộ (thế kỷ XVI, XVII,
XVIII), trong một bản tường trình của thừa sai Gouge viết năm 1701, thân sinh của
linh mục Laurent cùng với một số người trong gia đình đã đến vùng Dou - Nai (Đồng
Nai) khai phá, cày cấy từ 29 năm trước. Thư của Giám mục phó Labbé gởi Ban giám
đốc Chủng viện Truyền giáo nước ngoài đề ngày 24.7.1710, có đoạn: “Có một miền
gọi là Dou - Nai (Đồng Nai) ở giữa Cao Miên và Chiêm Thành, đây là một vùng
đồng bằng, đất tốt, khá rộng và dài, rừng rậm, cây to, nơi mà người Đàng Trong đến
lập nghiệp từ 35 hay 40 năm nay”. Như vậy, từ đầu thế kỷ XVIII địa danh Đồng Nai
đã được các nhà truyền giáo ghi chép từ tên gọi dân gian đã phổ biến trước đó vài
chục năm”.
Những tư liệu được dẫn ra trên đã góp phần làm rõ về nguồn gốc, ý nghĩa của
địa danh Đồng Nai. Từ những nguồn tư liệu, cách lý giải, suy đoán của các nhà
nghiên cứu cho thấy có nhiều điểm tương đồng song cũng có những ý kiến chưa
thống nhất với nhau.
Lần giở trong chồng tư liệu sưu tầm, chúng tôi thấy có hai lời ngỏ khá lý thú có
đề cập đến tên gọi Đồng Nai. Xin được lược trích, giữ nguyên văn câu chữ để giới
thiệu:
Thứ nhất là tạp chí Đồng Nai số 1 (15 Février 1932)/ ra đời năm 1932, cơ quan
tại 331, Frère Louis, Sài Gòn, giây nói - 704; có đoạn viết như sau: “... Chúng tôi
riêng nghỉ: trong Lục Châu, cái tên Đồng - Nai cùng cái tên Bến - Nghé có thể tương
đương với tên Núi - Tản, sông Lô ngoài Bắc, tương đương với tên Sông - Hương, Núi
- Ngự ngoài Kinh, nghĩa là có thể làm biểu hiệu cho một góc trời Nam. Ở xứ Nam Kỳ

2.8 Page 18

▲back to top
này có mấy nơi giàu lịch sử cho bằng con sông Đồng Nai, con sông Bến Nghé, là
mấy nơi chứng kiến bao nhiêu cảnh tang thương biến đổi trong khoản ngoài trăm
năm nay....
Còn cái tên Cọp Đồng – Nai mà người ta ban cho Phò - mả Vỏ - tôn - Tánh
gẫm không phải là vô vị? Chớ như ở Chung Xá bọn quân của Võ - văn - Dũng (Tây -
Sơn) nửa đêm vì có nai chạy lạc trong trại, la: Nai, Nai, mà tưởng quân Đồng Nai rồi
ùng ùng vụt chạy, thì riêng nghĩ cái tên Đồng - Nai không phải là không có nghị lực
đặc biệt !”(1)
Thứ hai là trong mục Thỏ thẻ tâm tình/ lời của Bộ Biên Tập/ Đồng Nai Văn
Tập số 5 (không rõ năm xuất bản ) có lời: “… Đồng Nai, tên sao nôm - na quê kịch
mà sao thân thiết quí yêu! Trên chỗ nước mặn đồng chua, âm thanh khêu gợi một chi
chi thiêng liêng cao cả, như tiếng Rạch Gầm nhắc nhở chiến công của Quang Trung,
như tiếng Đồng tháp mở rộng cõi lòng về dĩ vãng kháng chiến hồi thế kỷ trước. Đồng
- Nai, con sông lịch sử, con sông phì nhiêu, đã chở phù sa từ trên cao nguyên bồi
thành đồng ruộng và đã tiếp đón bao nhiêu lớp buồm cánh dơi từ ngoài biển vào:
“Nhà Bè nước chảy chưa hai,
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về !”.
Đồng - Nai, con sông hiền lành, mở rộng lòng thương cho tất cả không phân
biệt thân sơ:
“Rồng chầu ngoài Huế,
Ngựa tế Đồng - Nai
Nước sông trong sao lại chảy hoài?
Thương người xa xứ lạc loài tới đây.”.
Lòng người lắm khi hậu bạc không chừng, nhưng Đồng - Nai bao giờ cũng
trung thành một mực:
“Buồn tình cha chả buồn tình, Không ai về Bắc cho mình gởi thơ!”.
Đồng - Nai đã phơi gan trải ruột qua nhiều thế hệ, trong ca dao như thế, biểu
sao tên Đồng - Nai không được quý yêu, không được chọn lựa?
1Chúng tôi giữ nguyên văn của các bài báo.

2.9 Page 19

▲back to top
Chôn nhau cắt rún trong đất Đồng Nai , chúng tôi coi Đồng Nai là đất mẹ, là
quê cha, là Tổ quốc, trong phạm vi eo hẹp của một cá nhân, nếu biệt lập với toàn thể
của mình. Chúng tôi là con cháu của Đồng - Nai , đã lớn lên ở đây và sống bằng đất
nước chua mặn...
…Vậy vốn là con cháu của Đồng - Nai chúng tôi lãnh lấy phận sự làm cho biết
đấy nước nhau rún của mình một cách trung thành. Chúng tôi không phải là bọn
người mở đầu, trước chúng tôi đã có nhiều bực tiền bối; chúng tôi tiếp tục một công
trình đã khởi sự tư hồi chúa Nguyễn bôn ba vào Nam.
Từ thuở đó ông bà chúng tôi đã ra sức làm cho xứ Đồng - Nai được biết: Cụ
Võ Trường Toàn đã soạn bộ Nhứt - thống dư địa - chí, cụ Trịnh Hoài Đức đã soạn bộ
Gia - Định thông chí, ngoài ra các cụ khác còn nhiều văn tập và thi tập, không làm
hổ danh “Gia Định tam gia” và đã làm nức tiếng đất Nam - Trung một thuở, mà đến
nay còn lưu truyền câu tục - diêu:
“Đồng Nay có bốn rồng vàng
Lộc họa, Lễ phú, Sang đàn, Nghĩa thi…” 2
Như vậy, trải qua bao biến thiên muôn màu của lịch sử, danh xưng Đồng Nai
ngày nay đã trở thành tên gọi của đơn vị hành chánh cấp tỉnh: tỉnh Đồng Nai ở miền
Đông Nam Bộ, trong lòng Nam Bộ, trong lòng nước Việt Nam mến yêu.
Danh xưng của một vùng đất, của một dòng sông, của một Hào khí oai hùng,
của một phức hệ văn hóa... hàm chứa cái thiêng, hàm ẩn một sức sống mãnh liệt
trong sự tồn tại của nó với bao điều lý thú và chắc chắn còn nhiều điều cần tìm hiểu
thêm, chưa có hồi kết. Sự lý thú và hấp dẫn về một danh xưng Đồng Nai vẫn còn là
một vấn đề mở cho những ai quan tâm đến nó.
Ts. Huỳnh Văn Tới
Ths Phan Đình Dũng
2 Chúng tôi giữ nguyên văn của các bài báo

2.10 Page 20

▲back to top
Nghiên cứu khảo cổ học ở Đồng Nai
Thực trạng và những giá trị văn hóa lịch sử
Ở Đồng Nai, công tác nghiên cứu khảo cổ học đã góp phần quan trọng trong
việc tìm hiểu về lịch sử của vùng đất này trong diễn trình phát triển của đất nước. Từ
kết quả nghiên cứu khảo cổ học đã có một số công trình khoa học được xuất bản, đáp
ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử - văn hóa của nhiều người, góp phần làm sáng tỏ những
thời kỳ lịch sử trong quá khứ và là cơ sở tư liệu quí giá cho công việc nghiên cứu xã
hội.
1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu khảo cổ học ở Đồng Nai
Những di tích, di vật khảo cổ học ở Đồng Nai được phát hiện, nghiên cứu rất
sớm và trải qua nhiều giai đoạn lịch sử.
Lịch sử khám phá buổi ban đầu của khảo cổ học thời tiền - sơ sử Đồng Nai gắn
liền với các tên tuổi của các nhà thám hiểm, du lịch, truyền giáo và thực dân châu âu
như. V. Holbé, D. Grossin, J. Chénieux, E. Cartailhac, A. Mougeot, F. Barthère,
Loesh, J. Repelin... và các thành viên thuộc phái bộ A. Pavie làm việc tại Việt Nam
vào những năm 80 - 90 của thế kỷ XIX. Đây là giai đoạn với những phát hiện lẻ tẻ và
chú ý sưu tập hiện vật tiền sử cho các viện bảo tàng ở Đông Dương và Pháp. Những
địa danh mà vùng đất Đồng Nai mà chủ yếu là dọc hai bờ sông Đồng Nai cùng các
chi lưu của nó như (lò Gạch, Bình Đa, Bến Gỗ, Cái Vạn, An Sơn, Rạch Núi...) được
nhắc đến trên bản đồ khảo cổ học của thế giới. Đặc biệt, sưu tập di vật thời tiền sứ do
V. Holbé gồm 1.200 di vật đá 10 rìu đồng được tìm thấy trên 20 địa điểm ở vùng
Biên Hòa được giới thiệu trong các công trình nghiên cứu của E. Hamy và R.
Verneau được trưng bày tại Hội chợ quốc tế Paris năm 1889. Không ít những di vật
tiêu biểu thời tiền sử được phát hiện đầu tiên ở Đồng Nai được lưu giữ tại các bảo
tàng nước Pháp.
Chặng đường khám phá tiếp theo vào những thập niên đầu của thế kỷ XX với
cuộc khai quật trên vùng cù lao Rùa - nằm giữa sông Đồng Nai, cách thành phố Biên
Hoà khoảng 10 tìm (địa điểm này ngày nay thuộc địa phận huyện Tân Uyên, tỉnh

3 Pages 21-30

▲back to top

3.1 Page 21

▲back to top
Bình Dương) của D. Grossin (1902) và A. Jordin (1910). Theo H. Fontain công bố
vào năm 1970 thì tại riêng tại di chỉ này đã cung cấp 383 di vật đủ kích cỡ, kiểu dáng
làm cơ sở cho việc nghiên cứu thời đại đồ đá mới ở Biên Hòa - Đồng Nai. Những di
vật tương tự ở vùng cù lao Rùa còn tìm được tìm thấy ở các nơi khác ở Đồng Nai trên
nhiều địa hình khác nhau từ miền đất đỏ đến vùng đất thấp phù sa cận biển. Đặc biệt,
trong giai đoạn này là phát hiện di chỉ mộ Hàng Gòn do J. Bouchot chủ trì vào năm
1927 tại vùng Xuân Lộc. Di tích được khai quật và công bố thu hút dược sự quan tâm
của giới nghiên cứu và được Toàn quyền Đông Dương xếp hạng trong danh mục
những di tích lịch sử quan trọng của Liên bang năm 1930.
Thập niên 60 và 70 của thế kỷ XX nghiên cứu khảo cổ học ở Đồng Nai bắt đầu
mang tính chất hệ thống và khoa học với công lao to lớn của những thành viên Hội
Địa chất Đông Dương. Trong đó, tiêu biểu là E. Saurin, H. Fontain và L. Maheret.
Trong giai đoạn này, bắt đầu có sự tham gia của các nhà nghiên cứu nước ta: Nghiêm
Thẩm, Hoàng Thị Thân.... Những phát hiện quan trọng trong giai đoạn này là các di
tích đá cũ và cụm di tích đồng sắt ở Hàng Gòn, Dầu Giây, Phước Tân, Bến Đò, Hội
Sơn, Phú Hòa... Từ đây, bắt đầu hình thành sơ khởi khái niệm về một vùng văn hoá
đã phát triển qua các thời đại đồ đá cũ đá mới, đồng và sắt sớm ở Đồng Nai.
Giai đoạn thứ tư bắt đầu sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng cho đến
nay. Nghiên cứu khảo cổ học được quan tâm. Các nhà khảo cổ học Việt Nam phối
hợp với các cơ quan chức năng tại địa phương (Bảo tàng Đồng Nai) và các ngành
hữu quan tiến hành điều tra, khai quật, kiểm chứng hàng loạt các địa điểm, di chỉ trên
địa bàn Đồng Nai. Hàng loạt các di tích, di vật qua công tác khai quật, nghiên cứu đã
góp phần làm sáng tỏ một nền văn hoá cổ xưa từng tồn tại và phát triển trên vùng đất
này. Có thể nói, các di tích khảo cổ gồm các loại hình: cư trú, công xưởng, mộ táng,
đền tháp... của cư dân cổ trải đều trên các địa hình đặc trưng của Đồng Nai từ vùng
núi đồi tiếp giáp cao nguyên đến vùng đất đứt gãy phun trào đất đỏ ba - zan và cả
vùng phù sa cổ các bồn trũng, vùng ngập nước cận sông, biển.
2. Di tích di vật khảo cổ Đồng Nai - Giá trị và thực trạng
Lịch sử nghiên cứu khảo cổ học Đồng Nai hơn một thế kỷ với hàng trăm cuộc
điều tra, thám sát, khai quật đã đưa ra ánh sáng hàng trăm di chỉ khảo cổ học với

3.2 Page 22

▲back to top
hàng vạn hiện vật: công cụ sản xuất, sinh hoạt, đồ trang sức, đồ thờ, nhạc cụ... rất đa
dạng và phong phú cùng những cấu trúc các tầng văn hóa đã cung cấp một nguồn cứ
liệu, thông tin quan trọng về niên đại, trình độ văn minh, hình thái xã hội của những
lớp cư dân cổ Đồng Nai.
Từ những phát hiện lẻ tẻ lúc ban đầu vào những thập niên cuối thế kỷ XIX cho
đến việc nghiên cứu hệ thống khoa học các di tích, di vật trên địa bàn Đồng Nai hiện
nay của các nhà khoa học trong và ngoài nước đã đưa đến những nhận định về một
nền văn hoá cổ từng hình thành được gọi tên Phức hệ văn hoá Đồng Nai hay Văn
hóa Đồng Nai. Lòng đất Đồng Nai có một quá khứ sâu thẳm và cực kỳ lý thú. Đồng
Nai được biết đến với tư cách là một trong những trung tâm của buổi bình minh xã
hội loài người. Nơi đây, từng chứng kiến sự hình thành, phát triển của cộng đồng
người cổ quần tụ và liên tục sáng tạo văn minh thời tiền sơ sử cho đến những thế kỷ
sau công nguyên, trước khi cư dân Việt đến khai khẩn vào thế kỷ XVI.
Những di tích khảo cổ Đồng Nai rất phong phú. Thời đại đồ đá cũ có các di
tích Hàng Gòn, Dốc Mơ, Dầu Giây, Cam Tiêm, Phú Quý, Bình Lộc, Núi Đất... đặc
biệt, trong bộ sưu tập hiện vật được tìm thấy, hạch đá hình hạnh nhân ở Dốc Mơ (Gia
Tân) được xem là một công cụ điển hình thể hiện đặc trưng thời trung kỳ A - Sơn,
cuối niên đại Mindel-Riss khoảng 250.000 - 300.000 năm cách ngày nay. Những di
tích thời đá mới - đồng như: Cầu Sắt, Suối Linh, Bình Đa, Cái Vạn, Gò Me, cù lao
Rùa, Long Giao, Hàng Gòn, Cái Lăng, Rạch Lá… đây là những di tích phản ảnh một
thời kỳ lịch sử phát triển mạnh mẽ của các lớp cư dân cổ Đồng Nai từ thời đồ đá đến
giai đoạn kim khí. Tại di tích Bình Đa, sự phát hiện hàng chục thanh đoạn đàn đá
trong địa tầng văn hoá đã thu hút sự quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu trong và
ngoài nước. Niên đại của đàn đá Bình Đa được định vị khoảng 3.000 - 2.700 năm
cách ngày nay đã đóng góp quan trọng cho việc nghiên cứu loại hình nhạc cụ cổ của
nước ta. Văn hoá thời đồ sắt ở Đồng Nai gắn kết hai giai đoạn phát triển đồng thau và
sắt sớm. Mặc dù những di tích thời kỳ này số lượng phát hiện không nhiều nhưng
những di vật tìm thấy khẳng định đây là giai đoạn phát triển hào hùng của người cổ
trên đất Đồng Nai. Di tích Suối Chồn, Long Giao, Phú Hoà là đỉnh cao của thời kỳ
kim khí có niên đại cách đây 3.000 - 2.500 năm. Những hiện vật trong di tích như bộ

3.3 Page 23

▲back to top
qua đồng với số lượng lớn những chiếc dao sắt, đồ trang sức... cho thấy cư dân Đồng
Nai xưa đã biết đến kỹ thuật luyện kim với một trình độ cao xã hội người cổ không
ngừng phát triển, tạo dựng nên một nền văn minh rực rỡ trong quá trình xuất hiện,
phát triển của mình.
Những di tích khảo cổ thời kỳ từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ XV sau công nguyên
cũng được tìm thấy trong khắp các vùng địa lý cơ bản ở Đồng Nai: Từ miền rừng núi
cuối dãy Trường Sơn như Đạlắk, Nam Cát Tiên đến các vùng đồi gò như Cây Gáo,
gò Chiêu Liêu, Rạch Đông hay ở vùng thấp như gò Bường, gò ông Tùng... Đây là
những di tích phản ánh một giai đoạn lịch sử kéo dài mà trong suốt tiến trình đó là sự
hình thành của các vương quốc cổ. Nhờ những phát hiện khảo cổ này mà các nhà
khảo cổ đã phác họa những đường nét cơ bản của Đồng Nai, những mối quan hệ
trong bối cảnh lịch sử chung của vùng Đông Nam Á: ảnh hưởng và dấu tích của các
quốc gia cổ Phù Nam, Chân Lạp, Chăm pa...
Nghiên cứu khảo cổ học ở Đồng Nai - đặc biệt trong giai đoạn từ năm 1975
đến nay (trên cơ sở kế thừa những giai đoạn trước) đã góp phần quan yếu cho việc
tìm hiểu lịch sử - văn hóa vùng đất Đồng Nai trong quá khứ. Điển hình là những đề
tài khoa học như: Khảo cổ Đồng Nai thời tiền sử, Đồng Nai: 10 thế kỷ dầu công
nguyên và nhiều chuyên khảo khác. Qua đó, chúng ta nhận diện được nền văn hóa cổ
Đồng Nai, những diễn tiến của sự phát sinh, phát triển nền văn hóa này trong dòng
chảy lịch sử của quốc gia, của khu vực.
3. Vài ý kiến về công tác khảo cổ học ở Đồng Nai
Trên địa bàn Đồng Nai hiện tại có trên trăm địa điểm, di chỉ đã phát hiện có vết
tích của các nền văn hóa cổ. Thế nhưng, chỉ có một di tích mới xếp hạng. Đó chính là
di tích mộ nàng Gòn ở thị xã Long Khánh. Di tích thuộc loại hình Dolmen (cự thạch)
này được phát hiện vào năm 1927 và ba năm sau được liệt hạng quan trọng ở Nam
Kỳ. Năm 1984, di tích được Bộ Văn hóa xếp hạng và từ đó cho đến nay được bảo vệ
giữ gìn khá tốt. Có thể nói rằng: số phận di tích Hàng Gòn được bảo vệ như vậy là
nhờ vào loại hình di tích đặc biệt - vừa là di tích khảo cổ, vừa là di tích kiến trúc. Còn
phần lớn số phận của các di tích, di chỉ khác không được may mắn như vậy. Di tích
Bình Đa, nơi phát hiện bộ đàn đá đã từng gây xôn xao dư luận trong và ngoài nước

3.4 Page 24

▲back to top
vào năm 1979 - nay hoàn toàn bị xóa sổ. Hoặc nhiều di tích có những đặc điểm riêng
của mình: vị trí trong các vùng rừng không bảo vệ được, ở vùng đất canh tác hoặc
trong xây dựng luôn luôn đứng trước đe dọa “nay còn, mai mất” không biết lúc nào
hay có những di tích dường như được xem như “hoàn sứ mệnh” sau một đợt khai
quật rồi thôi vì vấp phải nhiều lý do: kinh phí, thời gian...
Vì vậy, các di tích khảo cổ ở Đồng Nai luôn đứng trước những nguy cơ bị xóa
sổ bởi nhiều tác động từ con người và thiên nhiên. Hiện nay, trước nhu cầu về xây
dựng đang phát triển mạnh, những địa điểm, khu vực còn bảo lưu di tích lại càng
thêm nguy cơ biến mất vĩnh viễn. Trước đây, việc thực hiện những quy định về bảo
tồn di tích trong xây dựng rất tốt. Chẳng hạn, khi thực hiện xây dựng thủy điện Trị
An, các nhà khảo cổ đã điều tra thám sát cả khu vực lòng hồ rộng lớn. Phát hiện di
tích nào là tiến hành khai quật, dù rằng chữa cháy - để nghiên cứu hoặc chí ít cũng
bảo lưu được những dữ liệu về sau. Thế nhưng, hiện nay, những quy định này không
được lưu tâm. Nhiều công trình xây dựng đã bỏ qua khâu thám sát, điều tra khảo cổ
học và tất nhiên đã phá hủy hay lấp bằng “bê tông cốt thép” trên khu vực có di tích.
Vẫn còn có thể viện dẫn ra nhiều lý do nữa đe dọa sự tồn vong của các di tích
khảo cổ học nói chung và ở Đồng Nai nói riêng. Và dù bất cứ lý do nào đi nữa, một
khi thực trạng di tích khảo cổ bị đe dọa, phá hủy thì chắc chắn rằng: Những nguồn sử
liệu vô giá ấy sẽ mất đi và khó tìm lại được. Trong số những di tích mất đi có những
di tích là bằng chứng hùng hồn cho các thời kỳ phát triển của lịch sử dân tộc bằng
chứng về thành tựu vĩ đại mà tổ tiên ta sáng tạo và góp phần cho lịch sử - văn hoá của
nhân loại. Và như vậy, không khác gì tự chúng ta đã “bắn vào quá khứ bằng súng
lục” để rồi nhận lấy hậu quả khi “tương lai sẽ bắn ta bằng đại bác” như một nhà tư
tưởng đã từng ví von sự quên lãng quá khứ như vậy.
Nghiên cứu khảo cổ học ở Đồng Nai trong thời gian qua đã đạt nhiều kết quả
đáng trân trọng. Thế nhưng, chúng ta phải nhìn nhận đúng vào thực trạng của các di
tích, di vật khảo cổ hiện nay để có những bước đi nâng cao hiệu quả trong công tác
bảo vệ và phát huy những tài sản văn hóa của dân tộc. Chúng ta có quyền tự hào về
những di tích đã được phát hiện, khai quật và nghiên cứu; những sưu tập di vật thu
thập được bảo lưu tốt tại cơ quan chuyên môn (kho hiện vật thuộc Nhà Bảo tàng

3.5 Page 25

▲back to top
Đồng Nai). Và vui mừng khi có nhiều người dân khi tìm thấy những hiện vật lạ trên
các địa phương đã tìm đến các cư quan chức năng để thông báo. Không ít từ những
thông tin ấy mà cơ quan chuyên môn đã xác định được những di tích quan trọng cho
công tác nghiên cứu.
Nghiên cứu khảo cổ học ở Đồng Nai đã góp phần làm sáng tỏ một giai đoạn
lịch sử trải dài từ thời tiền sử cho đến cuối thế kỷ XVI. Giai đoạn trước khi cư dân
Việt đến khai khẩn. Có thể gọi những thành công trên chỉ là bước đầu và chỉ mới
phác họa lịch sử vùng đất này qua những di tích đã phát hiện được. Còn rất nhiều
nguồn tư liệu khác là những di tích chưa được phát hiện hoặc đã bị phá hủy hoàn
toàn. Vì vậy công tác nghiên cứu khảo cổ học ở Đồng Nai vẫn cần được đầu tư phát
triển. Trên cư sở kế thừa các giai đoạn nghiên cứu, chúng ta cần xây dựng tập bản đồ
khảo cổ học Đồng Nai với những thông tin về những giá trị lịch sử, văn hoá của các
dự tích địa điểm khảo cổ học, cập nhật hoá thông tin về hành chánh hiện nay. Đồng
thời, chúng ta cần có những đợt điều tra, khai quật định kỳ hàng năm, có kế hoạch
khoa học để phát hiện những di tích mới bổ sung, kiểm chứng cho các nguồn tư liệu
nghiên cứu trước đây. Những di tích, di vật được khai quật, thu thập cần có tổ chức
triển lãm chuyên đề, giới thiệu đến quần chúng. Như vậy, chúng ta vừa phát hiện, vừa
bảo vệ và phát huy tính hiệu quả của di tích khảo cổ học. Trên cơ sở của tập bản đồ
khảo cổ học Đồng Nai đã được định vị, chắc chắn rằng những qui định pháp lý của
công tác bảo tồn di tích được các cơ quan, ngành và quần chúng tuân thủ khi tiến
hành những công việc có ảnh hưởng đến di tích.
Ths Phan Đình Dũng

3.6 Page 26

▲back to top
Những thành tựu
tiêu biểu của cư dân tiền sử Đồng Nai
1. Vài nét về diễn trình thời kỳ tiền sử Đồng Nai
Hàng loạt các địa điểm trên vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai như. Gia Tân, Dầu
Giây, An Lộc, Hàng Gòn, Cam Tiêm, Bình Lộc, Núi Đất... đã phát hiện những công
cụ lao động của con người cổ. Đó là những công cụ thuộc thời kỳ đồ đá cũ, thời đại
đầu tiên và chiếm khoảng thời gian dài nhất trong xã hội loài người. Khởi điểm của
thời đại này được kể từ khi con người biết chế tạo ra công cụ lao động đầu tiên.
Bộ sưu tập hiện vật phát hiện ở Xuân Lộc và các vùng phụ cận hầu hết là
những công cụ lao động của người cổ, nằm rải rác trên lớp dung nham bề mặt địa
tầng văn hoá. Đó là những rìu tay, mũi nhọn, hòn ném, nạo, mảnh tước... được làm từ
đá ba- zan - một chất liệu khá phong phú ở Đồng Nai do kiến tạo địa chất. Bằng
những công cụ này, người cổ Đồng Nai đã đặt dấu ấn của mình trong lịch sử phát
triển chung của nhân loại.
Người cổ Đồng Nai đã duy trì sự tồn tại của mình hàng chục vạn năm và mở
đầu cho tiến trình chinh phục môi trường sống, hoàn thiện dần cộng đồng người nhờ
vào một quá trình tích lũy nhận thức lâu dài(3). Vượt qua bao khó khăn, các lớp cư
dân cổ Đồng Nai ngày càng phát triển.
Từ thực tế săn bắn hái lượm với những công cụ thô sơ, người cổ Đồng Nai đã
biết làm nên những công cụ lao động có tính năng hiệu quả hơn trong phương thức
sống. Họ biết đến việc làm đồ gốm, chăn nuôi và trồng trọt. Phát minh ra trồng trọt là
một yếu tố quan trọng của người cổ. Từ phương thức tước đoạt tự nhiên để sinh sống,
người cổ chuyển sang sản xuất, thích ứng và biến đổi thiên nhiên để duy trì sự tồn tại
và không ngừng từng bước nâng cao đời sống.
Bộ sưu tập hiện vật đa dạng được phát hiện như: cuốc đá, dao đá rìu mài
nhẵn... và các loại hình đồ gốm ở các di chỉ Cầu Sắt Bình Đa, Gò Me... cho thấy
người cổ Đồng Nai phát triển nông nghiệp sớm. Đây là giai đoạn đỉnh cao của cư dân
3 Di chỉ An Lộc có niên đại thời kỳ Áp-bơ-vin / 70-60 vạn năm cách ngày nay; Hàng Gòn, Núi Đất thuộc thời kỳ
chuyển tiếp từ Áp-bơ-vin đến A-sơn / 60-30 vạn năm cách ngày nay; Gia T6an thuộc trung kỳ A-sơn; Dầu Giây, Bình
Lộc…thuộc thời kỳ Asơn phát triển; Phú Quý thuộc thời kỳ Asơn muộn / 30-25 vạn năm cách ngày nay.

3.7 Page 27

▲back to top
Đồng Nai thời kỳ đá mới. Thời kỳ này là cơ sở để người cổ Đồng Nai bước vào thời
kỳ phát triển mới là thời kỳ kim khí.
Từ sau văn hóa đá mới, ở lưu vực sông Đồng Nai có sự bùng nổ về dân số.
Người cổ Đồng Nai đã hình thành những cộng động làng cư trú và có sự phân công
lao động. Hàng loạt các di chỉ như Cái Vạn, Bình Đa, Phước Tân, Bến Đò, Gò Mít,
Đồi Xoài, Rạch Lá... cho thấy cư dân cổ Đồng Nai đã định hình các điểm dân cư,
làng cư trú trong các loại hình như: làng ven đồi, làng ven sông, làng ven biển, làng
ven đồi ven sông. Một số di chỉ có tính chất như những công xưởng chuyên chế tạo
công cụ lao động có lẽ để đáp ứng cho việc gia tăng dân số và sự phân công lao động.
Bên cạnh phương thức kinh tế săn bắn, hái lượm, việc biết chăn nuôi, trồng trọt, làm
gốm, đánh cá đã làm cho cộng đồng cư dân cổ Đồng Nai được cải thiện, nâng cao về
lương thực, thực phẩm - một nhu cầu thiết yếu trong đời sống.
Khoảng 2.500 năm cách ngày nay (khoảng thế kỷ V trước Công nguyên), cư
dân cổ Đồng Nai bước vào một truyền thống văn hoá kim khí phát triển. Nền văn hóa
thời kỳ đồ sắt ở Đồng Nai gắn kết hai giai đoạn phát triển đồng thau và sắt sớm.
Trong văn hóa đá - đồng đã manh nha văn hóa sắt sớm với hàng loạt di chỉ như Bình
Đa, Cái Vạn, Suối Chồn, Hàng Gòn, Long Gian, Phú Hòa..
Thời kỳ sắt sớm ở Đồng Nai được xem là giai đoạn phát triển hào hùng của cư
dân cổ Đồng Nai. Với những công cụ từ kim khí, người cổ Đồng Nai “mạnh” lên
trong quá trình chinh phục tự nhiên, khai phá, làm nông nghiệp ngày càng mạnh mẽ;
các làng dân cư nông nghiệp được khởi dựng nhiều nơi. Vùng đất Đồng Nai cổ từ
một thiên nhiên hoang sư, nguyên thủy đã dần trở thành một địa bàn kinh tế, dân cư
phát triển của trung tâm nông nghiệp Đồng Nai - Đông Nam Bộ thời tiền sử.
Sau cuộc hành trình dài, cư dân cổ Đồng Nai đã tạo dựng một nền văn minh
tiền sử rực rỡ. Nền văn hóa Đồng Nai phát triển, lan tỏa rộng và bắt đầu có sự giao
thoa những yếu tố mới về văn hoá, tộc người. Những bộ sưu tập hiện vật tại nhiều di
chỉ như: bình gốm, đồ trang sức (khuyên tai ba mấu, hạt thủy tinh, vòng hạt chuỗi,
mã não ...), mộ chum... đã minh chứng cho mối liên hệ qua lại giữa - các yếu tố văn
hoá, kỹ thuật - giữa vùng Đồng Nai và các vùng phụ cận. Chính sự quan hệ rộng mở
này đã tạo điều kiện cho cộng đồng cư dân cổ Đồng Nai không ngừng phát triển,

3.8 Page 28

▲back to top
hoàn thiện trên một vùng địa lý, văn hóa ổn định. Đó là những yếu tố thuận lợi cho
người cổ Đồng Nai bước vào những giai đoạn phát triển cao hơn trong tiến trình đi
lên của xã hội loài người.
2. Những thành tựu tiêu biểu của cư dân dân cổ Đồng Nai
Từ những bước đi dò dẫm, những phương thức thích ứng tồn tại trên chặng
đường tồn tại, phát triển, cư dân cổ Đồng Nai đã đạt đến tầm cao của cuộc sống thời
kỳ tiền sử. Họ đã để lại những dấu ấn tuyệt vời của mình trong diễn trình phát triển
trên vùng đất Đồng Nai. Đó là kết quả của một quá trình lan động khai phá không
ngừng và đầy tính sáng tạo, khẳng định một truyền thống văn hóa độc đáo mà những
sưu tập hiện vật như đàn đá, qua đồng kiến trúc đá là những minh chứng đầy tính
thuyết phục.
2.1 Đàn đá Bình Đa
Bình Đa là một di chỉ cư trú thuộc loại hình làng ven đồi, ven sông của người
tiền sử trên vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai. Di chỉ Bình Đa nay thuộc phường An
Bình, thành phố Biên Hòa.
Cuộc khai quật vào năm 1979 đã phát hiện tại di chỉ 42 thanh đoạn đàn đá giữa
tầng văn hóa có độ sâu 0,65m trong trạng thái địa tầng nguyên vẹn. Năm 1992, cuộc
khai quật lần thứ hai phát hiện thêm 3 thanh đoạn đàn đá. Việc phát hiện đàn đá tại
Bình Đa là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử nghiên cứu về loại nhạc cụ độc đáo
trên lãnh thổ Việt Nam. Đàn đá Bình Đa được định vị niên đại 3000 - 2700 năm cách
ngày nay. Kết quả này góp phần khẳng định về niên đại cho sự xuất hiện của các loại
đàn đá được phát hiện tại nhiều địa điểm khác ở miền Nam Việt Nam trước đây như:
đàn đá Nout Liêng Krack, đàn đá Bù Đơ, đàn đá Bù Đăng Xrê, đàn đá Khánh Sơn...
Loại đàn đá hẳn có cội nguồn từ lâu, ít ra qua sự gợi mở của đàn đá Bình Đa.
Đàn đá Bình Đa là một sản phẩm văn hoá tiêu biểu và độc đáo của cư dân cổ
trên vùng Đồng Nai. Trong dáng vẻ mộc mạc thô sơ của đàn đá là kết tinh cao độ của
một truyền thống chế tác và cảm nhận văn hoá tuyệt vời của người cổ. Đàn đá Bình
Đa là báu vật, tự thân đàn đá “không chả là chứng tích của sự tồn tại một hình thức
sinh hoạt văn hóa mà chính bản thân nó là sản phẩm được làm tại chỗ trên đất Đồng
Nai cổ kính. Cộng thêm vào đó, với tuổi được biết đích xác là khá cổ hoặc là thuộc

3.9 Page 29

▲back to top
loại cổ nhất, nên có thể coi đàn đá Bình Đa như một thành tựu của một phát minh kỹ
thuật - nghệ thuật độc đáo của lớp người xưa. Họ chính là những người mở đầu cho
những sáng tạo và phát triển loại nhạc cụ này. Họ đã khởi dựng nên dòng nhạc đàn
đá trong đó có thiên nhiên Đồng Nai, cuộc sống, xã hội Đồng Nai xưa, có thể coi như
là đất tổ, là bầu sữa mẹ đã sản sinh ra, đã nuôi dưỡng dòng nhạc ấy ngay từ buổi
ban đầu chập chững (Theo Đàn đá Bình Đa, Nhà Xuất bản Đồng Nai, 1983).
2.2 Qua đồng Long Giao
Qua là một loại vũ khí, làm từ chất liệu đồng. Bộ qua đồng phát hiện ở Long
Giao được xem là loại vũ khí có tính năng sử dụng, đồng thời cũng có thể là loại vũ
khí biểu trưng cho quyền uy, vị thế của con người quan trọng trong cộng đồng.
Địa bàn Long Giao nay thuộc xã Long Giao, huyện Cẩm Mỹ. Bộ sưu tập qua
đồng được phát hiện trên sườn dốc ngọn núi lửa cổ. Nhóm qua đồng Long Giao có
đặc điểm chung là kích thước và trọng lượng lớn. Hai mặt được trang trí hoa văn hình
học tinh xảo và cân xứng nhau. Từng qua đồng được cấu tạo gồm: lưỡi, đốc, chuôi và
hai cánh. Từng qua có thể lượng khác nhau.
Địa điểm Long Giao là di tích đầu tiên trong lịch sử khảo cổ học Việt Nam
phát hiện nhóm qua đồng có số lượng lớn nhất (thu được 19/70 tiêu bản do nhân dân
địa phương tìm thấy). Các nhà nghiên cứu cho biết có mối quan hệ giữa qua đồng
Long Giao với các trung tâm văn hoá cổ khác ở Việt Nam và Đông Nam Á lục địa
như: Đông Sơn (miền Bắc), Dốc Chùa (Bình Dương), Bàu Hòe (Bình Thuận), đông
bắc Thái Lan...
Sự phát hiện qua đồng Long Gian cho thấy người cổ Đồng Nai đã biết đến
luyện kim ở trình độ cao. Sự thể hiện tài tình các hoa văn trang trí trên các qua đồng
cho thấy nét tinh tế trong sáng tạo thẩm mỹ, sự sáng tạo của những con người tài
năng. Đây chính là thành quả của một phức hợp kỹ thuật đỉnh cao của người Đồng
Nai. Niên đại của qua đồng Long Giao được xác định vào nửa sau thiên niên kỷ thứ
nhất trước công nguyên, cách đây khoảng 2.500 năm.
2.3 Kiến trúc cự thạch Hàng Gòn
Hàng Gòn là di chỉ thuộc địa phận xã Xuân Thanh, thị xã Long Khánh.

3.10 Page 30

▲back to top
Kiến trúc cự thạch Hàng Gòn là hầm mộ được làm bởi những tấm đá hoa
cương và những trụ đá dài, nặng 4,2m, ngang 2,7m, cao l,6m được ghép bởi 6 tấm đá
hoa cương (granit) có sự gia công khá nhẵn ở mặt ngoài. Bốn tấm đá thẳng đứng
dùng làm vách, hai tấm ngang dùng làm đáy và nắp đậy. Liên kết giữa các tấm đá hoa
cương nhờ vào hệ thống rãnh dọc chắc chắn. Xung quanh mộ có nhiều trụ đá hoa
cương, sa thạch. Có trụ cao đến 7,5m, tiết diện mặt cắt ngang chữ nhật 1,10m x 0,3m.
Thường các trụ một phần nhỏ và một phần lớn. Phần nhỏ để cắm chôn vào lòng đất
phần đầu lớn được khoét lõm hình yên ngựa.
Mộ Hàng Gòn được đánh giá là loại hình Dolmen (đá lớn, cự thạch) lớn nhất
so với các ngôi mộ thời tiền sử khác phát hiện ở châu Á. Đây là di tích độc đáo cả về
nghệ thuật lẫn kỹ thuật của cộng đồng người cổ từng cư trú, sinh sống trên vùng đất
này.
Niên đại mộ Hàng Gòn cách đây khoảng 2.000 năm. Với thời đại ấy chắc chắn
phải bằng sức mạnh đoàn kết và sức sáng tạo lớp cư dân cổ mới vượt bao khó khăn
để thực hiện được công trình này. Bởi nguồn chất liệu và kích cỡ của loại đá dùng
cho việc thực hiện công trình này hoàn toàn không có ở Đồng Nai. Việc chuyển
những tảng, trụ đá lớn đòi hỏi những kỳ công và cách thức nâng dựng, ý tưởng công
trình phản ánh sự sáng tạo vượt bậc của con người cổ.
Kiến trúc mộ Hàng Gòn được Trường Viễn Đông Bác cổ xếp hạng vào năm
1928 và ghi vào danh mục các di tích lịch sử Đông Dương “mộ Đông Dương - mộ
Dolmen Hàng Gòn, Xuân Lộc, Biên Hòa”. Năm 1984, Việt Nam xếp hạng mộ Hàng
Gòn vào danh mục di tích quốc gia và là một trong 10 di tích quan trọng ở Nam Bộ .
Ai là chủ nhân đích thực? Hình thức tín ngưỡng liên quan đến công trình?
Phương thức để tạo dựng kiến trúc? Mối quan hệ với những di vật phát hiện trong
vùng và phụ cận (qua đồng, trút đồng) và các di chỉ đồng thời như thế nào?... những
bí ẩn về ngôi mộ Hàng Gòn vẫn còn đó như một thách thức cho nghiên cứu khoa học.
Ths.Phan Đình Dũng (Bài viết dựa trên những nguồn tư liệu khảo cổ học lưu tại
Bảo tàng Đồng Nai)

4 Pages 31-40

▲back to top

4.1 Page 31

▲back to top
Đồ gốm tiền sơ sử Đồng Nai
qua kết quả nghiên cứu khảo cổ học
1. Ở Đồng Nai, công tác nghiên cứu khảo cổ học đã góp phần quan trọng trong việc
tìm hiểu về lịch sử của vùng đất này. Những di tích, di vật khảo cổ học ở Đồng Nai
được phát hiện, nghiên cứu rất sớm và trải qua nhiều giai đoạn lịch sử gắn liền với
công lao của các nhà nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước.
Hơn một thế kỷ với hàng trăm cuộc điều tra, thám sát, khai quật, khảo cổ học
đã đưa ra ánh sáng hàng trăm di chỉ với hàng chục vạn hiện vật: công cụ sản xuất,
sinh hoạt, đồ trang sức, đồ thờ nhạc cụ rất đa dạng, phong phú và những cấu trúc địa
tầng văn hóa đã cung cấp một nguồn cứ liệu, thông tin quan trọng về niên đại, trình
độ văn minh, hình thái xã hội của những lớp cư dân cổ Đồng Nai.
Từ những phát hiện lẻ tẻ lúc ban đầu vào những thập niên cuối thế kỷ XIX cho
đến việc nghiên cứu hệ thống khoa học các di tích, di vật trên địa bàn Đồng Nai hiện
nay, các nhà khoa học đã đưa đến những nhận định về một nền văn hóa cổ từng hình
thành được định danh Phức hệ văn hoá Đồng Nai hay Văn hóa Đồng Nai. Đồng Nai
được biết đến với tư cách là một trong những trung tâm của buổi bình minh xã hội
loài người. Nơi đây, từng chứng kiến sự hình thành, phát triển của cộng đồng người
cổ thời tiền sơ sử cho đến những thế kỷ sau công nguyên, trước khi cư dân Việt đến
khai khẩn vào thế kỷ XVI. Hàng loạt các di tích, di vật khảo cổ học đã góp phần làm
sáng tỏ một nền văn hoá cổ xưa từng tồn tại và phát triển trên vùng đất này. Các di
tích khảo cổ gồm các loại hình: cư trú, công xưởng, mộ táng, đền tháp... của cư dân
cổ trải đều trên các địa hình đặc trưng của Đồng Nai từ vùng núi đồi tiếp giáp cao
nguyên đến vùng đất đứt gãy phun trào đất đỏ ba - zan và cả vùng phù sa cổ các bồn
trũng, vùng ngập nước cận sông, biển.
Bên cạnh những chủng loại hiện vật đa dạng từ nhiều chất liệu khác nhau như
đồ đá, đồ gỗ thì đồ gốm được phát hiện chiếm số lượng khá nhiều trong các di chỉ
khảo cổ học được phát hiện ở Đồng Nai. Điều này cho thấy, các cư dân cổ vùng
Đồng Nai trong tiến trình phát triển của mình đã biết chế tác và sử dụng đồ gốm. Dựa

4.2 Page 32

▲back to top
trên những kết quả nghiên cứu khảo cổ học, chúng tôi mong được giới thiệu một số
những di chỉ khảo cổ đã từng được phát hiện những hiện vật gốm tiêu biểu để người
đọc có cái nhìn khái quát về đồ gốm cổ trên vùng đất Đồng Nai.
2. Một số di chỉ khảo cổ học tiêu biểu
2.1 Di chỉ Bình Đa, thuộc phường An Bình, thành phố Biên Hòa. Năm 1979,
di chỉ được khai quật lần thứ nhất. Rất nhiều hiện vật bằng đá, gốm được phát hiện,
trong đó có hàng chục ngàn mảnh gốm. Riêng trong hố khai quật số 1 các nhà nghiên
cứu thu nhặt 38.000 mảnh gốm. Gốm được làm bằng bàn xoay và nặn bằng tay, có độ
nung cao, áo gốm được miết láng. Có 4 loại gốm (phân loại theo màu sắc và chất
liệu): gốm đỏ và đỏ nhạt, gốm xám, gốm đen và gốm thô . Số lượng gốm được trang
trí hoa văn chiếm tỉ lệ cao. Hoa văn được tạo bằng cách dập (hình nan chiếu), chải,
vạch và miết láng. Đồ án thường thấy là các đường thẳng song song, lượn hình sóng,
nửa đường tròn quay (phía trong có những hình nửa đường tròn nhỏ hơn, đồng tâm
quay cùng một hướng), hình răng sói và hình chữ nhật.
Mặc dù, không có đồ gốm nào còn nguyên vẹn hình dáng nhưng cũng có thể
nhận dạng được một số loại hình như kiểu bát bồng có chân đế cao hình ống hoặc
choãi ra, nhiều kiểu nồi, vò có đáy tròn, gáy lõm và đáy bằng.
Năm 1992, đợt khai quật lần thứ hai thu thập được 105 đồ đất nung và 9.389
mảnh gốm vỡ thuộc các loại hình đồ đựng khác nhau. Trong đó, đồ gốm còn nhận
được dạng như: bình (số lượng 1, dạng con tiện, được chế tạo bằng bàn xoay, xương
màu nâu, vỏ phủ màu nâu gạch); hũ (số lượng 2, bị vỡ, chất liệu bằng đất sét pha cát
thô, độ nung cao, xương cứng, áo phủ màu nâu sành, miệng loe vành); đĩa (số lượng
4, chất liệu sét pha nhiều bã thực vật, vỏ nhuyễn thể nghiền nát và cát thô, độ nung
cao, xương gốm dày); gốm hình trụ (còn gọi là “gốm sừng bò”, số lượng 5, chất liệu
sét pha cát mịn, độ nung cao, xương rất cứng, đầu trụ thon tròn và nhọn); bi gốm (số
lượng 49, đường kính trung bình của bi từ 1,8 - 2,6 cm); gốm tròn (số lượng 11 mảnh,
trên thân có trang trí hoa văn thừng và chải mịn); nồi nấu đồng (số lượng 3, dạng tròn
và bóp lại kiểu chuôi muỗng, thành gốm dày, đường kính rộng trung bình từ 11 - 14
cái, cao 5 - 8 cm). Những mảnh gốm vỡ có 9.547 mảnh, trong đó có 3.215 mảnh phần

4.3 Page 33

▲back to top
miệng, 63 mảnh nắp đậy 411 mảnh đáy đế, và 3.858 mảnh thân. Trong số các mảnh
thân có 343 tiêu bản có gờ, 4.438 tiêu bản trơn và 1.077 tiêu bản có hoa văn.
Gốm Bình Đa được chế tạo bằng tay (chiếm tỉ lệ thấp) và bàn xoay ở trình độ
khá tiến bộ . Chất liệu gốm từ đất sét được lọc kỹ, pha cát hun, bột vỏ nhuyễn thể bã
thực vật và một ít bột đá trắng, xám. Phần lớn hiện vật gốm Bình Đa có độ nung cao,
xương có màu đen nhạt, xám, nâu và cứng chắc. Áo gốm có hai loại: Loại phủ màu
bề mặt có màu như: nâu, nâu đỏ, xám vàng, xám nhạt, vàng nhạt, trắng đục, đen ám
khói và đa màu; loại bôi màu trang trí trước khi nung với trình độ kỹ thuật cao có các
màu chủ đạo là đỏ tươi, đen, nâu. Những tiêu bản hiện vật gốm Bình Đa các loại cho
thấy cư dân cổ đã sử dụng những thao tác kỹ thuật như nặn vuốt, miết láng bằng tay,
bàn dập - hòn kê, dải cuộn, gắn kết chân đế hay gờ nổi để tạo hình tuỳ theo chức năng
của đồ dùng. Hoạ tiết trang trí trên gốm Bình Đa khá đa dạng như. văn chải, văn
thừng, văn khắc văn in, răng cưa, khuông nhạc, đường cung, sóng nước, hình tam
giác, hình bầu dục, đường cắt chéo...
2.2 Di chỉ Cầu Sắt (xã Bình Lộc, thị xã Long Khánh): Di chỉ được khai quật
tháng 12/ 1976. Niên đại đoán định 5.000 - 4.000 năm cách ngày nay. Di chỉ là loại
hình cư trú của cư dân nông nghiệp sớm và là xưởng chế tác đồ đá và đồ gốm. Đồ
gốm thu thập được hầu hết bị vỡ, không phục nguyên được. Số lượng gồm 15.786
tiêu bản, trong đó có 2.041 mảnh miệng, 206 mảnh đáy, đế, 13.539 mảnh thân. Số
tiêu bản gốm có hoa văn là 2.176 mảnh (tỉ lệ 16%), 11,363 mảnh trơn (tỉ lệ 84%).
Gốm được chế tác bằng tay và bằng bàn xoay, hoa văn trang trí bằng bàn dập, lăn
thừng và khắc vạch lớp áo gốm mịn, có màu sắc khác với xương gốm. Có các loại
gốm: gốm trắng, đỏ mịn; gốm đen thô; gốm đỏ thô và gốm đen mịn. Một số loại hình
như: chậu và nồi (có kích thước lớn, miệng loe, đáy tròn), bát (miệng loe, đế ghép,
thấp), “đậu” - còn gọi là bát chân cao, trên dạng hình đĩa, chân đế choãi cao; gốm
tròn (một số mảnh gốm được mài tròn, được dùi lỗ ở giữa).
2.3 Di chỉ Gò Me (phường Thống Nhất, thành phố Biên Hòa). Niên đại đoán
định khoảng 3.000 - 2.500 năm cách ngày nay. Hiện vật gốm thu được hàng trăm
mảnh trong bề mặt và các địa tầng văn hóa. Có ba loại gốm: gốm trắng (chiếm số số
lượng ít), gốm đen và gốm đỏ. Hoa văn được tạo bằng kỹ thuật chải, dập và in thừng.

4.4 Page 34

▲back to top
Một số loại hình thu thập được như dọi xe sợi, bi gốm, chén rót đồng (miệng phẳng,
thành dày, đáy tròn), dạng bát mâm có chân đế cao, choãi rộng.
2.4. Di chỉ Suối Linh, thuộc địa phận phân trường 3, Lâm trường Hiếu Liêm
(huyện Vĩnh Cửu) Năm 1985, di chỉ Suối Linh được khai quật. Hiện vật gốm thu thập
được gồm 39 chiếc bàn xoa, 1 mảnh gốm tròn, 1 thỏi gốm hình trụ; ngoài ra còn có
15.780 mảnh gốm vỡ của đồ đựng và 397 mảnh vỡ từ các bàn xoa. Gốm Suối Linh
thuộc loại gốm thô, pha nhiều cát, bã thực vật và vỏ nhuyễn thể nghiền vụn. Áo gốm
có màu nâu đỏ, nâu sẫm, xương gốm có màu nâu nhạt hoặc cùng màu với áo gốm.
Loại gốm có xương đen không nhiều; gốm mịn có màu xám nâu hay xám vàng chiếm
tỉ lệ khoảng 15% tổng số gốm thu nhặt được. Những mảnh gốm vỡ cho thấy các các
loại đồ đựng dạng nồi, vò có miệng loe, hông và đáy tròn khá phổ biến trong cư dân
cổ từng cư trú tại đây. Một số ít đồ gốm có miệng khum, phía dưới có đế. Khoảng
14% mảnh gốm trong tổng số thu nhặt có hoa văn, chủ yếu là văn chải (tỉ lệ khoảng
90%), số còn lại là các loại văn miết, in, khắc vạch và đắp nổi. Di chỉ Suối Linh là địa
điểm đầu tiên thu nhặt được số lượng bàn xoa gốm khá cao. Các nhà nghiên cứu cho
rằng có thể di chỉ là công xưởng sản xuất đồ gốm nói chung hay bàn xoa gốm nói
riêng của cư dân cổ để trao đổi với các khu vực khác. Niên đại di chỉ được ước định
khoảng 4.500 năm - 2.500 năm cách ngày nay.
2.5. Di chỉ Suối Chồn, thuộc địa phận xã Bình Lộc, thị xã Long Khánh. Tại di
chỉ, đồ gốm thu nhặt qua các đợt đào thám sát và khai quật khá phong phú. Đồ gốm
có dọi xe sợi bi gốm, núm gốm và nhiều mảnh vỡ; đặc biệt có các nồi gốm (chum)
dùng để chôn người chết. Nồi gốm dùng làm quan tài này có chiều cao 50 chỉ, đường
kính thân 60 cm, đường kính miệng 45 - 50 cm, miệng loe, đáy lồi tròn, có văn chải
trên thân nồi. Đồ gốm di chỉ Suối Chồn có nhiều loại thô, mịn và xốp. Hầu hết, chúng
được làm bằng đất sét pha cát, có bàn xoay, độ nung khá cao. Gốm có các loại màu
xám, đỏ gạch, xanh xám, hồng nhạt. Loại hình nồi gốm có miệng loe, vành miệng
thấp. Hoa văn trang trí là văn chải, văn khắc vạch hình tam giác cân có vạch đường
song song, loại hoa văn này phổ biến ở di chỉ Cái Vạn (Nhơn Trạch). Niên đại ước
định khoảng nửa sau Thiên niên kỷ I trước Công nguyên.

4.5 Page 35

▲back to top
v Cụm di chỉ Hàng Gòn là tên gọi chung cho nhiều địa điểm mà các nhà
nghiên cứu đặt tên theo số thứ tự từ 1 đến 10 - nay thuộc địa phận thị xã Long Khánh
và huyện Cẩm Mỹ. Trên khu vực rộng lớn của Nông trường Hàng Gòn, các nhà
nghiên cứu phát hiện rất nhiều hiện vật khảo cổ thuộc các thời đại trong thời kỳ tiền
sử. Tại địa điểm Hàng Gòn l(còn có tên Núi Gốm - đồi đất đỏ ba - zan giữa Suối Râm
và Suối Sâu), những mảnh gốm phát hiện chủ yếu là các dạng nồi, bát, tô, đĩa (một số
bát, tô có đế và có dấu khoan thủng ở đáy hoặc gần miệng). Loại xương gốm đen làm
bằng đất sét trộn với bã thực vật và loại xương gốm trắng có trộn cát thạch anh, phen
phát, sạn sắt, Các loại gốm đều hun, áo gốm có màu nâu, đỏ, độ nung cao. Địa điểm
Hàng Gòn 3 (cách trung tâm Nông trường Hàng Gòn khoảng 1 km về phía đông) thu
thập được những mảnh thân gốm mỏng từ các loại nồi, vò và 1 bi gốm. Xương gốm
màu đen, áo màu nâu vàng, hồng và nâu đỏ, độ nung kém. Một số mảnh dạng miệng
cốc, bát chân cao đáy bằng và nắp đậy có núm. Hoạ tiết trang trí là những đường
song song, chéo nhau được in hoặc dập. Địa điểm Hàng Gòn 4 (phía bắc chân núi
Cẩm Tiêm) có những tiêu bản gốm mỏng, có xương đen, xám, đỏ, vàng và được làm
từ sét pha thạch anh, phen phát. Hoa văn răng lược hoặc đan. Địa điểm Hàng Gòn 5
(cách chân núi Cẩm Tiêm 3,5 khi về phía bắc) phát hiện nhiều mảnh gốm với các
màu đa dạng. Gốm màu vàng đỏ, xương xám pha nhiều cát, hạt phen phát chủ yếu từ
các đồ dùng như nồi, vò có mảnh miệng có đường gờ để đậy nắp. Gốm màu đen pha
thạch anh, độ nung cao; chủ yếu là các đồ đựng kích thước nhỏ, trang trí văn thừng,
văn đan và dấu in vải. Gốm có xương màu xám pha cát mịn, dáng nồi nhỏ hay lọ có
miệng xiên, độ nung cao. Hầu hết được chế tác bằng bàn xoay. Niên đại khoảng
3.000 năm cách ngày nay.
2.6. Di chỉ Cái Lăng, thuộc địa phận xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch. Di chỉ
được khai quật năm 2000. Niên đại khoảng 2.900 - 2.700 năm cách ngày nay. Đồ
gốm thu thập được trong đợt khai quật chiếm số lượng lớn gồm: những đồ gốm còn
nguyên dáng có 1 dọi xe chỉ, 7 bi gốm, 10 mảnh cà ràng, 1 bát, 1 đĩa, 1 bàn dập, 11
chân đế, 1 nắp đậy; mảnh gốm có 172.383 tiêu bản. Có hai nhóm gốm: gốm thô và
gốm mịn. Gốm thô có độ nung thấp, thành phần phôi gốm có trộn nhiều cát, sạn và
một số ít chất phụ gia như tro mùn, bã thực vật và cả nhuyễn thể đã được nghiền vụn.

4.6 Page 36

▲back to top
Lớp áo gốm mỏng, có màu nâu, vàng nhạt hoặc màu đỏ. Kỹ thuật chế tạo bằng bàn
xoay kết hợp với nắn sửa bằng tay, dụng cụ bằng tre, gỗ. Nhóm gốm mịn có chất liệu
đất sét mịn, chất phụ gia như cát cũng được lựa chọn kỹ. Lớp áo gốm thường có màu
nâu, có khả năng được tạo từ lớp phủ quét hay tráng lớp bột mịn, sau đó được xoa và
miết nhẵn. Độ nung cao và được tinh luyện nên chắc cứng. Hầu hết, những mảnh
gốm vỡ Cái Lăng là những vật dụng của con người cổ như đĩa, bát, vò có đáy tròn,
đáy bằng và có chân đế.
Gốm có hoa văn thu thập tại Cái Lăng ít nhưng đa dạng về loại hình. Các loại
hoa văn được thể hiện như. đường vạch ngắn, đường viền và những đường viền
ngang song song, các đường sóng kết hợp với đường vạch, hoa tiết các hình tam giác,
hình sao, hình chữ V đường chéo, đường vạch lõm, mảnh nhọn, hình hạt đậu ấn lõm,
miết vạch ô lưới hay đường cong... để trang trí. Phần lớn, hoa văn được khắc vạch
trên nền văn chải.
2.7. Di chỉ Cái Vạn, thuộc xã Long Thọ huyện Nhơn Trạch. Di chỉ được đào
thám sát năm 1977 và khai quật lần thứ nhất vào năm 1978. Đồ gốm thu thập được
trên 1.000 mảnh. Hầu hết, đồ gốm được làm từ đất sét pha cát, hạt thạch anh và bã
thực vật. Có hai nhóm gốm: loại gốm mịn có xương màu xám đen và xám hồng, lớp
áo mịn màu xám đen và xám vàng; loại gốm xốp có khoảng 20%, xương gốm màu
đen, nhiều bã thực vật, thường dày và thô. Đa số các mảnh miệng gốm thuộc loại loe
với nhiều kiểu dáng. Chân đế có 3 loại: đế thấp đế hình chóp (loe xiên), và đế hình
trụ cao có phần dưới hơi choãi. Khoảng 30% mảnh gốm có hoa văn, được tạo bằng
cách chải, dập thừng, khắc vạch và chấm dải. Văn khắc vạch có những đồ án khác
nhau như hình tam giác nối nhau, hình sóng... Phần lớn các mảnh gốm bị vỡ từ những
loại đồ dùng để đựng của cư dân cổ, ngoài ra còn có một số mảnh chân kiềng giống
sừng bò và bi gốm.
Năm 1996, di chỉ Cái Vạn được khai quật lần thứ hai. Đồ gốm thu thập được
trên 17.000 mảnh, gồm các loại: đổi xe chỉ (số lượng l), bi gốm (số lượng 70, đường
kích trung bình từ 1,2 – 2 cm, một bi gốm lớn có đường kính 5,3 cm), núm và bàn
xoa gốm (số lượng 32, núm được vuốt nhọn với mặt cắt ngang hình tròn, bàn xoa có
chuôi cầm gần thẳng hoặc cong, mặt phẳng hoặc hơi lượn cong), mảnh cà ràng (số

4.7 Page 37

▲back to top
lượng 736), gốm tròn (số lượng 22, được ghè hoặc mài tròn, đường kính trung bình từ
3 5,5 cm); mảnh gốm vỡ (số lượng trên 15.000). Chất liệu gốm làm từ đất sét phù sa
sông pha nhiều cát, bã thực vật và bột vỏ nhuyễn thể. Có hai nhóm gốm: gốm cứng
và gốm xốp, trong đó, gốm cứng chiếm tỉ lệ cao. Hoa văn gốm khá phong phú như:
văn chải (văn chải thô và mịn) thường dùng que có rãnh tạo thành; văn thừng thường
kết hợp với văn chải; văn khắc vạch và in ấn thường được tạo với các kỹ thuật chải,
dập, miết. Những mô típ hoa văn như hình mũi giáo (răng sói), đường sóng nước,
đường vạch chìm song song được thể hiện trên đồ gốm Cái Vạn. Một số lượng lớn
tiêu bản gốm được ban phủ nhiều màu có tính chất trang trí, thể hiện trên nhiều vị trí
của đồ đựng. Niên đại di chỉ Cái Vạn được xác định 3.360 + 80 năm cách ngày nay.
2.8. Di Chỉ Bình Xuân, thuộc xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc, cách núi Chứa
Chan khoảng 3 km về phía tây bắc. Nhiều hiện vật của cư dân thời tiền sử được phát
hiện, trong đó có nhiều mảnh gốm vỡ. Gốm Bình Xuân có chất liệu tốt, pha nhiều cát
và bã thực vật; trong đó có nhiều mảnh có lẫn những hạt thạch anh màu trắng, độ
nung cao, độ cứng chắc. Xương gốm có màu đen hoặc xám nâu; mặt ngoài bị bào
mòn khá nhiều, gồm ba loại cơ bản: đỏ nhạt, vàng và xám nâu. Một số mảnh gốm còn
in dấu văn chải mịn. Đồ gốm chủ yếu là từ các loại miệng loe khum, mép nhọn; phần
cổ thường được chế tác kiểu có gò nổi cao làm cho thành miệng lõm cong hình lòng
máng. Một số ít mảnh thuộc các dạng miệng gốm loe phẳng hay ưỡn cong; một số
miệng có mép đáy vo tròn - loại hình này thường xuất hiện phổ biến trong các di chỉ
khác ở Đồng Nai. Niên đại đoán định khoảng nửa đầu thiên niên kỷ thứ II trước Công
nguyên.
2.9. Di chỉ Đồi Mít, thuộc ấp Bình Lộc xã Xuân Bình, thị xã Long Khánh
(cách di chỉ Suối Chồn khoảng 3 km về hướng nam và di chỉ Cầu Sắt 2 km về hướng
đông). Đồ gốm phát hiện tại Đồi Mít là những mảnh gốm vỡ vụn, có chất liệu tương
đồng với gốm tại di chỉ Bình Xuân. Trong một số xương gốm thường có lẫn nhiều
mảnh thạch anh, sạn sỏi. Loại gốm đỏ nhạt chiếm tỉ lệ nhiều hơn so với gốm vàng
xám nâu. Các mảnh gốm dạng miệng chủ yếu có hình loe đơn giản, mép miệng dày,
được vua thành gờ phía ngoài và mỏng dần xuống phía cổ. Một số ít miệng gốm dáng

4.8 Page 38

▲back to top
đứng thẳng, cổ thắt thành ngấn; một số mảnh miệng gốm mép ve tròn và loe khum
dáng hình lòng máng. Niên đại tương đồng di chỉ Bình Xuân.
2.10. Di chỉ Rạch Lá, thuộc ấp Quới Thành, xã Phước An, huyện Nhơn Trạch
được khai quật năm 2002. Bên cạnh hiện vật đá gỗ, đồ gốm thu thập gồm các loại: bi
gốm (số lượng 8), mảnh cà ràng (số lượng li và 508 mảnh gốm vỡ. Các mảnh gốm vỡ
gồm nhiều loại, trong đó, gốm miệng (số lượng 135 tiêu bản, miệng loe, mép vê tròn
hoặc có gờ mái, dáng miệng đứng); chân đế (số lượng 51 tiêu bản, gồm loại chân cao
và chân thấp, đáy bằng); mảnh thân (số lượng 322, kích thức nhỏ do bị phân rã). Phần
lớn là gốm thô, chất liệu sét pha nhiều cát, một số mảnh pha bã thực vật. Áo gốm
màu nâu và xám nhạt. Độ nung cao và xương gốm cứng. Hoa văn trên các mảnh gốm
chiếm tỉ lệ thấp, văn chủ yếu là văn thừng, khắc vạch, chấm dải với hoạ tiết các
đường song song, gấp khúc chữ chi, đường cong lượn sóng, hình tam giác. Niên đại
đoán đinh di chỉ Rạch Lá vào khoảng 3.200 năm cách ngày nay.
2.11. Di chỉ Phước Tân nằm trên ngọn đồi thấp, có độ cao khoảng 25 m ở hữu
ngạn sông Lá Buông thuộc địa phận xã Phước Tân, huyện Long Thành. Bên cạnh
hàng ngàn hiện vật đá có 615 hiện vật gốm được phát hiện trên diện tích 2 héc ta. Đồ
gốm ở Phước Tân có một số loại như gốm đỏ thuần, đỏ nâu, đen và gốm xám vàng.
Xương gốm có màu đen, trộn lẫn sạn latêrít, thạch anh, phen phát hoặc cát mịn. Hoa
văn trang trí phần lớn là văn in hoặc những đường song song và cắt chéo nhau, hình
tam giác hay răng sói (rất hiếm) và những đường chấm dải; loại văn thừng có nhưng
chiếm tỉ lệ thấp. Những mảnh gốm vỡ ở di chỉ là từ các loại nồi đáy tròn, bát bồng
(loại nhỏ còn được gọi là cốc có đế loe), bát tô...và hai bi gốm. Niên đại của di chỉ
Phước Tân được nhà nghiên cứu H.Fontaine đoán định vào khoảng 3.500 - 3.000
năm cách ngày nay (thời đại đồng thau).
2.12. Di chỉ Hưng Thịnh thuộc địa phận xã Hưng Lộc huyện Thống Nhất. Đồ
gốm phát hiện qua các cuộc thám sát gồm có hai loại khác nhau về chất liệu. Loại
bằng sét mịn, xương mỏng, đều, nhẵn, màu nâu đỏ, nâu hồng, miệng loe (khum hoặc
xiên), chân đế thấp dạng hình trụ, hoa văn được in dập văn thừng mịn. Loại bằng sét
mịn pha nhiều hạt đá nhỏ màu trắng xám, áo gốm màu nâu nhạt, nâu đỏ miệng loe
khum hình lòng máng, loe khum và xiên, đế thấp hơi choãi cao, dáng tròn. Niên đại

4.9 Page 39

▲back to top
Hưng Thịnh được đoán định thuộc thời kỳ kim khí, vào khoảng 3.500 – 4.000 năm
cách ngày nay.
2.13. Di chỉ Suối Đá (còn gọi là Hàng Gòn 9), thuộc địa phận Nông trường
Hàng Gòn, cách thị trấn Xuân Lộc 10 km về hướng tây nam. Đây là khu mộ chum,
nằm trên vùng đất đỏ ba - zan cạnh suối Gia Liêu. Di chỉ do nhà nghiên cứu E.Saurin
phát hiện vào những năm 60 của thế kỷ XX. Tại đây có trên 60 chum gốm, chiều cao
từ 20 đến 150 cm. Chum gốm được phân thành 3 loại: loại có hông gần đáy, vành
mép rộng, miệng loe; loại chum hình quả trứng được tạo do kỹ thuật dải cuộn, có họa
tiết đường song song trên nền văn chải hình răng lược; loại chum có đáy trũng, miệng
loe, không có hoa văn. Ngoài ra còn có các hiện vật gốm khác như: bình (nhiều đáy
bằng, đáy trũng, miệng hẹp và rộng, mép mỏng), nồi (miệng loe, vành mép thấp, có
hoa văn), cốc (miệng tròn, đáy phẳng), đĩa, chân đèn, nắp đậy, dọi xe sợi (hình chóp
cụt), khoanh gốm (dạng hình ống). Niên đại 2.300 + 150 năm cách ngày nay.
2.14. Di chỉ Phủ Hòa cách thị trấn Xuân Lộc 3 km về phía nam, ven Quốc lộ I.
Trong thập niên 70, thế kỷ XX, nhà nghiên cứu H. Fontaine phát hiện 46 mộ chum
bằng gốm. Chum cao có chiều cao 75 cm, đường kính thân 40 - 80 cm, đáy hơi cong.
Chất liệu làm chum từ sét pha cát hạt lẫn khoáng vật. Áo gốm được miết láng màu đỏ
hồng, một số trang trí hình xoắn ốc tạo thành dải các chữ S nghiêng nối tiếp hoặc
cách đều nhau. Ngoài 46 chum, hiện vật gốm còn có: nồi (số lượng 7, đáy tròn, hoa
văn trang trí hình răng sói), bình cổ thắt (dáng tròn và hình quả trứng), đĩa (số lượng
38, kích cỡ khác nhau, đáy bằng và uốn cong), bát mâm bồng (vỡ phần trên, hình trụ
giữa và đế nón), bi gốm (số lượng 2, hình cầu và hình đĩa), ống chỉ và một số mảnh
chân đèn. Hoa văn gốm Phú Hoà được tạo bằng cách in dấu vải, chấm dải, miết láng
hoặc những đường khắc vạch sâu (phần đáy, bụng, cổ); các hoạ tiết là đường băng
song song, đường cong và nét gạch nhỏ, hình răng sói, đường xiên, đường lượn sóng,
hình chữ S. Niên đại trong khoảng 2.500 năm cách ngày nay.
2.15. Di chỉ Dầu Giây, thuộc địa phận huyện Thống Nhất do E. Saurin phát
hiện năm 1965. Bên cạnh số hiện vật đá thu được còn có 2 chum gốm không nắp và
một số gốm vỡ. Dạng gốm từ các nồi có miệng loe đáy cong, bình cổ loe có vai, đĩa
đáy phẳng hơi lõm, lọ nhỏ, chum bụng nở. Chất liệu gốm từ sét pha cát, than, bột tro,

4.10 Page 40

▲back to top
bã thực vật và một số khoáng vật. Gốm được nung ở nhiệt độ cao, tạo dáng và trang
trí bằng văn thừng, khắc vạch với các hoạ tiết vòng tròn, đường sóng nước, khuông
nhạc, răng sói, xoắn ốc.
3. Tổng quan về đồ gốm qua kết quả khảo cổ học
3.1. Loại hình
Trong những di chỉ khảo cổ học được thám sát, khai quật, hiện vật gốm được
phát hiện chiếm số lượng rất lớn. Trong đó, các tiêu bản gốm còn nguyên dạng chiếm
tỉ lệ thấp, số mảnh gốm vỡ chiếm tỉ lệ cao. Qua nghiên cứu, các nhà khoa học đã định
dạng được nhiều loại hình. Hầu hết, các hiện vật gốm là từ những đồ dùng phục vụ
cho cuộc sống của cư dân thời tiền sử.
w Các loại bình, hũ, vò: Loại bình, hũ còn nguyên dạng tìm thấy được trong
các di chỉ khảo cổ rất hiếm. Tại di chỉ Bình Đa, một chiếc bình phát hiện trên bề mặt
di tích còn khá nguyên vẹn với dáng hình con tiện (cao 22cm), được chế tác bằng bàn
xoay, độ nung cao. Nhiều mảnh vỡ gốm tại các di chỉ được định dạng là từ các đồ
đựng như bình, hũ, vò chiếm số lượng khá nhiều. Các loại bình, hũ có nhiều kích cỡ
được làm từ sét pha bột nhuyễn thể, bã thực vật, cát và một số phụ gia khác với tỉ lệ
vừa phải. Bình, hũ, vò thường có thân hình cầu dẹt hay quả trứng, đáy tròn, đáy bằng,
đáy lõm; thân bình phình ở giữa, đôi khi có gờ ngấn, miệng loe. Riêng phần tạo dáng
miệng rất đa dạng, như: miệng khum, miệng loe, miệng loe xiên, loe choãi với các gờ
đủ kiểu. Phần chân đế được tạo dáng đế bằng, đế choãi cao hoặc thấp.
w Nồi: Các mảnh gốm vỡ từ các loại nồi tìm thấy nhiều trong các từ chỉ khảo
cổ được thám sát, khai quật. Phần lớn chúng có kích cỡ vừa và nhỏ. Nồi có hai loại:
loại miệng loe, mép tròn hoặc vuông, cổ thắt, bụng nở và thu hẹp dần về phía đáy,
hoặc gãy khúc tạo thành phần hông; loại miệng loe hơi khum, cổ thẳng đứng, thân
tròn đều hoặc gãy khúc tạo thành phần vai, đáy tròn, xương không dày. Nồi dùng
trong việc đun nấu phục vụ nhu cầu ăn uống và dùng để nấu đồng (di chỉ Gò Me: 1,
Bình Đa: 3).
w Chum: Hầu hết những chum gốm (hay vò lớn) được tìm thấy trong các di chỉ
mộ táng thuộc thời đại kim khí như Dầu Giây, Hàng Gòn 9 (Suối Đá), Suối Chồn...
Các tiêu bản chum thường có dáng hình cầu dẹt hay quả trứng, thân bụng nở, cổ thắt

5 Pages 41-50

▲back to top

5.1 Page 41

▲back to top
hẹp, miệng rộng, đáy hơi lồi tròn và gần phẳng. Chum có nhiều kích cỡ, chiều cao
khoảng 40 - 60 cm, rộng ngang thân 40 - 50 cm. Màu sắc các loại chum khá đa dạng,
xương có màu nâu, đen, lớp áo màu đỏ, hồng. Chất liệu từ sét pha cát thô thuộc loại
nham thạch thạch anh, phen phát. Chum thường được cư dân cổ dùng để chôn người
chết và đồ đựng sinh hoạt.
w Bát: Các mảnh gốm vỡ trong nhiều di chỉ có một số được định dạng từ các
loại bát. Loại bát nhỏ tìm thấy ở di chỉ Cầu Sắt, Phước Tân. Chúng có màu đỏ đen;
chất liệu gốm mịn, miệng loe, đế ghép thấp. Loại bát bồng (còn gọi là “đậu” - bát
chân cao) có ở một số di chỉ như Cầu Sắt, Bình Đa, Phước Tân, Gò Me... Chất liệu từ
loại sét mịn, màu trắng hoặc đỏ. Phần trên có dạng hình đĩa, loe rộng, miệng hơi
khum, đáy hơi lồi; phần trụ tròn cao nối với đế có hình chóp hơi choãi cong. Một số
tiêu bản có văn đắp dải hay khắc vạch. Một số bát bồng tìm thấy trong di chỉ thời đại
kim khí có hai cặp lỗ thủng gần mép miệng; chiều cao từ 8 - 11 cái, đường kính
miệng 15 - 22 cm, có loại nhỏ với kích cỡ cao 6 - 8 chỉ, rộng miệng 10 - 13 cm .
w Đĩa: Một số đĩa nhận dạng qua các gốm vỡ tìm thấy tại các di chỉ như Cái
Lăng (số lượng l), Bình Đa (số lượng 4), Phú Hoà... Chúng không còn nguyên vẹn
nhưng phục dựng được từ các mảnh vỡ. Chiếc đĩa ở di chỉ Cái Lăng có miệng rộng,
đáy nông, miệng loe xiên, mép miệng có trang trí hoa văn dày hơn phần thân, giữa
miệng và thân có đường gấp khúc. Những chiếc đĩa tìm thấy ở di chỉ Bình Đa có hai
loại: đáy nông và đáy sâu. Một chiếc đáy sâu có miệng tạo thành vành bẻ gần như
nằm ngang, xương dày, đáy cong đều, giữa thân và đáy có sóng nổi tạo thành ngấn,
bề mặt đĩa có phủ lớp áo mỏng màu nâu. Ba chiếc đáy nông đồng dạng, đáy gần
bằng, miệng được vuốt tròn và gần nhọn, đế trơn. Hầu hết các đĩa được làm từ chất
liệu sét pha nhiều bã thực vật, bột vỏ nhuyễn thể và cát thô độ nung cao.
Một số đĩa là đồ tuỳ táng, được chôn trong các mộ chum. Số đĩa nguyên vẹn
tìm thấy khá nhiều, được xem là sản phẩm đặc trưng của di tích mộ chum ở Đồng
Nai. Riêng tại di chỉ Phú Hòa, theo thống kê của H.Fontaine có 36 đĩa, chia làm ba
loại: loại nhỏ có miệng gần thẳng đứng hoặc hơi loe, gần đáy có đường gờ nổi, đáy
hơi lồi, miệng rộng; loại vừa có vành miệng rộng, gần mép thường có cặp lỗ tròn dối
xứng nhau; loại lớn có thành miệng gần thẳng đứng đáy hơi lồi hoặc phẳng.

5.2 Page 42

▲back to top
w Bi: Hầu hết các bi gốm có dạng hình cầu, được làm từ sét mịn, độ nung vừa,
thường có màu đỏ nhạt hay nâu. Đặc biệt, tại di chỉ Cái Vạn có một bi gốm với
đường kính đến 5,3 cm được xem là lớn nhất trong số những tiêu bản bi được phát
hiện ở vùng Đông Nam Bộ. Bi gốm được phát hiện tại một số di chỉ như: Bình Đa (số
lượng 50), Cái Vạn (số lượng 78), Rạch Lá (số lượng 8), Cái Lăng (số lượng 7), Gò
Me (số lượng 3), Phước Tân (số lượng 2), Phú Hòa (số lượng 2)... Các bi gốm này
còn được xem là đạn mà các nhà nghiên cứu cho rằng cư dân cổ dùng trong việc săn
thú nhỏ.
w Dọi xe chỉ: Số lượng tiêu bản loại hình dọi xe chỉ được phát hiện trong các di
chỉ kháo cổ ở Đồng Nai rất hiếm. Theo các tài liệu công bố trước đây, một số dọi xe
chỉ được phát hiện tại: Gò Me (số lượng l), Cái Vạn (số lượng l), Suối Chồn (số
lượng 2), Hàng Gòn 9 (số lượng 2), Cái Lăng (số lượng 1). Hầu hết các đổi xe chỉ có
màu hồng nhạt xen lẫn với màu xám đen, hình nón cụt có lỗ nhỏ xuyên qua chính
giữa, mặt cắt ngang thân hình thang dẹt, không có hoa văn. Chất liệu làm từ đất nung
pha nhiều cát. Các đổi xe chỉ là dụng cụ cho thấy cư dân cổ Đồng Nai đã biết đến
nghề xe sợi, dệt vải.
w Bàn xoa gốm: Đây là dụng cụ được sử dụng trong việc tạo dáng cho các sản
phẩm là đồ đựng bằng gốm. Bàn xoa gốm được phát hiện khá nhiều tại các di chỉ như
Bình Đa, Cái Vạn (số lượng 32), Suối Linh (số lượng 39, 60 chuôi cầm và trên 300
mảnh vỡ), Cái Lăng, Suối Chồn... Bàn xoa gốm có dáng hình chiếc nấm, gồm có
chuôi và bàn xoa. Phần chuôi là hình trụ dạng núm được vuốt nhọn hoặc hơi loe (một
số tiêu bản có lỗ thủng chính giữa), phần bàn xoa hình cầu, mặt tương đối trơn nhẵn,
hơi cong lồi rìa mép có gờ hoặc vê tròn. Bàn xoa có nhiều kích cỡ khác nhau. Công
dụng của bàn xoa làm khi tạo dáng sản phẩm làm cho bề - mặt trong đều, phẳng,
nhẵn và phôi gốm được nén cứng. Bàn xoa thường được làm bằng sét pha nhiều cát
hạt lớn, bột vỏ nhuyễn thể, bã thực vật sỏi sạn và lẫn vẩy mịch. Chúng được làm bằng
tay, độ nung cao, xương cứng chắc.
w Mảnh gốm tròn: Trong số hàng nghìn mảnh gốm vỡ được phát hiện tại nhiều
di chỉ khảo cổ trên đất Đồng Nai, trong đó có những mảnh gốm tròn với một tỷ lệ
nhỏ. Hầu hết các mảnh gốm này từ những mảnh gốm vỡ của đồ đựng được đem mài,

5.3 Page 43

▲back to top
ghè tạo dáng hình tròn với nhiều kích cỡ khác nhau. Trên bề mặt những mảnh gốm
tròn vẫn còn giữ nguyên những áo gốm và hoa văn trang in. Có mảnh được khoan
thủng lỗ chính giữa. Các di chỉ phát hiện mảnh gốm tròn gồm: Suối Linh (số lượng l),
Bình Đa (số lượng 11), Cầu Sắt (số lượng 16), Cái Vạn (số lượng 39)... Cho đến nay,
chưa xác định công dụng của loại di vật này. Có thể, các mảnh gốm tròn được dùng
để trang trí và các mảnh có khoan lỗ để trang sức như đeo vào người hay vật.
w Cà ràng: Đây là một dạng bếp của cư dân cổ. Mỗi “cà ràng” có ba chân gắn
với một bàn đế. Bàn đế thường có hình tròn, đáy hơi lồi, xung quanh có bờ che vừa.
Các chân “cà ràng” được tạo dáng trụ tròn, thân hơi cong hoặc dẹt, đầu gắn đế tròn
bằng, đầu trên hơi vuốt nhọn giống cái sừng bò (cho nên chúng còn có tên gọi là gốm
sừng bò). Các chân “cà rang” gắn lên chân đế theo kiểu kiềng ba mà vị trí cách đều
thân hơi ưỡn ra, phía đầu chum vào vừa phải để nâng vật đun nấu mà chủ yếu là các
loại nồi. Loại di vật “cà rang” được tìm thấy ở một số di chỉ như: Rạch Lá (số lượng
1), Phước Tân (số lượng 1), Suối Chồn (số lượng 10), Cái Lăng (số lượng 10), Bình
Đa (số lượng 12), Cái Vạn (762)... Các chân “cà ràng” có nhiều kích cỡ khác nhau, có
lẽ tương thích với các bàn đế mà cư dân cổ chủ đích tạo dáng. Chất liệu làm từ sét
pha nhiều bã thực vật, xương màu xám, đen hoặc xám đen. “cà ràng” được xem là
một loại vật dụng độc đáo của cư dân cổ văn sông nước.
3.2. Chất liệu và kỹ thuật chế tác
Trong các loại sản phẩm gốm được tạo nên qua các thời đại phát triển của con
người, mọi vùng lãnh thổ, thành phần nguyên liệu chính yếu vẫn là đất sét. Hầu hết,
các loại sản phẩm gốm của cư dân cổ Đồng Nai được chế tác từ chất liệu đất sét sẵn
có trên địa bàn. Phụ thuộc vào địa bàn cư trú của cư dân cổ mà họ khai thác nguồn
nguyên liệu tại chỗ để làm nên sản phẩm gốm dùng trong sinh hoạt. Với đặc điểm
này, chúng ta có thể nhận thấy hiện vật gốm phát hiện tại các di chỉ cùng trên địa bàn
cư trú có những nét tương đồng về sử dụng chất liệu sét các chất phụ gia có trong
từng sản phẩm gốm các loại. Các địa bàn cư trú khác nhau thì chất liệu sét dùng làm
gốm phụ thuộc vào yếu tố thành phần hoá học sét tại chỗ. Cũng chính từ yếu tố này
và phụ thuộc vào kỹ thuật chế tác, chủ đích làm sản phẩm mà tỉ lệ các loại gốm trong
từng di chỉ có sự khác biệt. Mặc dầu, có những di chỉ được xem là loại hình di chỉ

5.4 Page 44

▲back to top
xưởng - nơi chế tác đồ đá, đồ gốm, thì sự trao đổi giữa các địa bàn rộng chưa đáng
kể, chỉ phục vụ cho cộng đồng, nhu cầu của một địa bàn với quy mô vừa phải. Vì quá
trình trao đổi giao lưu còn phụ thuộc nhiều vào đặc điểm địa lý của môi trường và
điều kiện phát triển kinh tế mỗi cộng đồng cư dân cổ. Chúng ta có thể hình dung về
chất liệu để chế tác nên sản phẩm gốm cổ ở Đồng Nai chủ yếu gồm các thành phần
sau: đất sét là thành phần chính; các chất phụ gia thường thấy là: bã thực vật, bột vo
nhuyễn thể, bột tro, cát, sỏi sạn và các khoáng vật tự nhiên. Riêng về nguồn nguyên
liệu chính là đất sét thì phụ thuộc vào nơi chúng được khai thác.
Đồ gốm di chỉ Cầu Sắt (xã Bình Lộc, thị xã Long Khánh) được nhìn nhận như
là đồ gốm cổ nhất ở Đồng Nai và cả vùng Nam Bộ. Nguồn nguyên liệu để làm nên
các sản phẩm gốm Cầu Sắt thuộc nhiều loại, chủ yếu từ đất sét núi và phù sa sông
(yếu tố vi lượng kẽm là 0,01%, phối pho 0,1%), có loại sét cao lanh với thành phần
chính là thạch anh, phen phát, một số khoáng vật như caolinit hiện diện trong sản
phẩm khi chế tác nhưng bị huỷ trong quá trình nung; chất phụ gia gồm có cát bã thực
vật, hạt đá. Các di chỉ trên địa bàn vùng đồi núi, đất đỏ ba - zan như Cầu Sắt, Núi
Gốm, Hàng Gòn, Dầu Giây, Phú Hòa... thì nguồn nguyên liệu chính là sét núi (chiếm
tỉ lệ 70 %), chất phụ gia là sa thạch khá đa dạng. Đồ gốm di chỉ Bình Đa làm từ đất
sét lọc kỹ, có pha thêm cát mịn, vỏ nhuyễn thể được nghiền nát, một tỉ lệ nhỏ bột đá
màu trắng và bã thực vật. Tại di chỉ Suối Linh, Suối Chồn, Cái Vạn, Cái Lăng, Rạch
Lá, Phước Tân... hầu hết đồ gốm cũng có những nét tương đồng về chất liệu với gốm
Bình Đa, đặc biệt có thêm chất phụ gia như tro bùn; có thể chất này có sẵn trong sét
phù sa sông (khu vực hạ lưu sông Đồng Nai) hay được cư dân thêm vào trong thế tác.
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu thành phần hoá học, phương pháp quang phổ
về chất liệu gốm cổ ở Đồng Nai, một số nhà khoa học cho biết những khoáng vật phụ
gia trong gốm cổ Đồng Nai có thể khai thác từ nhiều đồi cát phù sa ven các sông,
suối bắt nguồn từ hướng đông bắc của địa hình chảy qua những vùng có hoặc không
phủ ba - zan đến Xuân Lộc - Long Khánh. Phụ gia bắt nguồn từ nhiều nguồn khoáng
vật như: khoáng gốc ba - zan (gồm olivine, fero-magésien, spinelle liménite); khoáng
gốc granit (gồm hornbleinde, zircon, mica, rulite, micro - granit, rhyolite/ quartz,
corrodes); đá biến chất (staurtile); đá trầm tích (grès, latérite-écomicte ferrogineux,

5.5 Page 45

▲back to top
felsat...). Phụ thuộc vào nguyên liệu và tỉ lệ pha chế các chất phụ gia và trình độ kỹ
thuật chế tác mà tạo nên độ bền của một sản phẩm gốm.
Gốm cổ Đồng Nai trong các di chỉ khảo cổ học được chế tác bằng kỹ thuật bàn
xoay chiếm vai trò chủ đạo và phối hợp với các thao tác kỹ thuật bằng tay trong nhiều
công đoạn. Những loại hình hiện vật gốm chế tác thuần bằng tay chiếm tỉ lệ nhỏ. Dấu
vết của kỹ thuật chế tác bằng bàn xoay thể hiện rõ nét từ vết mờ hay đường chỉ viền
ngang phần đáy, miệng trên nhiều tiêu bản hiện vật gốm được phát hiện. Ngoại trừ
các thao tác trong khâu chọn nguyên liệu, phụ gia thì các kỹ thuật thao tác bằng tay
như dải cuộn (tạo phôi), nặn vuốt (dáng mép miệng, tạo gờ xoa bề mặt, miết láng...),
kỹ thuật hòn dập - bàn kê, kỹ thuật gắn kết chân đế, chải, khắc, tô màu... trong chế tác
sản phẩm gốm thể hiện ở công đoạn tạo hình, tu chỉnh bề mặt, trang trí hoa văn.
Trên góc độ chính từ chất liệu và kỹ thuật chế tác, các nhà nghiên cứu đã phân
ra làm các loại gốm chính trong các di chỉ khảo cổ học là gốm mịn, gốm thô và gốm
xốp. Điều này phụ thuộc vào khâu chọn nguyên liệu chính, tỉ lệ chất phụ gia và độ
nung. Loại gốm mịn được chế tác với khâu nguyên liệu được tuyển chọn kỹ với chất
liệu sét mịn, chất phụ gia chủ yếu là cát hay hoặc một số chất khác cũng được sàng
lọc kỹ (hạt mịn, nhỏ), độ nung cao nên có độ cứng chắc đảm bảo. Loại gốm thô thì
chất liệu không tuyển chọn kỹ (kích cỡ hạt lớn) và độ nung thấp; loại gốm xốp thì tỉ
lệ chất phụ gia như bã thực vật, tro mùn… chiếm tỉ lệ khá lớn, độ nung thấp nên
chúng dễ bị thấm nước, không có độ bền.
3.3. Hoa văn
Hoa văn trang trí trên sản phẩm gốm cũng là một tiêu chí để phân loại gốm:
gốm có hoa văn và không có hoa văn (gốm trơn). Tại các di chỉ khảo cổ học Đồng
Nai, hai loại gốm này đều được phát hiện nhưng tỉ lệ giữa chúng trong các di chỉ khác
nhau. Hoa văn được thể hiện trên bề mặt của nhiều loại tiêu bản gốm và với chủ đích
của người chế tác. Có những tiêu bản thể hiện nhiều hoa văn phong phú nhưng cũng
có những tiêu bản được thể hiện một dạng hoa văn trang trí.
w Văn chải: được tạo nên từ những que dẹt dập tua đầu hay nhiều răng khá đều
để chải bề ngoài phôi gốm tạo thêm độ cứng và tăng độ bám của áo gốm phủ ngoài.

5.6 Page 46

▲back to top
Vết rãnh chải thường sâu, chạy theo nhiều chiều ( dọc, xiên, cắt ngang hay chéo nhau
).
w Văn thừng: được tạo từ những bàn dẹt có cuốn dây thừng có nhiều kích cỡ
khác nhau dập, lăn lên phôi gốm và bề mặt để tạo độ cứng, chắc cho sản phẩm. Văn
thừng thể hiện trên gốm theo nhiều chiều khác nhau và thường bố trí kết hợp văn
chải.
w Văn khắc vạch: được tạo nên từ các que, thẻ đầu nhọn hay tròn hoặc tạo răng
với kích cỡ nhỏ, vừa. Văn khắc vạch thường thể hiện trên nền văn thừng, khá đa dạng
với các đồ án trên nhiều phần bề mặt của sản phẩm.
w Văn in chấm, in dải: Tạo nên từ các que hay thẻ hoặc đầu ngón tay được sử
dụng theo chủ đích của người thợ như in từng chấm rời, nối tiếp nhau hay từng dải
vạch chấm hay các dải đường ngang, thẳng, chéo, xiên nhau, song song hoặc các hình
học...vào phôi gốm.
w Văn dập: được tạo nên từ các vật phẩm như tấm nan tre, nan chiếu có sẵn
những đường gờ nổi, hay các hình hình học. Người thợ dùng dập vào phôi gốm. Một
số ý kiến cho rằng văn dập là vết tích của việc gốm khi vừa tạo dáng (còn ướt) được
phơi trên những vật phẩm nói trên.
w Văn đắp nổi: được tạo từ những dải đất sét tạo thành gờ, dải băng dài hay
ngắn với nhiều kích cỡ, chế tác rời và đắp vào mặt gốm. Văn đắp nổi thường được
gắn vào mặt gốm chủ yếu ở vai gốm thường thấy ở các loại chum, vò.
w Văn khoét - miết: được tạo bằng que dẹt có đầu bằng hay chỉ đơn thuần bằng
ngón tay người chế tác ấn lên mặt trong của cổ gốm (nơi tiếp giáp đưa phần cổ và
thân, vai) trên nền văn chải, văn thừng. Những rãnh hình lòng máng, những băng
miết láng song hành với các dạng văn khác có tính chất trang trí cho sản phẩm.
Những đồ án, hoạ tiết hoa văn trên gốm cổ Đồng Nai rất phong phú, đa dạng.
Chúng được thể hiện trên các bề mặt của sản phẩm như: các dường vạch, chỉ chìm
hay chấm (thẳng, song song, xiên, chéo nhau, cong, đường xoáy trôn ốc, đường lượn
sóng, đường gãy rời nối tiếp nhau...), hình hình học (tam giác/ răng sói, hình thoi,
hình vuông/ dạng ô lưới, nửa hình tròn, hình khuông nhạc, hình bầu dục, hình răng
cưa, hình hoa thị, hình sao...); hình chữ (chữ V, chữ S). Các đồ án, hoạ tiết được phối

5.7 Page 47

▲back to top
kết với nhau từ một đến nhiều các loại văn, hoạ tiết được thể hiện bằng nhiều kiểu
(nổi, chìm, lồi hay lõm, liên kết, tách rời...) tạo nên những mảng trang trí rất độc đáo
trên bề mặt của sản phẩm gốm.
Ngoài các hoa văn được dùng trong trang trí gốm, trong gốm cổ Đồng Nai có
xuất hiện loại gốm phủ màu hoặc bôi màu trang trí. Những dạng loại gốm này chiếm
tỉ lệ vừa phải trong tỉ lệ các tiêu bản gốm phát hiện được tại các di chỉ khảo cổ. Riêng
về loại gốm phủ màu để xử lý bề mặt trước khi nung chiếm tỉ lệ cao hơn dạng gốm
bôi màu trang trí. Những bề mặt sản phẩm gốm phủ màu thường thấy rất đa dạng như
màu nâu, nâu đỏ, đỏ nhạt, xám nhạt, xám sẫm, vàng, vàng nhạt, trắng đục, đen... Về
màu phủ áo gốm có những ý kiến cho rằng đó là một dạng nhựa thực vật hoặc một
loại khoáng chất được hoà vào trong nước pha đất loãng để xử lý trên bề mặt. Về
dạng gốm có bôi màu trang trí chiếm tỉ lệ vừa phải trong số tiêu bản gốm và di chỉ
khảo cổ được khai quật mà trong đó tiêu biểu là số tiêu bản thu thập được tại di chỉ
Bình Đa. Về mặt kỹ thuật, lớp màu áo gốm trang trí cũng được thực hiện trước khi
nung, có tác dụng làm bóng láng bề mặt sản phẩm bên trong và bên ngoài nhưng chủ
yếu là thể hiện nét thẩm mỹ của sản phẩm. Những sản phẩm gốm bôi màu trang trí thì
bề mặt thường để trơn, rất hiếm sự kết hợp với các thủ pháp tạo hoa văn. Loại gốm
bôi màu trang trí có những nét khác biệt là chúng được thể hiện có thể trên khắp bề
mặt trong và ngoài hay từng bộ phận của sản phẩm. Màu sắc của màu bôi trang trí
cũng đa dạng nhưng chủ yếu là nâu, đen, đỏ tươi với các sắc độ khác nhau. Ngoài
tính chất trang trí mỹ thuật thì màu bôi trang trí còn tác dụng tăng thêm độ bền của
sản phẩm gốm.
***
Qua kết quả nghiên cứu khảo cổ học nói chung, có thể thấy rằng vùng đất
Đồng Nai là một trong những địa bàn hình thành và phát triển của những cộng đồng
cư dân cổ. Trong quá trình tồn tại, cư dân cổ Đồng Nai đã thích ứng với môi trường
địa - sinh thái và không ngừng sáng tạo để phát triển. Cư dân cổ Đồng Nai đã biết đến
những nghề thủ công mà trong đó có nghề làm gốm với một trình độ kỹ thuật nhất
định để thích ứng trong những điều kiện phát triển theo chiều hướng tích cực. Những
di chỉ khảo cổ với số lượng hiện vật gốm được phát hiện trên các tiểu vùng địa lý đặc

5.8 Page 48

▲back to top
trưng cho thấy một sự phát triển về nghề làm gốm để phục vụ cho đời sống kinh tế xã
hội nguyên thuỷ kể từ khi con người biết đến chăn nuôi và trồng trọt. Những sản
phẩm từ nghề làm gốm với những công năng, công dụng đã tạo điều kiện thuận lợi
nhiều mặt cho cư dân cổ từ vùng đồi núi hay đồng bằng, vùng cận biển trong chu kỳ
vòng đời người của cá nhân cũng như sự tồn tại nói chung của cộng đồng. Tính chất
đáp ứng nhu cầu cho cộng đồng và sự trao đổi liên hệ giữa các cộng đồng thể hiện
qua những di chỉ được đánh giá là di chỉ xưởng chế tác công cụ đá, gốm. Điều này
phản ánh những bước tiến về trình độ nhận thức, khả năng sáng tạo và chiều kích
kinh tế, xã hội của cộng đồng cư dân cổ.
Với niên đại đoán định của di chỉ Cầu Sắt từ 5.000 - 4.000 năm cách ngày nay
thì có thể thấy rằng cư dân cổ Đồng Nai đã biết chế tác đồ gốm từ thiên niên kỷ thứ
III trước Công nguyên. Đồ gốm phát hiện tại di chỉ Cầu Sắt rất đa dạng và được xem
là hoàn thiện về các thao tác kỹ thuật chế tác gốm của con người cổ. Qua xem xét các
sưu tập hiện vật gốm trong các di chỉ khảo cổ theo trục thời gian và mở rộng trên các
địa bàn khác nhau: từ Cầu Sắt, Suối Linh, Núi Gốm.... ở vùng cao cho đến Bình Đa,
Gò Me... ở vùng ven sông hay Cái Vạn, Rạch Lá, Cái Lăng.. vùng cận biển và ngược
lên vùng đất đỏ ba - zan Xuân Lộc, Phú Hoà, Dầu Giây, Suối Chồn... các nhà nghiên
cứu ghi nhận được sự biểu hiện đa dạng, phong phú trong giai đoạn đầu và dần về sau
hình thành một truyền thống gốm khá ổn định bắt đầu từ thời đại đá mới - đồng của
cư dân cổ Đồng Nai nghĩa là có một truyền thống chế tác gốm mang phong cách của
cộng đồng người cổ Đồng Nai. Đặc trưng của truyền thống gốm Đồng Nai thời cổ là
sự đa dạng về chất liệu, màu sắc, sự phong phú về kiểu dáng, rắn chắc về chất lượng,
mộc mạc trong trang trí, ổn định trong loại hình và dồi dào về số lượng. Đồng thời,
ngoài những đặc trưng chung đã ổn định thành biểu hiện của truyền thống những đồ
gốm cổ Đồng Nai có những sắc thái khác lạ tạo nên những nét chấm phá và sự sáng
tạo của những nghệ nhân chế tác gốm như gốm được tô hay vẽ màu.
Ths Phan Đình Dũng
Ø Tài liệu tham khảo
1. Lê Xuân Diệm, Phạm Quang Sơn Bùi Chí Hoàng. Khảo cổ Động Nai, Nxb
Đồng Nai, 1991.

5.9 Page 49

▲back to top
2. Viện KHXH tại Tp.HCM, Bảo tàng Đồng Nai. Báo cáo khai quật di tích
khảo cổ học Cái Vạn.
3. Viện Khảo cổ học, Bảo tàng Đồng Nai. Báo cáo khai quật di tích khảo cổ
học Rạch Lá, Hà Nội, 2002.
4. Phạm Đức Mạnh, Nguyễn Văn Long. Điều tra và khai quật lần thứ hai di
tích khảo cổ học Bình Đa, 1993.
5. Trần Văn Dũng, Hà Văn Cẩn. Báo cáo điều tra thám sát khảo cổ học ở một
số tỉnh miền Đông Nam Bộ năm 2000 - 2001.
6. Lưu Văn Du, Nguyễn Đăng Hiệp Phố. Đồ gốm di chỉ Cái Vạn qua tài liệu
khai quật lần II năm 1976. Tạp chí Khảo cổ học số 4/1998.
7. Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Khảo cổ học. Báo
cáo khai quật di chỉ khản cổ học Cái Lăng lần thứ nhất, năm 2000. Hà Nội 2001.
8. Lê Xuân Diễm. Điều tra di tích khảo cổ học Hưng Thịnh, năm 1977. Tài liệu
Bảo tàng Đồng Nai.
9. Vũ Quốc Hiền, Phạm Quốc Quân, Lưu Thành Mỹ. Khai quật di tích Suối
Chồn đợt II (tháng 4/ 1979), năm 1979. Tài liệu Bảo tàng Đồng Nai.
10. Địa chí Đồng Nai, tập III Lịch sử. Nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2001.

5.10 Page 50

▲back to top
Văn nghệ dân gian Đồng Nai
Có con người là có sinh hoạt văn học - nghệ thuật. Văn học - nghệ thuật ở Biên
Hòa - Đồng Nai là thành quả lao động sáng tạo của người Đồng Nai, được hình thành
trong quá trình tích hợp, cộng sinh của người Việt gốc Trung Bộ, Bắc Bộ với người
Hoa nhập cư và các cư dân bản địa; phản ánh và cải biến theo sự phát triển kinh tế xã
hội ở địa phương.
Văn miếu được xây dựng năm 1715 ở Bình Thành - Tân Lại (nay thuộc thành
phố Biên Hòa) được xem là dấu ấn của sự tôn vinh nền văn học - Nho giáo phát triển
sớm ở Biên Hòa - Đồng Nai. Tuy nhiên, do chiến tranh, loạn lạc, tác phẩm văn
chương chữ Hán còn lại không nhiều. Phải đến đầu thế kỷ XIX mới được khởi sắc
với tên tuổi của các nhà trước tác làm quan như Trịnh Hoài Đức, và đến sau Cách
mạng tháng Tám mới đậm nét dòng văn học Cách mạng với các nhà văn tiêu biểu:
Huỳnh Văn Nghệ, Lý Văn Sâm, Hoàng Văn Bổn.
Trước năm 1715 và liên tục trong suất hơn 300 năm qua, dòng mạch văn học -
nghệ thuật dân gian được bảo tồn, lưu truyền và phát triển liền mạch trong cộng đồng
dân tộc; có đứt gãy và tổn thất do sự áp đặt văn minh ngoại nhập của nhà nước thực
dân, nhưng cốt lõi của vẻ đẹp truyền thống, bản sắc văn hóa Việt Nam vẫn được bảo
tồn.
Có thể nói, sắc thái nổi bật của văn học nghệ thuật truyền thống của Biên Hòa -
Đồng Nai là: Có sự tích hợp hỗn dung nhiều nhân tố của các hệ văn hóa: Bắc -
Trung - Nam, nhập cư bổn địa, Đông - Tây, truyền thống - hiện đại; thích ứng nhanh
nhạy với cái mới, rộng mở trong giao lưu, hài hòa trong nếp sống, nhân nghĩa trong
lối ứng xử tiến bộ nhanh với khoa học kỹ thuật mà không xa cội quên nguồn.
1.Văn học dân gian
Kho tàng văn học lưu truyền trong dân gian chủ yếu bằng cách truyền khẩu,
gồm nhiều dạng: Tự sự và trữ tình dưới hình thức truyện kể, thơ ca, hò vè… Những
tác phẩm truyền khẩu này do truyền đời qua nhiều thế hệ, phân tán theo quá trình lan
tỏa cộng đồng cư dân, bị tổn hại trong chiến tranh, chưa từng được sưu tập có hệ
thống cho nên đến nay đã mai một nhiều, một số không ít đã thất truyền, số còn lại

6 Pages 51-60

▲back to top

6.1 Page 51

▲back to top
phần lớn trong dạng “mảnh vụn được chắp vá” nhiều dị bản còn tồn nghi, nhiều nội
dung chưa được hiểu đầy đủ. Chỉ với số ít truyện kể, thơ ca, hò vè được sưu tầm
trong thời gian gần đây đủ cho thấy kho tàng văn học dân gian của người xưa rất
phong phú, giàu giá trị nhân văn, đậm màu sắc địa phương
1.1 Truyện kể
Ở đồng bào các dân tộc ít người, truyện kể là tài sản tinh thần quan trọng; đó là
“lịch sử”, là luật tục là hình mẫu nếp sống cổ truyền của cha ông đồng thời cũng là
cách để thư giãn tinh thần. Truyện kể của người Châu Mạ, Châu Ro, Xtiêng thường
tự sự dưới hình thức văn vần; già làng thường kể truyện trong không khí sinh hoạt
cộng đồng ở nhà dài, ở các lễ hội gia đình hoặc cộng đồng; giọng kể có vần có điệu,
cách gieo vần tự do, vần lưng vần liền, vần cuối nối các câu ngân dài tạo thành chuỗi
âm thanh giàu thanh nhạc, nghe như hát. Người Châu Mạ, Châu Ro, Xtiêng sùng bái
nhiều thần linh, trình độ sản xuất thấp nên còn lưu truyền mảng thần thoại, truyền
thuyết giải thích các hiện tượng tự nhiên và sự hình thành cộng đồng dân tộc với cách
hiểu hồn nhiên của con người ở buổi sơ khai. Người Châu Mạ còn có truyện thần
thoại giải thích về nguồn gốc các thần linh và truyền thuyết về gia hệ của tổ tiên. Ví
dụ, một cách giải thích nguồn gốc của người Châu Mạ ở vùng thượng nguồn sông
Đồng Nai
Khổng lồ Iut phân cách trời và đất
Khổng lồ Put chống trời bằng một thân cây.
Khổng lồ Trôô ngăn nước bằng tảng đá lớn.
K’ Daa, Blac và Bliơr rèn mặt trời
…
Với nước cá sinh sôi nảy nở,
Thác và sông, anh trai và em gái ăn ở với nhau
Ở đó tổ Phang Tiing ở với em gái Nhaam
Từ bắp thịt hông của họ sinh ra Biệt và Riing.
Từ sự giao hợp giữa Biệt và Riing sinh ra Biêng và Glong.
Từ Biêng và Glong sinh ra Cong và Kraang.

6.2 Page 52

▲back to top
Môtif ông khổng lồ sáng tạo trời, đất và người bàng bạc ở nhiều truyện cổ tích
giải thích hiện tượng tự nhiên. Như truyện Bàn tay ông khổng lồ chẳng hạn, ông
khổng lồ đang chia thịt, trời đất bỗng tối tăm để lại tảng thịt biến thành đá có in rõ
dấu năm ngón tay khổng lồ (tảng đá hiện ở còn ở khu rừng thuộc ấp Thanh Tùng, thị
trấn Định Quán, huyện Định Quán).
Theo truyện kể, thần linh của người Châu Mạ, Châu Ro, Xtiêng không có hình
thể rõ nét, ít được mô tả diện mạo, thường được nhắc đến như biểu trưng của quyền
lực tự nhiên. Mỗi vị thần có chức năng riêng. Ở người Châu Mạ, Yang Nđu là thần
của tất cả các thần, Yang Bri coi sóc rừng, Yang Đak lo việc sông nước, ao hồ, Yang
Kôi bảo trợ mùa màng, Yang Hiu lo việc trong nhà. Thần linh của người Châu Ro
tương tự như người Châu Mạ, thần rừng (Yang Bri) bảo trợ việc hái lượm, săn bắn
trong rừng, Yang Pa coi sóc mùa màng, Yang Va lo việc nhà... Người Xtiêng chịu sự
chi phối của các Arăk, Arăk Xre là thần lúa, Arăk Prek là thần sông, Arăk Ta Phnom
là thần núi... ngoài ra còn có Neak Ta là vị thần đất cai quản đất đai sinh hoạt của
cộng đồng. Tuy nhiên thần thoại, truyền thuyết của người Châu Mạ, Châu Ro, Xtiêng
còn lại không nhiều, không thành hệ thống, đa phần là những “mảnh vụn” tản mạn
trong câu truyện thường ngày. Sinh động và phong phú hơn cả là truyện cổ tích với
số lượng khá nhiều, tập trung ở đề tài giải thích nguồn gốc địa danh (sự tích Thác Trị
An, sự tích Đồng Trường, sự tích Miếu ông Chồn...). giải thích các đặc điểm loài vật
(Con gà trắng, con sóc Bông, vì sao chim cút ở bờ bụi, Heo anh heo em, Nàng tiên
Mèo...). phản ánh quan hệ chung sống hồn nhiên đồng đẳng giữa người và vật (sự
tích Miếu ông Chồn, Người hóa Voi, Heo anh heo em, Cọp cướp vợ người, Những
người con của chó...)
Truyện kể mang tính ngụ ngôn về những con vật tinh khôn, nhỏ bé chiến thắng
kẻ mạnh bằng trí thông minh, tài lanh lẹ như rùa thắng khỉ, thỏ thắng cọp chèo bẻo
chiến thắng muông thú... cũng khá nhiều, phản ánh trong đó nét đẹp và phẩm chất ưu
thế của bộ tộc nhỏ bé đã chiến thắng các thế lực mạnh hơn để sinh tồn. Đặc điểm
khác dễ thấy ở truyện cổ tích của người Châu Ro, Châu Mạ, Xtiêng là cốt truyện đơn
giản, lối suy nghĩ hồn nhiên, chơn chất; con người, loài vật, núi rừng có quan hệ
chung sống tự nhiên; trong đó kẻ yếu, cái thiện lòng thành dù có gặp nạn cuối cùng

6.3 Page 53

▲back to top
đều chiến thắng. Điều đáng lưu ý truyện kể Châu Ro, Châu Mạ, Xtiêng được kể
không giống nhau ở tiếng của mỗi dân tộc nhưng quan niệm, cốt truyện, tình tiết ở
truyện kể ít khác nhau, nhiều mẩu truyện phổ biến ở cả ba dân tộc (truyện Ó Ma Lai,
Con sóc Bông, Con gà trắng, Heo anh heo em...). Có truyện khác nhau đôi chỗ tiểu
tiết nhưng cùng dựa trên cốt lõi chung, ví dụ: Nhóm truyện kể của người Châu Mạ,
Châu Ro kể về cuộc thi tài của các chàng rể, tác phẩm thiến thắng của chàng rể út là
tòa nhà bằng gạch mà theo đó các nhà khảo cổ phát hiện ra di tích kiến trúc đoán định
là của người Phù Nam ở rừng Nam Cát Tiên (Sự tích Miếu ông Chồn). Nếu tìm hiểu
đầy đủ hơn, có thể tìm thấy ở truyện kể nguồn gốc và quan hệ của các tộc người bản
địa nếp sống cổ truyền, luật tục và đời sống tinh thần của họ trong đó còn nguyên vẹn
vẻ đẹp nguyên sơ của đồng bào dân tộc ít người ở buổi đầu lịch sử.
Truyện kể của người Việt không nhiều, do phát triển từ nhận thức kinh nghiệm
sống đã trưởng thành nhiều trăm năm qua ở nguyên quán nên người Việt ở Đồng Nai
không có thần thoại nguyên mẫu, vắng bóng truyền thuyết truyện kể ít hư cấu hoang
đường; cốt truyện được dẫn dắt bằng lý lẽ thế sự là chủ yếu. Có thể tìm hiểu truyện
kể của người Việt ở Đồng Nai theo nhóm.
w Nhóm truyện kể mang dấu ấn thần thoại tích hợp vào vùng đất mới gồm
những truyện hoặc những mẩu truyện giải thích về nguồn gốc địa danh, tên núi, tên
sông hoặc những hiện tượng của tự nhiên chưa giải thích được bằng khoa học (truyện
ông Châu Thới và bà Rịa thi đắp núi, Sự tích ông Trịnh, Cặp sóng thần ở Vàm Tham
Mạng, sự tích sân bà, sự tích thác Vọng Phu...). Nhóm truyện kể này thường có cốt
lõi môtif đã định hình trong vốn sống ở miền Bắc, miền Trung, được bồi đắp bằng
những hình ảnh, cảm hứng nảy sinh ở vùng đất mới. Ví dụ, ông Châu Thới và bà Rịa
thi đắp núi rõ ràng là môtif của ông khổng lồ (miền Trung), ông Đùng Bà Đà (miền
Bắc) đào sông xây núi. Bà luôn thắng trận, thành quả là núi bà cao hơn núi ông. Hoặc
Sự tích thác Vọng Phu (Thác Trị An) cũng vậy. Người phụ nữ than khóc ly biệt, tóc
chảy thành suối, tiếng khóc vang vọng thành tiếng thác... đó là hình ảnh quen thuộc
trong chuỗi truyện Vọng phu phổ biến ở các tỉnh ven biển miền Trung. Vẻ đẹp của
nhóm truyện này thể hiện ở chỗ ý tưởng, tâm hồn của người Việt gắn bó với cội
nguồn và sâu rễ bền gốc ở quê hương xứ sở mới.

6.4 Page 54

▲back to top
w Nhóm truyện kể về sự chinh phục tự nhiên thuở sơ khai gồm một tập hợp khá
phong phú những mẫu truyện kể về: Đánh cọp, bắt sấu, diệt mãng xà... Nhóm truyện
này phản ánh sự sống của con người trong buổi đầu khai hoang phải đương đầu với
sơn lam, chướng khí và thú dữ; con người phải chịu nhiều tổn thất phải dốc sức mới
chiến thắng (Trận Mãng xà, Sấu đỏ mũi...(4) chiến thắng bằng sự hợp lực của cộng
đồng (truyện Diệt cọp dữ ở Hóc ông Che), bằng vũ khí lẫn trí tuệ của con người
(truyện kể Ông Bò bà Hứa ở An Hòa, Long Thành); quan trọng là bằng đức hiếu sinh
của con người (như truyện Bà Mụ Cọp ở An Hòa - Long Thành và ở Đại Phước -
Nhơn Trạch).
w Nhóm truyện chiến thắng thú dữ, chinh phục tự nhiên ở Biên Hòa - Đồng Nai mang
màu sắc của Nam Bộ, khẳng định ý chí và vẻ đẹp tâm hồn của con người là vốn quý
trong quá trình khai phá, mở đất lập làng.
w Nhóm truyện kể mang tính giai thoại về các nhân vật lịch sử gồm các mẩu
truyện chân thực hoặc huyền thoại, được xác định bởi sử sách hoặc không xác định
trong đời thực đều thể hiện lòng dân tôn vinh những tấm gương trung nghĩa, nhân
đức, trọn lòng vì dân vì nước. Câu chuyện về bà Nguyễn Thị Tồn “thân gái dặm
trường” gỡ tội cho chồng trở thành biểu tượng bất khuất, tiết nghĩa của người phụ nữ
Biên Hòa. Truyện Ký lục Trấn Biên Đặng Đại Độ xử tội phái viên của chúa Nguyễn
quấy nhiễu dân lành rồi tự trói tay đi bộ ra Huế chịu tội, được chúa Nguyễn khen là
hành xử đúng đắn... thực là mẫu chuyện tiêu biểu cho nghĩa khí của kiểu người hào
hiệp “kiến ngãi bất vi”. Truyện “Con ngựa hồng” của Cai đội Nguyễn Cư Cẩn tìm
người cứu chủ, rồi chết theo chủ cho thấy lòng chung thủy của người và vật được
người địa phương trân trọng khắc ghi. Truyện Thủ Huồng và Sự tích chùa Hoàng Ân
tuy đậm màu sắc Phật thoại nhưng mang trong nó ý nghĩa nhân đạo sâu sắc rằng, con
người cần được đối xử bình đẳng, không phân biệt sang hèn, kẻ ác có thể tự ngộ, tự
sửa mình bằng công đức để hoàn lương.
w Nhóm chuyện về các nhân vật lịch sử không nhằm để mô tả lịch sử mà để tô
đậm những tấm lòng nhân dân đang hướng theo.
4 Thơ Hùynh Văn Nghệ, NXB Đồng Nai, 1998, trang 289-291.

6.5 Page 55

▲back to top
w Nhóm truyện cổ tích sinh hoạt gồm nhiều truyện biến thể từ truyện cổ tích
phổ biến, mượn cách giải thích về địa danh, hoa trái, hiện tượng xã hội ở Biên Hòa -
Đồng Nai để ngợi ca cuộc sống “vị tình vị nghĩa không vì đĩa xôi đầy” của người địa
phương. Các truyện kể như Sự tích trái sầu riêng, Sự tích trái thơm, Sự tích trái
Sapôchê (hồng xiêm)... đều có chung công thức: trái lạ vốn không mùi, không vị, nó
chỉ có hương vị khi thấm đượm nước mắt nghĩa tình của con người. Còn có thể kể
đến vô số truyện kể dân gian mang theo từ nguyên quán vẫn nguyên ý nghĩa đối với
cuộc sống ở xứ Biên Hòa - Đồng Nai. Đáng lưu ý, thể loại truyện cười được người
Biên Hòa - Đồng Nai ưa thích, tiếp nhận từ tứ xứ. Có lẽ do cuộc sống thoáng mở lạc
quan nên nụ cười vui vẻ dễ được dung nạp ở Biên Hòa - Đồng Nai ít thấy truyện cười
triết lý xoay quanh miếng ăn theo kiểu xứ Bắc, xứ Trung, mà đa phần là nụ cười sảng
khoái về các nghịch lý muôn hình ảnh của những vùng cấm trong sinh hoạt đời
thường (lời tục ý thanh) hoặc nụ cười ngộ nghĩnh do nghịch lý bất thường theo kiểu
“quá đáng” của Ba Phi phổ biến ở Nam Bộ.
1.2 Ca dao - dân ca
Cảm hứng thơ ca của đồng bào dân tộc ít người còn dồi dào, phong phú. Tiếng
Châu Mạ, Xtiêng Châu Ro giàu chất thơ, có khả năng biểu cảm tốt, những lời hát đối
đáp giao duyên trong lao động và những bài ca nghi lễ thường đọng lại thành ca dao
trữ tình. Tiếc là đến nay, chưa có công trình sưu tập đầy đủ. Ở đây chỉ xin nhắc đến
Tămpớt (bài ca trữ tình) của người Châu Mạ. Tămpớt của người Châu Mạ gồm
những khúc hát đối đáp trữ tình của Kôông và K’Yai do Boulbet ghi chép được ở
đồng bào Châu Mạ vùng thượng nguồn sông Đồng Nai(5). Mới đây (năm 1997),
nhóm sưu tập thuộc Chi hội Văn nghệ Dân gian Đồng Nai vừa xác minh, thấy nó còn
lưu truyền đứt đoạn ở ấp Hiệp Nghĩa (Định Quán), và Tà Lài (Tân Phú). Qua câu
chuyện tình yêu của Kôông và K’Yai, có thể thấy luật tục, nếp sống, quan niệm về
tình yêu, hôn nhân của người Châu Mạ xưa. Theo đó cũng có thể thấy đặc điểm hình
thức thơ ca của người Châu Mạ. Ví dụ, lời của chàng K’Yai bày tỏ nỗi khát khao nhớ
nhung
105. Rnom truy yô, jơh bon chrka;
5 J. Boulbet, bản dịch của Nguyễn Yên Tri, tài liệu đánh máy, 1997.

6.6 Page 56

▲back to top
106. Đak til hơ, jơh bou mbring;
107. Ching any tur bou, kông tap xai;
108. Kwaiơm ai ma any tam krơm;
109. Rơm chong toh bo bai;
110. Mpao krơm ai bi ntrony ta but,
111. Krơm bi kut char xo;
112. Bi rbo che klêng.
Tạm dịch:
105. Rượu cần (Rnom) không uống vị men sẽ chua.
106. Nước suối không múc bình sẽ lên meo,
107.Chiêng lâu không đánh sẽ đóng ten đồng.
108. Chúng mình cùng sống, mong ghì lấy nhau,
109. Cặp vú rắn chắc đóng vào ngực anh,
110. Như cái khố lành quấn vào eo lưng,
111. Như lược nhiều chân cài vào búi tóc,
112. Như diều xoắn vặn cùng sợi dây lèo.
Chỉ một đoạn thơ ngắn với vần điệu tự do, liền mạch như trên, nỗi khao khát
của K’Yai đã cho thấy quan niệm về tình yêu hôn nhân của trai gái Châu Mạ, cũng
cho thấy tập tục uống rượu cần, múc nước suối, đánh chiêng đồng bằng tay của nguôi
Châu Mạ xưa. 207 câu hát Tampơk Kôông và K’Yai đều chứa đựng những yếu tố trữ
tình có ý nghĩa hiện thực như thế.
Thơ ca dân gian của người Việt khá phong phú. Đó là lời ca đọng lại từ những
khúc hát trữ tình lâu dần thành câu nói cửa miệng. Phong phú nhất là mảng ca dao
trữ tình mang theo trong hành trang của người Việc đến xứ Biên Hòa - Đồng Nai.
Nhiều câu hát cũ vẫn nguyên vẹn vẻ đẹp ở đất mới:
Đã thương thì thương cho chắc
Đã trục trặc thì trục trặc cho luôn
Đừng như con thỏ đứng ở đâu truông
Khi vui giỡn bóng khi buồn bỏ đi.
(Ca dao Trung Bộ)

6.7 Page 57

▲back to top
Thử chuông cho biết chuông ngân
Thử bạn đôi lần cho biết dại khôn.
(Ca dao Bắc Bộ).
Nhiều câu hát gốc Trung Bộ, Bắc Bộ được biến thể đôi chút trở thành tài sản
gắn với địa phương. Ca dao “Chiều chiều quạ nói với diều...” phổ biến khắp nơi đậu
lại xứ Biên Hòa:
Bao phen quạ nói với diều
Ngã ba Rạch Cát có nhiều cá tôm.
(Rạch Cát: Thuộc Cù Lao Phố, TP Biên Hòa).
Môtif ca dao “ngó lên” phổ biến ở Trung Bộ (Ngó lên Hòn Kẽm đá dừng...
Ngó lên hòn núi Thiên Thai...) cũng thấy xuất hiện ở Biên Hòa - Đồng Nai:
Ngó lên Bình Điện thấy miệng em cười
Tơ duyên muốn kết sợ người đã có đôi
(Núi Bình Điện: Tên gọi khác của núi Bửu Phong).
Ngó lên Châu Thới có đám mây bạch
Ngó xuống Rạch Cát thấy con cá chạch đỏ đuôi.
Nước chảy xuôi con cá đỏ đuôi lội ngược
Anh mảng thương nàng có được hay không ?
Tương tự, có thể dẫn chứng hàng loạt câu ca dao có nguồn gốc “miệt ngoài”
được cải biến cho phù hợp với tâm tình cư dân vùng đất mới :
Đố anh con rít mấy chưn
Cầu ô mấy nhịp chợ Dinh mấy người...
Ba Gioi ăn cá bỏ đầu
Bà Trường thấy vậy xỏ xâu mang về
(Ba Gioi, Bà Trường: Địa danh thuộc xã Phước An, huyện Nhơn Trạch).
Má ơi con má hư rồi
Cái trâm cũng bán vàng đôi cũng cầm
Thương em đưa nón đội đầu
Về nhà má hỏi qua cầu gió bay.

6.8 Page 58

▲back to top
Có thể phân định mảng ca dao biến thể của người Biên Hòa - Đồng Nai với
mảng ca dao nói về Đồng Nai ở chủ thể thẩm mỹ của nó. Xứ Đồng Nai xưa rộng lớn,
trù phú, giàu sức hấp dẫn đối với người đi khẩn hoang cho nên có mảng ca dao mang
nội dung giới thiệu, mời gọi hướng về Đồng Nai:
Đồng Nai gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó thì không muốn về
Đồng Nai gạo trắng như cò
Trốn cha trốn mẹ xuống đò theo anh.
Hết gạo thì có Đồng Nai
Hết củi thì có Tân Sài chở vô.
Làm trai cho đáng nên trai
Phú Xuân đã trải Đồng Nai cũng từng.
Anh đi dao bảy giắt lưng
Nón chiên anh đội băng chừng Đồng Nai...
Mảng ca dao “về Đồng Nai” có giá trị ở chỗ nó in dấu ấn hình ảnh và cảm xúc
của người phương xa đều hướng đến Đồng Nai. Ngay cả câu ca dao quen thuộc:
“Nhà Bè nước chảy chia hai, Ai về Gia Định Đồng Nai thì về”, cảm hứng chủ đạo ở
nó có lẽ cũng là tâm tình của người khẩn hoang chưa quen với vùng đất mới. Đáng
lưu ý là mảng ca dao dân ca nảy sinh từ cảm xúc của người địa phương trong bối
cảnh tự nhiên - xã hội ở xứ Đồng Nai. Mảng ca dao dân ca này số lượng không nhiều
nhưng nó mang ý nghĩa hiện thực và sắc thái địa phương, từ hình thức thể hiện đến
dòng mạch cảm xúc. Có thể nói, ca dao dân ca “đặc sản” của Biên Hòa - Đồng Nai
thường ngắn, vần điệu ít nghiêm nhặt, hay phá cách lục bát, ít chải chuốt ngôn từ, quí
là ở lời bộc trực chân tình, lòng thực thà, rộng mở. Cảm xúc buổi đầu bỡ ngỡ, lạ lùng
trước cảnh vật hoang sơ rõ ràng là của lớp người mới di dân khẩn hoang ở Nam Bộ :
Đến đây xứ sở lạ lùng

6.9 Page 59

▲back to top
Con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh
Đi ra sợ đỉa cắn chưn
Xuống sông sấu ních lên rừng cọp tha...
Rồi qua lao động, chinh phục tự nhiên, làm chủ vùng đất mới, niềm tự hào về
quê hương, và mối quan hệ máu thịt với đất nước, con người ở Biên Hòa - Đồng Nai
dần trở thành dòng mạch chính trong ca dao dân ca:
Trà Phú Hội, nước Mạch Bà
Sầu riêng An Lợi, chuối già Long Tân
Cá bui, sò huyết Phước An
Gạo thơm Phước Khánh, tôm càng Tam An
Biên Hòa có bưởi Thanh Trà
Thủ Đức nem nướng, Điện Bà Tây Ninh.
Rạch Đông nước chảy,
Con cá nhảy con tôm nhào
Hai đứa mình kết nghĩa
Lẽ nào cha mẹ không thương
Đưa em về miễu Bà Cô
Em trả trái bưởi em bù trái thơm...
Bao giờ cạn nước Đồng Nai
Nát chùa Thiên Mụ mới sai lời nguyền
Cả những niềm vui tinh nghịch còn âm vang hương sắc của quê nhà:
Sáng mai đi chợ Biên Hòa
Mua một vải vuông ta
Đem về cho con Hai nó cắt
Con Ba nó may
Con Tư nó đột
Con Năm nó viền
Con Sáu đơm nút
Con Bảy vắt khuy
Anh bước cẳng ra đi

6.10 Page 60

▲back to top
Con Tám níu, con Chín trì
Ớ Mười ơi, sao em để vậy còn gì áo anh?
Đồn rằng con gái Phú Yên
Đồng Nai đi cưới một thiên cá mòi
Chẳng tin giở quả ra coi
Chị Hươu đi chợ Đồng Nai
Ghé qua Bến Nghe còn nhai thịt bò...
Trong quá trình đấu tranh, bảo vệ quê hương xứ sở, Hào khí Đồng Nai được
kết tinh, đọng lại trong ca dao dân ca:
Rồng chầu ngoài Huế
Ngựa tế Đồng Nai
Nước sông trong đổ lộn sông ngoài
Thương người xa (đáo) xứ lạc loài tới đây.
Nhiều khi, qua một câu hát, tính khí lối ứng xử của người Biên Hòa - Đồng Nai
bộc lộ rõ rệt. Có sự nóng nảy, mãnh liệt của con người bộc trực:
Chợ Biên Hòa đèn mờ đèn tỏ
Anh coi không rõ anh tướng đèn màu
Rút dao đâm họng máu trào
Để em ở lại kiếm nơi nào hơn anh.
Có tình cảm bền chặt, ít đổi thay:
Nước Đồng Tranh sóng dồi lên xuống
Cửa Đồng Môn mây cuốn buồm xuôi
Bậu với qua hai mặt một lời
Trên có trời dưới có đất
Nguyện non cạn sông dời cũng chẳng xa.
Cũng có nét cởi mở, bạo dạn, mở lòng của thôn nữ Nam Bộ:
Thấy anh lớn tuổi mà khờ
Lưng em không dựa, dựa bờ cỏ may.
Nỗi niềm cơ cực của người cùng khổ cũng được gởi gắm chân tình qua ca dao
dân ca; như lời than của một công nhân cao su:

7 Pages 61-70

▲back to top

7.1 Page 61

▲back to top
Cao su đi dễ khó về
Khi để trai tráng khi về bủng beo.
Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, ca dao dân ca tiếp tục nâng đỡ tâm
hồn của người kháng chiến. Cuộc sống kháng chiến đã đem lại cho ca dao dân ca
Đồng Nai không khí mới. Người phụ nữ kháng chiến xứ Đồng Nai thoát khỏi thân
phận bị ràng buộc, rụt rè, dám nói thật và nói vui:
Khoai lang lột vỏ hai đầu
Nửa thương anh trung đội trưởng,
Nửa sầu anh chính trị viên.
Bà mẹ của vùng kháng chiến ít chữ nghĩa nhưng lòng đầy lạc quan câu hát đầy
theo hũ gạo nuôi quân:
Sớm mơi (mai) xúc gạo ra vo
Nhớ đoàn Vệ quốc hốt cho nắm đầy
Một tháng là ba mươi ngày.
Mỗi ngày một nắm nhớ rày Vệ quốc quân.
Không khí đóng cọc, ngăn tàu giặc Pháp của chiến khu lòng chảo cũng được
phản ảnh sinh động trong ca dao kháng chiến:
Đốn cây cảm cọc ngăn tàu
Lòng sông Vũng Gấm, Bà Hào, Phước An
Làm cho quân giặc hoang mang
Không cho khủng bố ruồng càn chiến khu.
Và nhiều câu ca dao dưới hình thức “bình cũ rượu mới” thể hiện đặc điểm
kháng chiến ở địa phương:
Khu Đ đi dễ khó về
Lính đi bỏ mạng quan về mất lon.
Ca dao dân ca ở Đồng Nai là gương phản ánh tâm hồn của người Biên Hòa -
Đồng Nai gắn với sự phát triển kinh tế xã hội ở địa phương; nếu sưu tập, tìm hiểu đầy
đủ có thể qua đó hiểu được mọi cung bậc tình cảm của con người mà lịch sử giấy bút
chưa thể ghi nhận.
1.3. Tục ngữ phương ngôn

7.2 Page 62

▲back to top
Hiện chưa có đầy đủ tài liệu để có thể nói về tục ngữ, phương ngôn của đồng
bào các dân tộc Châu Mạ, Châu Ro, Xtiêng ở địa bàn Đồng Nai. Nhóm dân tộc này
chưa có chữ viết, cho nên kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm sống và tập quán xã hội
ắt được truyền đời chủ yếu qua lời nói ngắn gọn, có vần điệu dễ nhớ hình thành tục
ngữ, phương ngôn trong kho tàng văn hóa dân gian địa phương. Như người Châu Ro
chẳng hạn, họ truyền nhau kinh nghiệm quan sát tự nhiên để đoán định thời tiết: “Ray
nhim Đaq Gung char” hoặc “Gungchar Đaq nhim Ray” (nghĩa là cây anh (to) ven
sông Ray khóc cây em (cỏ tranh) ở núi Chứa Chan là vào mùa mưa). Cũng vậy họ
thấy ếch kêu, ve kêu, đuôi kì đà đen đều, đầu cắt kè chuyển màu xanh, xương ếch
chuyển màu đen…thì tiết trời sắp có mưa. Trong ứng xử xã hội, người Châu Ro
khuyên nhau giữ nếp sống “làm em chịu lành lành anh chịu cả” và ứng xử chừng
mực: “vui cười quá đáng thì sống trước mắt, chết sau lưng”.
Luật tục kinh nghiệm của người Châu Mạ chủ yếu cũng truyền khẩu qua lời
nói. Kinh nghiệm sống cho thấy:
Rnom any yô, jơh bou chrka.
Đak til hơ, jơh bou mbring
Ching any tur bou, kông tap xai...
(Rượu cần không uống thì chua men
Bình không mức nước thì lên men
Chiêng để lâu không đánh thì đóng ten đồng)
Bởi vậy, đồ vật phải dùng, yêu phải cưới, con người phải làm việc. Luật tục
truyền đời phải nhớ:
Lưỡi mác phải có cán
Muốn ngủ phải có mền
Muốn cưới xin phải có lễ vật và trao vòng tay.
Luật tục cũng nghiêm cấm không được ngoại tình:
Ăn ớt rát họng
Ăn sả rát yết hầu
Ngủ với vợ người khác có chuyện!

7.3 Page 63

▲back to top
Tìm hiểu về tục ngữ, phương ngôn của đồng bào dân tộc ít người ở Đồng Nai
là công trình lớn, còn ở phía trước; ở đây chỉ muốn ví dụ để cho thấy nó có vai trò
quan trọng, như là bộ bách khoa thư không bằng văn tự trong đời sống tinh thần của
đồng bào.
Người Việt ở Biên Hòa - Đồng Nai kế tục vốn tri thức và tiếng nói của cha ông
ở nguyên quán cho nên kho tàng tục ngữ, phương ngôn về kinh nghiệm sản xuất qui
tắc ứng xử ít có khác lạ so với xứ Bắc, xứ Trung. Tuy nhiên, có những kinh nghiệm
sống hình thành từ cuộc sống cụ thể ở Biên Hòa - Đồng Nai cũng được truyền miệng
qua bao thế hệ. Đó là những kinh nghiệm trong việc sản xuất từ việc dự báo thời tiết,
mùa vụ đến việc chọn giống nuôi trồng:
- Thợ mộc không ghế, thợ rèn không dao...
Hoặc là những kinh nghiệm thưởng thức sản vật địa phương:
- Cơm Nai Rịa, cá Rí Rang.
- Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai...
- Trầu bai Bến Cá, thuốc lá Tân Huệ.
- Dưa đàng đít, mít đàng đầu.
- Ăn chuối đàng sau, ăn cau đàng trước
- Nhất đầu thỏ, nhì mỏ lươn.
- Nhất rún chị sui, nhì đuôi rắn hổ...
Hoặc là những kinh nghiệm ứng xử xã hội hình thành tập quán cộng đồng:
- Đi xe coi ách coi nài
- Coi trong bộ ví coi ngoài bộ tun
- Họ hàng thì xa, sui gia thì gần
- Đất mình thì đội dù qua
- Sang đất người ta thì hạ dù xuống
- Tham ăn một miếng mang tiếng cả đời.
Nhiều khi tục ngữ phương ngôn Biên Hòa - Đồng Nai khái quát một hiện
tượng xã hội, một sự kiện lịch sử để dễ nhớ; ví dụ để nhắc về thầy võ ở Tân Khánh
diệt cọp (trước thuộc Tân Uyên, Biên Hòa): Cọp Bàu Lòng Võ Tòng Tân Khánh, hay

7.4 Page 64

▲back to top
nói về quan hệ tương xứng giữa hai miền: Gái Đồng Nai, trai Thuận Hóa, hoặc lưu ý
những mối hiểm nguy: Cọp Biên Hòa, ma Rừng Sác...
Tục ngữ phương ngôn mang sắc thái của Biên Hòa - Đồng Nai hiện chưa được
ghi chép đầy đủ có bao nhiêu mặt sinh hoạt của con người là có bấy nhiêu lĩnh vực
đời sống đã đi vào kho tàng tục ngữ, phương ngôn, nó góp phần làm giàu thêm vốn
sống, làm phong phú vốn tiếng Việt ở địa phương.
2.Nghệ thuật truyền thống
Do mới hình thành từ sự hội nhập nhiều lớp cư dân cách đây hơn ba thập kỷ, ở
Biên Hòa - Đồng Nai không thấy có làn điệu dân ca nào đặc thù nhưng lại có gần như
đủ giọng dân ca của xứ Trung, xứ Bắc. Quan họ, ca Huế, ví dặm... hiện vẫn có đất
.sống ở các cụm dân cư còn da diết với cố hương. Tiếng hát ru của các bà má Biên
Hòa - Đồng Nai đủ giọng ba miền Nam - Trung - Bắc. Các điệu hò, lý ở đồng ruộng
trên dòng sông hay ở bãi mía, sân đình thường lộ rõ âm điệu của xứ Thuận, xứ
Quảng. Có thể nói, hội nhập, tổng hợp, dung hòa là đặc điểm của diễn xướng nghệ
thuật truyền thống ở xứ Biên Hòa - Đồng Nai. Có hai dạng diễn xướng nghệ thuật
truyền thống khó phân định rạch ròi: diễn xướng nghệ thuật trong sinh hoạt thông
thường và diễn xướng thực hiện nghi lễ.
Trong sinh hoạt thông thường, người Biên Hòa - Đồng Nai xưa có sinh
hoạtnghệ thuật: Hò hát, lý, kể vè, nói thơ, nói tuồng, đờn ca tài tử... nhằm giải trí
gian lưu văn hóa, thư giãn tinh thần và tăng hứng thú lao động
Gia Định Thành thông chí của Trịnh Hoài Đức có ghi ở Cù Lao Phố xưa,
ngày tết có hát sắc bùa: “Đêm 28 tháng chạp, na nhân (tục danh nâu sắc bùa) đánh
trống, gõ phách, một bọn 15 người đi dọn đường, trông nhà hào phú nào mở cửa ngõ
thì vào dán lá bùa nơi cửa niệm thần chú, rồi nổi trống phách lên, ca xướng những
lời chúc mừng, người chủ nhà dựng cỗ bàn chè rượu khoản đãi và gói tiền thưởng tạ
xong nhà này lại qua nhà khác, cũng làm như vậy cho đến chiều buổi trừ tịch mới
thôi, ấy là có ý đuổi tà tống ma, trừ cũ rước mới vậy.
Đó là hình thức diễn xướng tổng hợp với chức năng chúc xuân, bắt đầu từ 28
tháng chạp đến rằm tháng riêng hàng năm, có nguồn gốc liên quan đến tục hát xiếc
bùa của người Mường theo đoàn ngươi di dân vào Đồng Nai, phổ biến đến đầu .thế

7.5 Page 65

▲back to top
kỷ XX, hiện đã thất truyền ở Biên Hòa - Đồng Nai, còn thấy bảo lưu ở một số xã
thuộc tỉnh Bến Tre.
w Hò là hình thức hát đối đáp trong lan động có người cất giọng diễn lời
(xướng), tập thể nối theo phụ họa (xô). Phổ biến ở Biên Hòa - Đồng Nai là loại hò
cấy, tức điệu hò của vạn cấy. Xưa, dân cấy thường đi cấy tập thể do đầu công tập hợp
và điều hành. Đêm khuya, tiếng tù và của đầu công thổi từng hồi, báo hiệu các công
cấy thức giấc, nấu cơm tập trung ở điểm hẹn cùng đi ra đồng. Đến đồng ruộng, nếu
thiếu công cấy, lại thổi tù và “còn thiếu...” để mời gọi thêm công hoặc nhờ điều phối
công từ vạn cấy khác. Không khí cấy tập thể đông vui, nảy sinh nhu cầu hò hát.
Giọng hò cấy tự do, âm điệu na ná hò mái ố của miền Tây nhưng có nét riêng của
đồng ruộng Đông Nam Bộ. Lời hò là lục bát, song thất lục bát hoặc lục bát biến thể
được mở đầu bằng giọng hò dài “Hò... hơ... hớ... ơ... ơ”, giữa câu ngắt đoạn băng
đoạn hò ngắn “hò… ơ... hò” kết thúc bằng giọng xuống hơi kéo dài, giọng xô tập thể
nối theo “hò khoan... hò”. Dứt giọng xô của câu đối, giọng hò đắp cất lên. Lời hò sau
phải tiếp vần câu hò trước. Nếu bí vần là bị đứt, coi như thua cuộc. Lời đáp câu đối
nối nhau, bên nam bên nữ, tốp này tốp kia cùng vào cuộc chơi có người hò cái, có
người nhạc câu, tập thể hò phụ họa. Cứ thế cuộc hò kéo dài, có khi liên tục mấy ngày
liền. Nhiều người mê hò mà đến mê nhau. Các vùng Cù Lao Phố (Biên Hòa), cù lao
Thành Hội (Tân Uyên), Bình Lục (Vĩnh Cửu); Phước Hòa (Long Thành), Hiệp
Phước (Nhơn Trạch)... đều có những giọng hò nổi tiếng, thường giao lưu đối đáp với
nhau, hiện nhiều nghệ nhân ở lứa tuổi 50, 60 trở lên còn ấp ủ nhiều kỷ niệm đẹp về
một thời hò cấy. Ví dụ, một đoạn đối đáp hò cấy ghi được ở cù lao Thành Hội:
- Nam: (Hò... hơ... ơ... ớ... ơ)
Tay cầm bó mạ rẻ hai (hò... hơ…”
Miệng hò tay cấy/ chân tui thài lai ngoẹo... nàng.
Giọng xô nam: (Hò ....Khoan... hò...)
- Nữ: (Hò... hơ... hớ... hơ...)
Mạ non khéo cấy thẳng hàng (hò... hơ... hớ...)
Hỏi người quân tử đá vàng hay... chơi
Giọng xô nữ (Hò... khoan... hò..)

7.6 Page 66

▲back to top
- Nam: (Hò... hơ... ơ....ớ... ơ..)
Ngó lên Bình Điện thấy miệng em cười (hò... hơ…”
Tơ duyên muốn kết/ sợ người đã có... đôi.
Giọng xô nam: (Hò... hoan... hò..)
Nữ: (Hò... hơ... hớ.... Hơ...)
Ván kia lỡ đóng thuyền rồi (hò... hơ... hơ...)
Hỡi người quân tử buông lời nữa... không ?
Giọng xô nữ: (Hò... khoan... hò…)
Sau những lời hò dạo, thưa chào kết nối, ướm hỏi, cuộc hát đi vào nội dung đố
đáp. Sự dí dỏm, thông minh, tài ứng đối bộc lộ cả ở giai đoạn này. Ví dụ:
- Nữ:
Đồn anh hay chữ lắm tài
Cho em hỏi thử một vài câu ca
Anh người xứ ở Biên Hòa
Đố anh biết bưởi thanh trà đâu ngon
Thuốc đâu đằm khói mê hồn
Đá đâu nước chảy vẫn còn trơ trơ?
- Nam:
Hỏi thơ thì đáp bằng thơ
Đá Hàn nước chảy trơ trơ vẫn còn
Tân Huệ thuốc lá thơm ngon
Bưởi thanh thì chẳng đâu hơn Tân Triều
- Nữ:
Tiếng anh ăn học đã nhiều
Cho em hỏi thử cây điều mấy bông?
- Nam:
Bậu về bắt hết cá sông
Qua đây biết được mấy bông cây điều.
Cùng với hò cấy còn có hò chèo xuồng (còn gọi hò chèo ghe), hò giã gạo. Theo các
nghệ nhân cao tuổi, thực chất, hò chèo xuồng, hò giã gạo là biến thể của hò cấy trong

7.7 Page 67

▲back to top
môi trường lao động chèo xuồng hoặc giã gạo; có khác hò cấy chút ít ở giọng hò
ngân dài hơn, ít giọng xô và một số lời hát theo văn cảnh.
Cũng theo hình thức lao động mà ngoài hò chèo ghe còn có hò đò dọc của giới
thương hồ buôn bán đường dài và hò rỗi của nậu ghe chuyên trở cá. Còn có bao nhiều
điệu hò nữa ở Biên Hòa - Đồng Nai xưa? Hiện chưa có đủ điều kiện để trả lời câu hỏi
ấy.
w Lý là hình thức diễn xướng những câu hát ngắn, ngẫu hứng thành làn điệu,
một loại hình diễn xướng phổ biến của Nam Bộ:“Nam lý, Huế hò, Bắc thơ”. Theo ký
ức của người cao tuổi, ngoài các bài lý phổ biến ở Nam bộ, xứ Biên Hòa - Đồng Nai
từng có nhiều người hát lý rất hay, nhưng không hiểu do đâu đã mất hẳn, hiện thưa
tìm ra dấu vết. Bài Lý Đồng Nai âm điệu thế nào không rõ, chỉ còn lại phần lời không
đầy đủ:
Gạo Đàng Ngoài: Bảy tiền một bát
Gạo Đàng Trong: Bảy bát một tiền
Anh không tin thì anh vô Đồng Nai mà coi
Có quân tập trận có chòi bắn bia
Có con ngựa hồng mao tiền mao hậu
Quan võ thầy đầu đội mão đai.
Bà Ba Dẹt ở xã Long Tân, huyện Nhơn Trạch còn hát được điệu lý lu là, lý trèo
lên với các câu hát nửa quen, nửa lạ, ví dụ:
Lý lu là:
Ai đem con sáo sang sông
Cho nên con sáo ăn buồng chuối tiêu.
Lý trèo lên:
Trèo lên cây khế mà rung
Khế rụng đùng đùng không biết khế ai
Khế này là khế chị Hai
Khế chưa có trái, chị Hai có chồng.
Xem ra, lý lu là và lý trèo lên có thể là biến thể của các điệu lý đồng dạng phổ
biến của Nam Bộ.

7.8 Page 68

▲back to top
w Kể vè, nói thơ, nói tuồng là hình thức diễn xướng tự sự bằng lối “nói vãn”
có gõ nhịp hoặc không gõ nhịp, nhằm thể hiện các bài vè, truyện thơ, tích tuồng thuộc
nằm lòng. Ở Biên Hòa - Đồng Nai xưa lưu truyền nhiều bài vè. Phổ biến là các bài vè
quen thuộc (nguyên bản hoặc dị bản) lưu truyền cả nước như: Vè Chàng Lía, vè
Thông Chánh, vè Con cút, vè Bài tới, vè Con gái lấy thợ câu cua, vè Nói ngược, vè
Nói dóc, vè Trăm thứ bánh... còn có những bài vè ứng tác tại địa phương kể về các sự
việc đáng chú ý trong đời thường, có thể nêu: Vè Xã Những mất vợ (ông Võ Văn Độc
ở xã Long Phước, huyện Long Thành kể, vè Hương thân Cẩn (bà Sáu Nhâm ở xã Phú
Hội, huyện Nhơn Trạch kể), vè Rượu (ông Chín Lát ở xã Long Tân, huyện Nhơn
Trạch kể)...
Qua nội dung của bài vè được kể, có thể tái hiện một phần của đời thực thủa
xưa, ví dụ như bài vè Các đường lục tỉnh được ghi chép trong Di cảo của Trương
Vĩnh Ký(6)
…Đến đây buôn bán một khi
Khúc đà chợ Búng, sang đồng Lái Thiêu
Rạch Tra nhà ở cheo leo
Hóc Môn là xứ vườn trầu nghinh ngang.
Dầu Một, Chợ Thủ, Ba Càng
Quanh co Đồng Phú, nhộn nhàng Võ sa
Bến Cá xóm ở đông nhà
Xưa kia Đồng Ván trời đà cao xây.
Chợ Đồn đá dợn nước trào,
Hoặc khi ngó thấy Cù lao Ăn Mày
Hòn núi Châu Thời cao thay
Kiểng Dương qua khỏi xuống ngay Nhà Bè.
ê
Tiếng đồn các lái Đồng Nai
Tháng giêng đóng ván, tháng hai đóng thuyền
Tháng ba chở gạo mà chuyên

7.9 Page 69

▲back to top
Tháng tư hành thuyền rủ rác mọi nơi.
Kể từ Rạch Cát, Rạch Dơ
Sài Gòn, Bến Nghé tựa nơi Nhà Bè
Rủ nhau lãnh thẻ chiêu đề
Ghe nào bạn nấy ta hèo kéo theo.
Thơ được kể ở Biên Hòa xưa thường là truyện thơ Nôm: Lục Vân Tiên, Lâm
Sanh - Xuân Nương, Phạm Công - Cúc Hoa, Chàng Nhái Kiểng Tiên, Trần Minh khố
chuối... hoặc các truyện cổ tích Tàu diễn ca, như: Tống tửu Đơn Hùng Tín, Tiết
Cương phục nghiệp... Đầu thế kỷ XX, có thêm truyện thơ lịch sử xã hội thâm nhập từ
miền Tây: Thơ Sáu Trọng Hai Đẩu, Thơ thầy Thông Chánh, Năm Tỵ, Sáu Nhỏ... Nói
tuồng thường là độc diễn các trích đoạn tuồng tích Tàu hoặc tuồng tích dân gian, như:
Văn Doan, Chàng Lía, ông Trượng - Tiên Bửu... Hình thức kể vè, nói thơ nói tuồng
thường diễn ra dưới trăng, trong đêm vắng, lúc thư thả hay những buổi hội, giỗ... Đó
là món ăn tinh thần của người cao tuổi đồng thời là thế giới kỳ ảo trong trí tưởng
tượng của tuổi thơ.
w Đồng dao là một dạng hát kể vè gắn với trò chơi tập thể của trẻ em. Nhiều
bài hát đã mất nghĩa ngôn từ nhưng còn ý nghĩa văn hóa trong cách chơi, cách diễn
đạt thể hiện tính hồn nhiên của tuổi thơ. Qua khảo sát thực tế, nhận thấy nhiều bài
(hoặc dị bản) đồng dao quen thuộc ở Trung Bộ, Bắc Bộ có mặt từ lâu đời ở Biên Hòa
- Đồng Nai, phổ biến là các bài: Tập tầm vông, Chơi với quấc, vè Nói ngược, Cu cu
chăn chặn, Con cò Xanh, Xích đu tiên, Bắt con kỳ nhông... Đồng dao tập cho trẻ em
hòa mình vào tập thể, quen với luật chơi bình đẳng, tự giác.
w Đờn ca tài tử là dạng sinh hoạt của các nhóm theo nghiệp đờn ca bài bản tài
tử có nguồn gốc từ nhạc sư Ba Đợi (Nguyễn Quang Đại) phổ biến ở Nam bộ từ đầu
thế kỷ XX. Ở Biên Hòa, Nhơn Trạch, Vĩnh Cửu xưa có người theo học các thầy đờn
ca tài tử tại Sài Gòn, Cần Đước... về lập nhóm, sắm nhạc, họp thành ban nhạc, đờn ca
các bản cổ điển như là sinh hoạt âm nhạc thính phòng của dân gian. Từ đờn ca tài tử
đến ca ra bộ, sau này phát triển thành ca cổ, cải lương.
6 Theo tài liệu của Huỳnh Ngọc Trảng, bản chép tay từ “Di cảo Trương Vĩnh Ký” ký hiệu VĐ35/11, Thư viện thong tin
Hà Nội.

7.10 Page 70

▲back to top
w Hát tuồng (còn gọi là hát bội) là hình thức diễn xướng nghệ thuật, tuồng
truyền thống vốn phát triển đặc sắc ở Trung Bộ; có lẽ nó đã phổ biến ở Trấn Biên khá
sớm, và có điều gì đó đặc sắc khiến vào khoảng năm 1761, Chúa Nguyễn sai người
vào Trấn Biên tìm bắt ca nhi đem về phụng sự phủ Chúa(7). Tuồng hát ở Nam Bộ
thường dựa theo tích Tàu, sau có soạn thêm một số tuồng Việt lấy tích trong lịch sử
chống ngoại xâm của dân tộc; xoay quanh các chủ đề ca ngợi trung, hiếu, tiết, nghĩa.
Đoàn hát do dân tự lập, lưu diễn ở các thôn làng, có diễn trích đoạn ở đám tang theo
yêu cầu của gia chủ.
Như gánh hát bội của Bầu Làm ở xã An Hòa (huyện Long Thành) chẳng hạn.
Họ hàng, bạn bè trong làng hợp lại mua sắm, tự soạn kịch bản, tự diễn tập, mùa hát đi
diễn khắp miền Đông, mùa ruộng phân tán làm ăn, diễn được hơn 20 vở tuồng tự
soạn cả tích Tàu tích Việt, biết thực - hiện nghi lễ xây chầu, đại bội theo tục cổ
truyền, đã trụ vững nhiều chục năm qua. Từ khi kịch nghệ cải lương phát triển, hát
bội dần dần vắng bóng ở sinh hoạt giải trí thông thường, chỉ còn phổ biến trong các
lễ cúng Kỳ yên gắn với nghi lễ xây chầu, đại bội.
Ts. Huỳnh Văn Tới
7 Đại Nam nhất thống chí, tập 2, NXB Thuận Hóa, 1992, trang 72.

8 Pages 71-80

▲back to top

8.1 Page 71

▲back to top
Tín ngưỡng dân gian
Của cư dân người Việt ở Đồng Nai
Với tỷ lệ đa số (trên 90% dân số) trong tỉnh, người Việt ở Đồng Nai đóng vai
trò quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội ở địa phương. Tín ngưỡng dân gian của
người Việt ở Đồng Nai là một phức hệ bao gồm nhiều nhân tố hiện gắn bó thiết thực
với đời sống tinh thần của người địa phương, thể hiện trong sinh hoạt gắn với vòng
đời người (việc sinh, dưỡng, tang, cưới, mừng thọ...), với sinh hoạt cộng đồng (thờ
cúng trong nhà, cúng định, cúng miếu, lễ chùa...). Qua khảo sát tín ngưỡng dân gian
của cư dân Việt trên địa bàn Đồng Nai, bước đầu chúng tôi có những nhận xét như
sau:
1. Nguồn gốc và các nhân tố hợp thành
1.1. Tín ngưỡng dân gian của người Việt gốc Trung Bộ là cốt lõi Với kinh
nghiệm sản xuất và “ông bà”, “thần linh” mang theo, cư dân Việt có vốn liếng để
hòa nhập vào vùng đất - mới, không phải bắt đầu bằng “cảm hứng thần thoại” mà
bằng tài sản tinh thần đã định hình. Với tài sản ấy, người Việt đã tồn tại với tư cách là
chủ thể xã hội, không phải là nô lệ của tự nhiên. Niềm tin và thần thánh mang theo
được ứng dụng ngay vào đời sống mới và nhanh chóng có trú sở thích hợp. Bàn thờ
gia tiên, tục thờ thần bản gia, thần độ mạng trong nhà được hình thành cùng lúc với
việc tạo ra mái nhà: cái đền, cái miếu cũng sớm định hình dễ dàng theo thiết chế đọng
trong trí nhớ; kinh nghiệm và lễ tục về sinh dưỡng, hôn nhân, tang tế, chập giỗ...
được vận dụng cho vòng đời người mới theo bài bản cũ mang theo. Trải nghiệm qua
thực tế khoảng 3 thế kỷ, tín ngưỡng dân gian cư dân Việt ở đồng bằng Bắc Bộ vẫn
còn cốt lõi trong sinh hoạt của cư dân Việt ở Đồng Nai và chắc chắn ở nhiều vùng
khác cũng vậy. Ghi chép của Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú và Trịnh Hoài Đức trong
tác phẩm của các ông cũng cho thấy lớp cư dân Việt xưa sớm vào khai thác Gia Định
- Đồng Nai đa phần có nguồn gốc Trung Bộ. Như vậy tín ngưỡng dân gian truyền
thống của cư dân Việt từ cái nôi là đồng bằng Bắc Bộ chuyển cư vào Đồng Nai - Gia
Định đã trải qua trạm trung gian “nhuộm màu Trung Bộ”. Điều này có thể được

8.2 Page 72

▲back to top
chứng minh qua những biểu hiện trong tín ngưỡng dân gian có nguồn gốc Bắc Bộ
nhưng in đậm dấu hiệu của Trung Bộ. Gói đường phèn, đường phổi trên bàn thờ ông
bà trong ngày Tết rõ ràng là một sự hoài niệm về xứ Quảng. Những nhân thần nguồn
gốc Trung Bộ như: Bùi Tá Hán, Lương Văn Chánh, Nguyễn Phúc Diễn... thường
được mời gọi trong văn cúng đình lai lịch của nữ thần Dinh Cô, gốc tích Hát Bả tạo,
tục thờ cúng cá Ông, tàn tích của lễ cúng Tá thổ, uy thế của bà Chúa Ngọc, bà Chúa
Động... cùng với âm vang của các vị thần biển khác trong tín ngưỡng dân gian chứng
tỏ rằng lớp tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Trung Bộ đã tác động trực tiếp đến
Đồng Nai trong đó in cả dấu ấn lớp “tín ngưỡng nguồn” ở đồng bằng Bắc Bộ . Việc
thờ Quốc tổ Hùng Vương, Lạc Long Quân, mẹ Âu Cơ, Trần Hưng Đạo và hát chầu
văn ở miếu thờ Liễu Hạnh Công chúa… cũng là biểu hiện (gần như nguyên dạng) của
tín ngưỡng dân gian truyền thống của cư dân Việt ở đồng bằng Bắc Bộ nhưng là lớp
văn hóa mới du nhập từ đầu thế kỷ XX đến nay, chủ yếu gắn với nhóm cư dân Việt
“mộ phu” và “di cư” hiện còn da diết với cố hương.
Tín ngưỡng dân gian truyền thống của cư dân Việt gồm nhiều lớp xuất phát
chung một gốc, đến với Đồng Nai qua hai hệ (Bắc Bộ và Trung Bộ) đã tạo ra mẫu số
chung trong sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai; đó
là chất kết dính cư dân Việt ở Đồng Nai với cội nguồn, là hạt nhân, là “gien nội sinh”
trong quá trình giao lưu, tích hợp tín ngưỡng của các tộc người khác.
1.2 Tín ngưỡng của người Hoa in đậm dấu ấn trong tín ngưỡng dân gian của
người Việt ở Đồng Nai. Suy cho cùng, tín ngưỡng dân gian truyền thống của dân tộc
Việt hóa thành tài sản tinh thần của cư dân Việt từ lâu đời. Ở đây muốn nói đến hệ tín
ngưỡng của người Hoa mới nhập cư từ thế kỷ XVII trở lại dây.
Ở Đồng Nai, tập đoàn người Hoa xuất hiện gần như là cùng lúc với quá trình
khai phá lập làng của cư dân Việt với thế và lực chẳng thua kém, nếu không nói là
hơn về quân sự, thương mại và tiềm lực kinh tế. Người Hoa đã sớm khẳng định vai
trò của mình ở địa phương, họ khuyến khích thương mại và nghề thủ công, phát huy
lực lượng quân sự, thiết lập hệ thống trú sở cho mình lẫn thần linh. Người Hoa có
truyền thống sống có tổ chức, biết tương trợ nhau, bảo tồn tín ngưỡng của mình trong
quan hệ với dân tộc khác. Với những đặc điểm như thế, người Hoa ở Đồng Nai có

8.3 Page 73

▲back to top
đầy đủ điều kiện để chi phối, thậm chí làm chủ sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của cư
dân Việt ở Đồng Nai. Nhưng điều ấy đã không xảy ra. Những di sản tín ngưỡng của
người Hoa mang theo hiện dễ tìm thấy trong đời sống sinh hoạt của người Đồng Nai:
tục đốt nhiều vàng bạc, thờ cúng các vị thần Thiên Hậu, Cửu Thiên Huyền Nữ, Quan
Thánh Đế quân, Ngũ phương Ngũ thổ long thần, Tiền Hậu địa chủ Tài thần, bà mẹ
Thai sanh.. Nhưng đó là sự bổ sung chứ không phải thay thế.
Tín ngưỡng của người Hoa nhập cư vào Đồng Nai không phải là triết lý Nho
giáo mà là những yếu tố mới mẻ của nền văn minh nông nghiệp quen thuộc gắn với
đám thương nhân bình dân cùng nỗi niềm tha hương của cư dân Việt, cho nên hai hệ
tín ngưỡng dễ dàng chan hòa, dung hợp lẫn nhau, dần dần cư dân Việt và người Hoa
chung một thần điện dân gian, đến mức khó phân biệt cội nguồn Hoa - Việt Những
hình tượng Phật bà Quan âm, Ngũ Hành nương nương, Thổ thần, Thổ địa, Chúa Tiên,
Chúa Ngọc, Quan Công, Táo quân... cùng có sức sống ngang nhau trong tâm linh
người Hoa cũng như cư dân Việt. Các vị thần Việt có họ hàng với Hoa là hiện tượng
phổ biến ở Nam Bộ nhưng không phải vì vậy mà phủ nhận “Việt tịch” của các vị
thần ấy.
Tuy nhiên, sự dung nạp yếu tố tín ngưỡng của người Hoa vào tâm linh cư dân
Việt không phải hỗn tạp mà là tiếp thu có chọn lọc và trong chừng mực nhất định.
Người Hoa với tài lực dồi dào đã dựng lên được trú sở bề thế cho thần thánh của
mình như: Thất thủ Quan Võ miếu (thờ Quan Thánh Đế), ở Cù Lao Phố, Phụng Sơn
tự (thờ Quảng Trạch Tôn vương) ở phường Quyết Thắng, chùa Bà Thiên Hậu ở Bửu
Long, chùa Ông ở Phước Thiền… tuy nhiên không vì thế mà uy thế của các vị thần
linh của họ trùm bóng lên thần điện của cư dân Việt. Những vị thần gốc Hoa ấy khi
được dung nạp vào tín ngưỡng cư dân Việt, được thờ ở nhà hay ở đình, miếu đều
trong sự hài hòa, bình đẳng với thần ảnh gốc Việt, thậm chí họ sẽ bị lẻ loi khi xa dời
thần điện của cư dân Việt. Do vậy, quá trình Việt hóa các thần thánh của người Hoa
nhanh chóng trên cơ sở tín ngưỡng cư dân Việt đã có nền móng và luôn sẵn chỗ để
dung nạp thành tố mới.
Mặt khác, cư dân Việt ở Đồng Nai luôn có ý thức không sao chép nguyên bản
của người Hoa, thường cải biến hay dừng lại ở một mức độ nào đó để tín ngưỡng của

8.4 Page 74

▲back to top
mình không bị hòa tan hoặc biến dạng. Thần Tài ngồi riêng một “ghế” ắt dễ nhầm
với Tài Bạch Tinh quân của người Hoa, nhưng khi thành một hệ với ông Địa, thì
không thể nhầm “quốc tịch”. Quan niệm về tục lệ tang chế cũng na ná như nhau,
nhưng nhìn hướng đầu hòm (quay đầu vào hay quay đầu ra) là đủ biết Hoa hay Việt.
Tương tự, xem cách xử lý chén rượu cúng (uống hay đổ ra đất) cũng phân biệt đâu là
cách của cư dân Việt.
Trong khi tài sản tinh thần mang theo không đủ để xử lý các tình huống mới lạ
ở vùng đất mới, triều Nguyễn lại không tạo được gì thêm cho thần dân khai phá, thì
tín ngưỡng của người Hoa đã đem đến cho cư dân Việt những hình ảnh mới làm
phong phú thêm, đa dạng hơn những sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng tại Đồng Nai.
Việc tiếp nhận yếu tố Hoa và sử dụng nó làm tài sản của mình đã thể hiện bản lĩnh và
sức sống của tín ngưỡng dân gian truyền thống của cư dân Việt luôn bền vững trong
giao lưu văn hóa và tiến trình phát triển.
1.3. Tín ngưỡng của người bổn địa là thành tố quan trọng trong việc hình
thành tín ngưỡng dân gian của người Việt ở Đồng Nai. Đồng Nai là cái đuôi của dải
Trường Sơn về phía Nam, là nơi giao thương giữa miền ngược với miền xuôi ắt
thường xuyên diễn ra quan hệ trao đổi cũng như giao lưu văn hóa. Địa bàn trung du
hiện ở Đồng Nai hiện nay còn có những tộc người: Châu Mạ, Xtiêng, Châu Ro,
K’ho… những những tộc người thiểu số này còn ở trình độ thấp sống du canh du cư,
ít truyền thống văn hóa; trong đó chỉ có người Châu Mạ để lại nhiều dấu vết có quan
hệ với cư dân Việt nhiều nhất. Theo truyền thuyết người Châu Mạ đã từng là chủ
nhân của vùng đất thượng du dọc sông Đồng Nai Thượng, từng có những cuộc buôn
bán, giao tranh với người Chăm, sau đó phải nhường bước rút lên vùng cao, để lại
những “Gò Mọi, Đa Đờng, Đạ Dung...” cho cư dân người Việt làm chủ. Tiếc là
những tài liệu ghi chép trước đây thường gom các dân tộc thiểu số vào tên gọi “Man,
Mọi, Thượng” khiến đời sau khó phân biệt, chỉ hiểu đại khái đó là cư dân các tộc ít
người ở Tây Nguyên. Tàn dư tín ngưỡng của họ để lại trong cư dân Việt không nhiều
lắm, chỉ thấy bóng dáng của “ó ma lai”, trong kiêng kỵ của người phụ nữ sinh nở và
thấp thoáng uy lực của “nữ thần lúa” trong vai trò của người phụ nữ trong việc chọn
giữ bông lúa giống, “đón mẹ lúa” vào bồ...

8.5 Page 75

▲back to top
Di chỉ khảo cổ học lại cho thấy chủ nhân tài hoa của những mộ đá Hàng Gòn,
đàn đá Bình Đa, qua đồng Long Giao, miếu ông Chồn gần như có mặt khắp nơi
nhưng là những lớp người (có thể) gắn với nền văn hóa Phù Nam chỉ còn tên gọi qua
suy luận từ kết quả khai quật của các nhà khảo cổ. Cho nên, hiện chưa có cơ sở để
nêu ý kiến nào đó về mối quan hệ trong tín ngưỡng giữa người Phù Nam bổn địa xưa
với cư dân Việt.
Ngươi Khmer là lớp cư dân bản địa còn lưu nhiều vết tích trong sinh hoạt văn
hóa tín ngưỡng của cư dân Việt ở Đồng Nai. Sử sách cho thấy, người Khmer có mặt
ở Nam Bộ sớm hơn cư dân Việt; đến năm 1888 còn 10.673 người ở tỉnh Biên Hòa
nhưng trước đó họ là chủ nhân cả một vùng rộng lớn. Không rõ đền Ngũ Công ở đầu
nguồn Băng Bột mà Trịnh Hoài Đức cho rằng “Những thần ấy là lấy tên 5 cái thác
hiểm mà theo như Man ngữ để xưng hô” có phải thuộc hệ tín ngưỡng của người
Khmer không, cứ theo tên gọi: Tà Mã quận công, Tà Môn quận công, Tà Nông quận
công, Tà Việt quận công, Tà Khuông quận công thì có thể đoán định họ hàng với ông
Tà (Niek Ta), một vị thần đất của người Khmer.
Với ông Tà mang lý lịch người Khmer, cư dân Việt ở Đồng Nai có thêm một vị
thần đất “ông Địa giữ nhà, ông Tà giữ ruộng”, và khi cần thiết để phù trợ việc gì đó
ông Tà cùng ông Địa được tin cậy, nhờ vả bằng lời khấn: “Váy ông Tà, ông Địa”. Từ
đó Niek Ta thâm nhập vào thần điện miếu Thổ thần cư dân Việt với bộ dạng là hòn
đá lạ. Tàn dư tín ngưỡng của người Khmer còn biểu hiện ở Linh Sơn Thánh Mẫu với
lai lịch một nữ thần Khmau của người Khơmer, tục gọi là Bà Đen được cư dân Việt
lẫn người Khơmer phụng thờ. Còn có thể nhắn đến vị thần Ả rặc chi y mế thường
được mời gọi phối hưởng ở các lễ cúng đình, cúng miếu; đó là vị nữ thần coi sóc việc
hầu bóng trong thần điện của người Khmer tuy đã mất trú sở nhưng hãy còn âm vang
trong tín ngưỡng của cư dân Việt.
Yếu tố bổn địa rõ nét nhất trong tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng
Nai có lẽ là tín ngưỡng của người Chăm. Đồng Nai không nhiều vết tích cư trú của
người Chăm như ở Khánh Hòa, Bình Định, Thuận Hóa. Sử sách cũng không cho thấy
có sự giao lưu trực tiếp đáng kể giữa hai dân tộc Việt - Chăm trên mảnh đất Đồng
Nai. Nhưng văn hóa Chăm thì in đậm dấu ấn của nó trong sinh hoạt văn hóa của cư

8.6 Page 76

▲back to top
dân Việt. Nó lắng sâu trong tâm thức và thể hiện trong đời sống hàng ngày, từ lễ thức
gắn với đời người đến sinh hoạt cộng đồng, gia đình và xã hội. Có thể nó thâm nhập
vào tâm linh cư dân Việt với “chiếc áo khoác” của tín ngưỡng trong cư dân Việt ở
trung Bộ, Nhánh xương rồng giữ cửa cho sản phụ chỉ có thể xuất phát từ xứ sở của
tháp Chăm. Tục nằm lửa của sản phụ và chiếc vỏ lửa làm dấu hiệu mà Trịnh Hoài
Đức đã không nêu rõ từ đâu vốn có nguồn gốc từ cổ tục của người Chăm. Người
Chăm theo mẫu hệ nên đầu củỉ cháy quay vào trong là dấu hiệu sinh con gái, còn cư
dân Việt thì ngược lại. Tương tự, có thể truy nguyên ra bóng dáng của tín ngưỡng
Chăm qua hàng loạt sinh hoạt tín ngưỡng như: Cúng tá thổ, thờ cúng Thiên Y A Na
Ngọc Diễn phi, thờ cúng cá Ông. Rõ nhất là vũ điệu “múa bóng dâng bà” của xứ sở
Chăm đã được tích hợp trong Hát bóng rỗi; vị thần mang lý lịch Chăm Maha Khẩn
(Cẩn) lại thường được mời gọi trang trọng ở các lễ hội đình, miếu và luôn có vị thế
ngang hàng với các vị thần phối tự khác. Yếu tố Chăm hòa nhập vào tín ngưỡng cư
dân Việt bền chặt đến nỗi khó có thể bóc tách ra thành một lớp văn hóa thuần chất.
Chính những yếu tố Chăm này đã làm cho tín ngưỡng của cư dân Việt ở Đồng Nai
nhiều màu sắc, hơn thế nữa, nó tạo nhịp cầu cho tâm linh của cư dân Việt gắn kết với
Đất và Người ở Đồng Nai. Yếu tố bổn địa xuất hiện trong tín ngưỡng dân gian của cư
dân Việt ở Đồng Nai không phải là phép cộng mà là một sự hòa nhập, cuối cùng tạo
ra một kết quả không chỉ có lợi riêng cho phía cư dân Việt. Cư dân Việt ở Đồng Nai
đối với văn hóa bổn địa không phải bằng thái độ của kẻ chiến thắng, mà là bằng tâm
thế của người chủ mới biết ơn, thủy chung, rộng mở với các chủ nhân vô danh. Đĩa
rau luộc, chén mắm nêm, mâm cúng đất đai, bánh cúng bánh cấp trong lễ thí thực, cổ
tục cúng Tá thổ ở vườn ruộng… đó là những nghĩa cử trong tín ngưỡng của cư dân
Việt thể hiện lòng thành của mình đối với người bản địa, chính nó tạo ra sự chung
sống hòa bình chứ không phải xung đột.
1.4. Các yếu tố Việt - Hoa - Chăm - Khmer có sự sống hòa hợp tạo thành sự
“cân bằng sinh thái tâm linh” trong tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt, trong đó
yếu tố tín ngưỡng dân gian truyền thống của dân tộc Việt là cái trục là cốt lõi của sự
vận hành, phát triển. Nhưng sự vận hành, phát triển ấy không phải tự thân, một chiều
mà diễn ra trong ảnh hưởng chi phối của tam giáo: Phật, Nho, Lão.

8.7 Page 77

▲back to top
Tín ngưỡng dân gian truyền thống của cư dân Việt cũng như của người Hoa
vốn đã có ảnh hưởng của tam giáo và định hình trong đời sống tinh thần của cư dân
Việt từ lâu đời. Đến vùng đất mới, Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo lại tạo cơ sở mới
bám rễ trong đời sống tâm linh của cư dân Việt, qua đó có sự ảnh hưởng qua lại giữa
tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng tôn giáo.
Phật giáo gần như là tôn giáo chính của cư dân Việt, có ảnh hưởng sâu rộng
nhất trong tín ngưỡng dân gian. Đạo Phật du nhập vào Nam Bộ khá sớm, trung tâm
ban đầu là Đồng Nai - Gia Định, từ đó làm bàn đạp đưa Phật giáo tiến dần vào Nam
Bộ và ngày càng đóng vai trò quan trọng ở vùng đất mới. Theo Trần Hồng Liên, Phật
giáo truyền thừa vào Đồng Nai bằng nhiều con đường: Một bộ phận từ Thuận Quảng
vào với dòng Phật giáo không còn nét chính thống; một bộ phận từ các thiền sư
Trung Hoa đến lưu trú và hành đạo tại Trung Bộ , Nam Bộ chủ yếu thuộc hệ phái
Lâm Tế dòng Bổn Ngươn, nhưng dòng Phật giáo Trung Hoa này nhanh chóng được
Việt hóa qua ảnh hưởng của các thiền sư Nam Bộ như Thành Đẳng, Phật Ý, Tổ Tông,
Hải Tịnh; một bộ phận khác do các thiền sư Trung Hoa theo chân người Hoa nhập cư
vào Nam Bộ với dòng đạo Minh Sư, tiền thân của Thiền giáo Thiên Thai sau này.
Các dòng Phật giáo chủ yếu nêu trên đến Đồng Nai có xuất phát điểm khác nhau
nhưng cùng chung số phận đặc biệt là: Thành phần dân dã, thuộc tầng lớp nghèo,
thân phận phiêu tán... cho nên dễ đồng cảm với cư dân Việt dễ hòa vào dòng mạch tín
ngưỡng dân gian. Giáo lý của Phật giáo nhằm giải thoát chúng sinh cho nên đồng
hành với người cùng khổ; nhưng cư dân Việt ở Đồng Nai dường như chỉ dung nạp
“tâm Phật” của Phật giáo chứ ít chìm đắm vào thiên la địa võng của giáo lý và con
đường tu tập khổ hạnh. Phật Thích Ca cao vời quá, người ta kính lạy ở chùa nhưng ít
quen thân. Quan âm chỉ là hàng Bồ tát nhưng có chức năng “xóa đói giảm nghèo”
nên gắn với tín ngưỡng dân gian hơn, được thờ chủ yếu ở nhà ở chùa, ở đình miếu.
Nghi thức Phật giáo được vận dụng trong việc thờ cúng của cư dân Việt: cầu siêu ở
đám tang, chay đàn thí thực, cúng cô hồn, cúng lễ ngày sóc - vọng hàng tháng, thậm
chí sư ni cũng tham gia cúng lễ Cầu an ở đình, miếu trước khi tiến hành lễ Đàn cả.
Tính tích cực xã hội đậm màu sắc dân dã của cư dân Việt, đồng hành với ý nguyện
hướng thiện cầu an tôn kính ông bà, hiếu thảo với cha mẹ, cư xử tốt với mọi người

8.8 Page 78

▲back to top
vốn là truyền thống tốt đẹp của cộng đồng dân tộc Việt Nam (cũng là đạo lý của Nho
gia) khiến cho khó có thể phân định được nguồn gốc tín ngưỡng dân gian hay tín
ngưỡng Phật giáo - Nho giáo. Mặt khác, chính nhờ nhanh chóng hòa vào dòng mạch
tín ngưỡng dân gian, thậm chí bằng con đường tín ngưỡng dân gian mà Phật giáo
bám rễ trong tâm linh của cư dân Việt. Những huyền tích về các ngôi chùa, tích Phật
Mục Kiền Liên - Thanh Đề, Phật thoại về kết quả tu hành của Thủ Huồng... đều được
cổ tích hóa theo con đường tín ngưỡng dân gian. Cho nên, tín ngưỡng dân gian và tín
ngưỡng Phật giáo gắn kết với nhau trong quá trình phát triển xã hội, ngay cả khi
đương đầu với thế lực mới là thực dân Pháp. Khi người Pháp giữ quyền cai trị, Nho
giáo bị phân hóa và khủng hoảng thì tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng Phật giáo vẫn
chung một trận tuyến đứng về phía dân tộc, thậm chí còn là bệ đỡ tinh thần cho các sĩ
phu yêu nước.
Nho giáo - Đạo Khổng ít tính chất tôn giáo nhưng lại có quyền lực thực tế qua
bộ máy thống trị của triều đình phong kiến. Ngoài những phẩm chất của Nho giáo đã
thấm sâu vào đời sống của người Việt từ lâu đời Nho giáo đến với vùng đất mới còn
tác động đến tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai bằng hai con đường
chủ yếu: Tư tưởng chính thống qua bộ máy hành chính và tri thức của nho sĩ bình
dân.
Ở Đồng Nai, bộ máy hành chính ra đời muộn hơn sự hình thành cộng đồng dân
cư ít nhất hơn 20 năm. Cho nên, tư tưởng chính thống được tái lập trong tâm lý cư
dân Việt đương nhiên là hậu sinh so với tín ngưỡng dân gian. Gọi là tái lập vì tư
tưởng chính thống vốn đã có cội rễ ở cư dân Việt từ xa xưa, những người Việt đến
Đồng Nai từ thế kỷ XVII-XVIII tạm thời thoát ly guồng máy ấy trong thời gian khá
dài, đủ vốn sống để thận trọng và dè dặt khi tái lập nó qua sự áp đặt của bộ máy cai
trị.
Cho nên, ở Đồng Nai, tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt có cội rễ bền vững
hơn tư tưởng Nho giáo Thậm chí nhiều lúc, nó đã chiến thắng. Cái chết của tướng Lê
Văn Lễ và “sự sống” của Cô Bóng Hiên là một thí dụ. Một thí dụ nữa có thể lấy từ
bản ghi chép của Trịnh Hoài Đức, rằng: Chánh thống suất Nguyễn Cửu Vân đã phải
“mặc niệm cầu đảo” trước ngôi đền cổ của người địa phương mới thoát được tình thế

8.9 Page 79

▲back to top
nguy hiểm. Tuy nhiên, với quyền lực thống trị, triều Nguyễn vẫn nén được tư tưởng
chính thống vào tín ngưỡng dân gian bằng cách sắc phong cho Thành hoàng, định
điển lệ, ban hành nghi thức tế lễ , thờ cúng ở làng xã. Theo đó, nghi lễ thờ cúng ở
Đồng Nai đi vào khuôn phép, phân rõ thứ bậc, tôn ti. Tín ngưỡng dân gian đã phục
tùng chữ “Lễ” của Nho giáo. Nhưng chính Nho giáo cũng phải thừa nhận thần linh
trong tín ngưỡng dân gian. Nếu Khổng Tử chưa chính thức thừa nhận quỷ thần thì
các Chúa Nguyễn, từ Nguyễn Hoàng trở đi đều tiếp nhận và huy động các thần linh
của dân gian vào việc vun đắp và bảo vệ sự nghiệp của mình. Do đó mà nhiều thần
linh như thần nữ áo xanh, thần rái cá... đều có thần tích gắn với việc tôn vinh nhà
Nguyễn.
Đến thời Tự Đức, việc phong Thành hoàng hàng loạt cho đình làng Nam Bộ
nhằm tập hợp thần linh địa phương xung quanh quyền lực “thiên tử” đã không ngăn
chặn được tàu đồng, đại bác, nhưng ít nhất cũng đã tạo được hàng rào tinh thần ở
nông thôn làm cản trở ý đồ thôn tính Nam Bộ của thực dân Pháp.
Nho giáo bằng con đường của các sĩ tử bình dân đến với tín ngưỡng dân gian
êm dịu hơn. Đó là những quan niệm về đạo lý làm người đã được hiện thực hóa trong
cuộc sống mẫu mực của các nho sĩ, được công chúng tiếp nhận nạp vào hệ giá trị của
mình rồi tái hiện trong các sinh hoạt hàng ngày cũng như trong sinh hoạt văn hóa - tín
ngưỡng dân gian, lâu dần thành tài sản chung của cộng đồng. Khi quyền lực của triều
đình Huế suy yếu, nhất là khi họ cắt ba tỉnh miền Đông rồi Nam Kỳ lục tỉnh cho thực
dân Pháp, nhiều sĩ phu yêu nước tự điều chỉnh lý tưởng Nho gia, từ giã biểu tượng
“rồng chầu ngoài Huế” mà hòa nhập với dòng mạch “ngựa tế Đồng Nai” cùng với
nhân dân kháng chiến chống Pháp. Qua đó, điện thờ của đình, miếu ở Đồng Nai cũng
như ở Nam Bộ bổ sung những nhân thần mang lý tưởng “vị quốc vong thân” của
Nho giáo. Nhờ hòa nhập vào dòng mạch dân gian dù thể chế đã suy tàn rồi mất hẳn
trong xã hội Âu hóa, giá trị của Nho giáo vẫn còn tác dụng trong đời sống xã hội.
Ngược lại, trong khuôn phép của Nho giáo, tín ngưỡng dân gian được hệ thống hóa
và có chỗ dựa để tồn tại lâu dài.
Đạo giáo ở Đồng Nai không có hệ thống cơ sở thờ cúng như nhiều nơi khác
nhưng ảnh hưởng của nó rất sâu rộng trong đời sống người Đồng Nai. Trò đồng bóng

8.10 Page 80

▲back to top
người Việt ở Đồng Nai - Gia Định rất tin chuộng mà Trịnh Hoài Đức nhắc đến trong
Gia Định Thành thông chí có lẽ là một dạng biểu hiện của Đạo giáo. Trước đó nữa,
Đạo giáo phát triển ảnh hưởng sâu rộng đến mức Chúa Nguyễn lập những ti trong
phủ Chúa bổ dụng các thầy pháp, đạo sĩ coi sóc việc đạo gồm cả hai phái: Pháp lục
và Đạo gian; năm 1789, Chúa Nguyễn thấy các ti này không còn phù hợp nữa đã bãi
bỏ nhưng không chấm dứt được vai trò của thầy pháp, đạo sĩ trong dân gian. Ảnh
hưởng của Đạo giáo trong dân gian rõ nhất là vai trò của thầy pháp trong thờ cúng.
Họ là những “môi giới” giữa cõi người và cõi âm, có pháp thuật điều khiển âm binh,
âm tướng, chuyển nhận thông tin từ cõi âm đến cõi người và ngược lại. Ở những lễ
cúng: Tá thổ, cúng thế, động thổ, tống phong... thầy pháp là nhân vật chính; thầy
pháp còn phối hợp cùng thầy chùa điều hành các lễ cúng cô hồn, thí thực ở đình,
chùa. Do nhu cầu thực tế trong các làng thường có một vài thầy pháp chuyên nghiệp
lo việc cầu cúng.
Bóng dáng của Đạo giáo còn thể hiện ở tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt
qua các vị hành binh, hành khiển luân phiên cai quản cõi người trong năm, hoặc các
ma thuật trốn yếm, bùa chú... trong sinh hoạt thường ngày. Có thể nói, ảnh hưởng của
Đạo giáo tuy không có chiều sâu trong nhận thức nhưng phổ biến trong sinh hoạt tín
ngưỡng của dân gian.
Tín hưởng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai không có hệ thống lý luận
hoàn chỉnh vế vũ trụ quan nhân sinh quan thế giới quan; ảnh hưởng của các tôn giáo
đã bù đắp cho khoảng trống vắng đó. Cái tâm của Phật, cái lý của Nho và ma thuật
của Đạo đã tác động làm phức tạp hóa sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian đồng
thời chính nó cũng bị thu hút trong quá trình dân gian hóa khiến cho các hình thức
biểu hiện của tôn giáo cũng nương theo dòng mạch của tín ngưỡng dân gian.
Nói đến các yếu tố ảnh hưởng đến sinh hoạt vặn hóa - tín ngưỡng dân gian của
cư dân Việt ở Đồng Nai, không thể không kể đến Thiên Chúa giáo và văn minh Âu
Tây. Thiên Chúa giáo gia nhập muộn, sự xuất hiện của nó gây lo âu cho tinh thần dân
tộc khiến tín ngưỡng dân gian và tôn giáo nhích lại gần nhau hơn, có bước tự điều
chỉnh để cùng ứng biến với vị thần dị tộc đang được chính quyền Pháp, Mỹ ưu ái

9 Pages 81-90

▲back to top

9.1 Page 81

▲back to top
Sự thống trị của thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ tạo ra sự đứt gãy, chia cắt tín
ngưỡng dân gian với thiết chế chính thống của Nho giáo. Thần linh của cư dân Việt
lại quay về vị thế dân dã, vừa gánh chịu đạn bom, vừa bị tổn thất do Nho học suy tàn.
Thêm một vết gãy nữa khi chín năm trường kỳ chống Pháp, nhân dân thực hiện tiêu
thổ kháng chiến, trú sở của thần linh bị đốt phá, tín ngưỡng dân gian bị đưa ra khỏi hệ
thống mới. Những sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian hiện tồn chẳng qua là sự
khôi phục không đầy đủ sau nhiều chục năm đứt gãy. Cũng phải thừa nhận rằng, văn
minh Âu Tây có khoa học và kỹ thuật hiện đại ngoài việc đẩy lùi tín gương dân gian
vào quá khứ, càng có tác dụng làm cho cư dân Việt thức tỉnh, tìm cách dung hợp cái
mới, cải biến sinh hoạt của mình cho phù hợp với nhịp sống mới. Như vậy, những
yếu tố phi lý hoang đường bị loại dần, còn lại là cốt lõi của niềm tin và “cái lý” dễ
chấp nhận.
Rõ ràng, những sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở
Đồng Nai không phải tự nhiên có hay sẵn có mà là quá trình hình thành từ sự tích hợp
của nhiều nhân tố. Việt - Hoa - bổn địa trong sự tác động của tôn giáo và các nhân tố
ngoại lai khiến cho sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng
Nai có nhiều màu sắc, đa hệ, hòa hợp được với các hệ văn hóa khác nhau mà không
đánh mất cốt lõi của mình.
2. Những đặc điểm đáng lưu ý
Do nguồn gốc hình thành và những quan hệ tác động đến nó, sinh hoạt văn hóa
- tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai bộc lộ nhiều đặc điểm; ở đây chỉ
xin nêu những đặc điểm quan trọng có liên quan mật thiết đến đời sống kinh tế - xã
hội ở địa phương.
2.l. Trước hết, sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng
Nai mang tính hỗn dung, hay nói cách khác là đa hệ trong cơ cấu cũng như trong biểu
hiện. Đây không phải là đặc tính riêng của cư dân Việt ở Đồng Nai, nhưng nó thể
hiện ở Đồng Nai rất đậm nét. Cơ sở kinh tế - xã hội của nó là nền nông nghiệp đa hệ
sinh thái: Biển - sông rạch - vườn ruộng - bán sơn địa với nền thương nghiệp phát
triển khá sớm. Cho nên, các chủ thể tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt gồm đa
thành phần, trong đó tầng lớp thương nhân và thị dân đóng vai trò quan trọng. Tất cả

9.2 Page 82

▲back to top
đều hướng lòng tin vào thần linh phù hợp với vị thế của tầng lớp mình rồi - lại vươn
đến hình ảnh chung nhất của cộng đồng. Ví dụ, về thần Đất chẳng hạn, từ một vị thần
chung chung phân hóa thành nhiều vị thần khác nhau có chức năng liên quan đến đất,
rồi lại tích hợp thành một bộ “ông Địa - thần Tài” hợp tình với cả nông dân, thương
nhân và thị dân, thậm chí có sức thuyết phục cổ giáo dân. Dường như, bất cứ sinh
hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian nào của cư dân Việt ở Đồng Nai cũng biểu hiện
tính đa hệ ở cả ba mặt: Nguồn gốc hình thành, cơ cấu bên trong và biểu hiện bên
ngoài. Chỉ riêng việc “nằm lửa” của sản phụ cũng đã thấy các hệ tín ngưỡng Hoa -
Việt - Chăm đan xen, hội nhập và cùng biểu hiện.
Đa hệ, hỗn dung nhưng không hỗn tạp, bởi các nhân tố hợp thành tín ngưỡng
dân gian chẳng phải theo phép cộng đơn thuần mà là sự tích hợp có hệ thống. Xét ở
mặt nào thì hệ thống ấy cũng bền chặt, tín ngưỡng dân gian trọn vẹn với: Vòng đời
người - cộng đồng gia đình - cộng đồng xã hội, bao quát ở các cõi: Trời - Người - Đất
trải rộng ở các vùng: Sông nước - vườn ruộng - rừng núi, gồm các hệ tín ngưỡng:
Truyền thống - ngoại nhập - bổn địa với hệ thần linh gồm các dạng: ông bà (tổ tiên) -
nhân thần - thiên thần, có giới tính: Nam - trung tính - nữ, và tên tuổi: Hữu danh - ý
niệm chung - vô danh, dưới hình thức: Riêng lẻ - cặp đôi - bộ (gồm nhiều vị), thuộc
các loại: Chính thống - nữa chính thống - dân dã, có quan hệ tiếp biến với: Nho giáo
- Phật giáo - Đạo giáo, được phân bố vị trí thờ cúng hài hòa giữa trung tâm với trái -
phải, trước - sau, trong – ngoài, trên - dưới... nó bền chặt đến mức nếu có nhân tố gia
nhập mới thì đó chỉ là sự hòa nhập, thêm vào chứ không phải là sự thay thế hoặc thay
đổi cơ chế. Nhưng nó không khép kín, không bảo thủ, mà chính sự đa hệ, đa dạng đã
tạo ra khả năng nhạy thích ứng, dễ “làm quen” với văn hóa Đông - Tây, kim - cổ...
trên cơ sở giữ được truyền thống của cư dân Việt Từ đặc điểm này, có thể giải thích
được tính quảng giáo, rộng mở, nhạy bén với cái mới nhưng không rời cội nguồn dân
tộc của người Việt ở Đồng Nai.
2.2 Sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai ít thần
bí, sự lý giải về thần linh thường dựa vào lôgich hiện thực hơn là trí tưởng tượng thần
thoại. Cho nên, các yếu tố phi lý bị giản lược, hủ tục không nhiều, thần linh có lý lịch
và thần tích giản đơn, hợp lý, ít được cường điệu hoặc kỳ diệu hóa, từ đó gần gũi và

9.3 Page 83

▲back to top
thân thiết với cõi người hơn. Bà Ngũ Hành với ý niệm chung về sự vận hành của trời
đất dần dần được thờ phụng phổ biến hơn các bà đầy huyền thoại khác. Thành hoàng
bổn cảnh cũng được biểu niệm chung gắn với vai trò “bảo hộ và quản lý đất đai” tại
chỗ hơn là việc tìm đường nối kết với thần linh “bề trên” bằng con đường thần thoại
hóa. Tục “hèm” tránh sát sánh khi cúng Phi Vân tướng quân Nguyễn Phục và những
điều kiêng: Kiêng cúng Quan Công thịt gà và hoa mào gà, không cúng Võ Tánh heo
quay, không cúng Tả quân Lê Văn Duyệt heo thiến... vì tế nhị chứ không phải do
kiêng sợ.
Thần linh trong tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai không đối
lập, cũng không cách biệt với cõi người, nhân tính nhiều hơn thiên tính, ban phúc hơn
là giáng họa, hiếm thấy tà thần, dâm thần; do vậy, người Đồng Nai đối với thần linh
bằng lòng thành tri ân hơn là sự sợ hãi, phục tùng, thậm chí thần linh còn bị con
người hành hạ, phiền trách, bỡn cợt. Hình tượng, tính cách và chức năng của ông Địa
là ví dụ rõ nhất. Bởi vậy sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở
Đồng Nai không xa cách với đời sống hiện thực, tính tích cực xã hội của nó được
hiện thực hóa trong sinh hoạt xã hội rất rõ nét, nó thường nối kết giữa đời sống tâm
linh và hoạt động xã hội: Mụ Vườn vừa trong vai trò thầy cúng thỏa mãn nhu cầu tín
ngưỡng dân gian, vừa là thầy thuốc góp phần chăm lo việc sinh sản ở nông thôn khi
hệ thống y tế cơ sở chưa hoàn chỉnh; tục lệ về hôn nhân có cốt lõi là hợp đồng trách
nhiệm giữa đôi vợ chồng mới với gia đình hai bên và xã hội; việc tang nghiêng về ý
nghĩa bảo hiếm cái chết, hội đình, hội miếu tham gia tích cực trong công tác xã hội
của làng như tang tế, bốc thuốc, dạy học, hòa giải, từ thiện... (riêng trong năm 1996,
thu nhập từ lễ hội Dinh Cô đã đóng góp cho công tác xã hội ở địa phương hơn 500
triệu đồng). Sự nhích gắn giữa sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian với đời sống
hiện thực cũng là sự nhích gắn giữa trú sở của thần linh với thiết chế văn hóa cơ sở.
2.3 Sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai thể
hiện ý nghĩa nhân bản ở mức độ cao. Người Đồng Nai thành kính thờ phụng thần linh
nhưng không lệ thuộc vào thần linh, càng không chịu đóng khung trong khuôn mẫu
có sẵn. Nghi thức cúng đình thần tuân theo điển lệ nhưng thực hiện không “nghiêm
túc”, như việc sử dụng cờ, lọng, lỗ bộ chẳng hạn. Triều đình Nguyễn ban hành rất

9.4 Page 84

▲back to top
nhiều qui định nhằm khuôn phép hóa việc cúng tế ở đình nhưng ít có qui định nào
được chấp hành đầy đủ; mỗi đình đều có cách làm khác đi, ở miếu càng phóng túng
hơn, ở gia đình thì hoàn toàn từ tâm. Khi vương quyền Nguyễn suy yếu rồi sụp đổ
các thiết chế của phong kiến sụp đổ theo, nhưng cái đình vẫn nguyên vẹn ý nghĩa
trong tín ngưỡng dân gian; đến khi thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ cai trị bằng một
thiết chế khác hẳn, cái đình vẫn vững gốc mặc dù vỏ vật chất của nó bị tổn hại nặng
nề.
Với số nữ thần được thờ cúng đa dạng, đa hệ , tính nhân bản trong tín ngưỡng
dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai bộc lộ rõ nhất. Những nữ thần của khắp ba
miền đất nước gần như hội nhập đủ mặt và khuếch đại uy lực ở Đồng Nai, nó thâm
nhập vào thần điện của đình, chùa, lôi kéo cả nữ thần của Phật giáo, Thiên Chúa giáo,
thậm chí lấn át cả nam thần. Qua kết quả nghiên cứu địa bạ của Nguyễn Đình Đầu,
chúng ta đã thấy vai trò đặc biệt của phụ nữ Biên Hòa trong chủ quyền đất đai thì
cũng sẽ dễ thấy vị thế tương tự của họ ở đình làng - vốn là thế giới của nam quyền.
Ngoài các thánh mẫu thường phải dự phần, nhiều đình ở Đồng Nai còn có bàn thờ
“Tiên đại phụ nhân”, với nghi thức thờ cúng vượt khỏi tục giỗ hậu thông thường.
Khi có một hệ thống nữ thần đầy uy lực trong tâm tưởng, sinh hoạt văn hóa - tín
ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai không chìm đắm trong khuôn khổ Nho
giáo, không bị ràng buộc trong các nghi thức cổ hủ rườm rà, đã sàng lọc loại bỏ nhiều
yếu tố phi nhân bản. Cho dù có thay đổi như thế nào thì nhân tố con người vẫn là hạt
nhân giữ vai trò chủ thể trong tín ngưỡng chứ không phải thần linh hay áp lực nào
khác.
2.4. Do hình thành muộn và bị đứt gãy bởi nhiều biến cố lịch sử sinh hoạt văn
hóa - tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai hiện tồn tại trong mâu thuẫn
giữa niềm tin và tri thức. Niềm tin ở tín ngưỡng dân gian còn cội rễ trong lòng người
nhưng tri thức về nó đã rơi rụng nhiều dẫn đến sai lạc, chắp vá và sự phục hồi tùy
tiện, thậm chí trái với bản tính ban đầu. Hiện tượng tâm lý “có thờ có thiêng”, “tứ
tung linh tàng” phổ biến. Đó là mảnh đất hoang để những kẻ vụ lợi gieo cấy mầm
mống có hại. Việc phục cổ một cách máy móc và hành vi mua thần bán thánh tinh vi

9.5 Page 85

▲back to top
cũng có nguồn gốc từ đây. Tín ngưỡng có lòng tin mà thiếu hiểu biết rất dễ đồng
hành với mê tín, dị đoan.
2.5. Sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai là
một hiện tượng thực tế không thể phủ nhận được. Nó đã từng là “món ăn tinh thần”
để người Việt ở Đồng Nai hình thành, phát triển, vượt qua gian khổ, chiến tranh; và
nay tiếp tục gắn với đời sống tinh thần của con người trên bước đường công nghiệp
hóa, hiện đại hóa. Dù muốn hay không muốn thì vai trò, ý nghĩa của sinh hoạt văn
hóa - tín ngưỡng dân gian vẫn tác động đến công cuộc xây dựng và phát triển xã hội.
Hiệu quả tác động thế nào tùy thuộc vào thể chế xã hội ứng xử với nó. Nếu biết nuôi
dưỡng, dẫn dắt, khai thác và cải biến “hạt nhân hợp lý trong nó” thì có thể hướng tín
ngưỡng dân gian đi vào mục tiêu nhân văn, xây dựng được xã hội bình ổn đậm đà
bản sắc dân tộc. Ngược lại, nếu phủ nhận hoặc bỏ rơi tín ngưỡng dân gian trong quá
trình xây dựng và phát triển thì niềm tin của con người sẽ bị tổn thương, “phần xác”
có thể đồ sộ nhưng “phần hồn” dễ trống rỗng. Thực ra, tâm linh con người không thể
trống rỗng. Khi chân lý khoa học chưa chiếm lĩnh hoàn toàn trong tâm thức, nếu thần
linh đã rời xa thì “qui sứ” sẽ chui vào, rồi sự phá hoại sẽ thay chỗ của tín ngưỡng
khuyến thiện.
3. Kiến nghị
Cái gì thuộc về con người thì không thể xa lạ với đường lối, chủ trương của
Đảng và chính sách của Nhà nước. Sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian của cư
dân Việt ở Đồng Nai là một mặt quan trọng trong đời sống tinh thần của con người,
cần được Đảng và Nhà nước quan tâm đến như là một thành tố quan trọng trong
“chiến lược con người”.
3.l. Trước hết, phải thừa nhận sự tồn tại mang tính lịch sử cụ thể và vai trò, ý
nghĩa của tín ngưỡng dân gian trong đời sống xã hội; cốt lõi của nó là: Niềm tin và
khát vọng bình an của con người gởi gắm vào các biểu tượng nằm ngoài con người.
Biểu tượng cụ thể có thể thay đổi tùy thuộc vào trình độ phát triển của xã hội, nhưng
lòng tin và khát vọng thì luôn luôn sống cùng con người, nó tham gia vào việc hình
thành các chuẩn mực, nhân cách và qui định các ứng xử xã hội. Nói như Gs. Ts. Tô
Ngọc Thanh, niềm tin mang tín ngưỡng dân gian có tính hợp lý của nó, ở chỗ “nó

9.6 Page 86

▲back to top
chứng minh cho sự tồn tại của một đời sống tâm linh như là một cứu cánh, một chỗ
dựa linh thân, một hạt nhân cố kết xã hội của cha ông”.
Tín ngưỡng dân gian là hiện tượng xã hội không thể giải thích chỉ bằng công
thức khoa học và kiểu tư duy duy lý mà còn phải bằng sự trải nghiệm thực tế và sự
cộng cảm của trái tim nhân văn. Cho nên, khi đặt vấn đề “chiến lược con người”,
những gì con người mang theo trong đầu, trong tim, không thể gạt ra mà phải tìm
hiểu thấu đáo nghiên cứu đầy đủ, thậm chí còn phải trân trọng giữ gìn. Hiện nay, kế
hoạch xây dựng và phát triển vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đang triển khai nhiều
chương trình kinh tế - xã hội qui mô lớn, trong đó chưa thấy tính đến sinh hoạt văn
hóa tín ngưỡng dân gian của người địa phương. Điện đã sáng ngời nông thôn nhưng
những ẩn uất về hài cốt ở lòng hồ Trị An vẫn chưa tan; đó là bài học nhắc nhở về
nhận thức và sự quan tâm đối với tín ngưỡng dân gian trong xây dựng và phát triển.
Thiết nghĩ, trong việc quy hoạch xây dựng các mô hình kinh tế - xã hội, cần thiết phải
có sự qui hoạch về nơi và cách sinh hoạt tín ngưỡng dân gian phù hợp với thực tế.
Đài tưởng niệm Bến Dược (Củ Chi) là thí dụ về một kiểu sinh hoạt hợp lòng dân cần
được phổ biến.
3.2. Sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian là một tồn tại thực tế. Mọi sự tồn
tại thực tế đều không thể nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật. Các triều đại
phong kiến đều lưu ý đến việc thể chế hóa tín ngưỡng dân gian. Với việc “phong
thần”, ban hành điều lệ và nhiều qui định pháp luật khác, các vua chúa nhà Nguyễn
đã khôn ngoan mượn danh thần linh để cai trị, dựa vào tín ngưỡng dân gian để vun
đắp cho quyền lực của mình. Nhà nước ta khác hẳn nhà nước phong kiến về bản chất
và mục đích nhưng cách ứng xử với tín ngưỡng dân gian của nhà nước phong kiến
không phải là không đáng để lưu ý. Nhà nước ta đang chuẩn bị ban hành pháp lệnh về
tôn giáo và tín ngưỡng, pháp lệnh ấy cần thiết bao hàm cả tín ngưỡng dân gian. Cần
có hành lang pháp luật rộng mở và rõ ràng để những sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng
dân gian có ranh giới cụ thể. Pháp lệnh về bảo vệ di tích văn hóa đã lỗi thời kém hiệu
lực và phạm vi điều chỉnh của nó hẹp hơn thực tế. Qui chế về lễ hội của Bộ Văn hóa
Thông tin chỉ mới điều chỉnh phần biểu hiện bên ngoài chứ chưa tác động vào cơ chế
bên trong của lễ hội. Ở địa phương, chỉ có hoạt động của tôn giáo mới thuộc đối

9.7 Page 87

▲back to top
tượng quản lý của Ban Tôn giáo, Dân tộc; tín ngưỡng dân gian thuộc hệ “vận động”
của ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, còn bộ máy chính quyền các cơ sở
thì mù mờ về luật lệ ở lĩnh vực này. Do vậy, tín ngưỡng dân gian gần như còn nằm
ngoài vòng điều chỉnh và bảo hộ của pháp luật. Những hiện trạng xúc phạm đến mồ
mả, tổ tiên, thần thánh, cơ sở tín ngưỡng dân gian... hiện chỉ được điều chỉnh bởi chế
định ngang bằng với sự vi phạm hành chính thì quả là tổn thương cho đời sống tinh
thần của dân gian. Lăng mộ của danh nhân Trịnh Hoài Đức bị xâm hại, gây uế tạp mà
pháp luật chưa điều chỉnh nổi thì các giá trị tinh thần khác cũng có thể bị đe dọa. Và
không chỉ là vấn đề hành lang pháp lý, còn là vấn đề nghiên cứu, gạn lọc trong tín
ngưỡng dân gian những giá trị nhân văn để kế thừa, phát triển thành hệ thống giá trị
văn hóa dân tộc tham gia vào việc hình thành nhân cách và tập quán tết đẹp cho xã
hội. Ví dụ, những hạt nhân cất lõi trong tín ngưỡng dân gian như: Truyền thống thờ
phụng ông bà, tổ tiên; lòng biết ơn, thủy chung đối với mọi yếu tố liên quan đến việc
hình thành và phát triển cộng đồng, thái độ nhân ái, quan tâm đến sự sống của mọi
người... đó là những giá trị kết đọng trong tín ngưỡng dân gian cần được duy trì và
phát triển thành giá trị xã hội. Hiện nay, giữa thuần phong mỹ tục và mê tín dị đoan
đang “lẫn lộn vàng thau” trong chiếc áo khoác “phong tục” cổ truyền chính là bởi
hành lang pháp lý cũng như hệ chuẩn giá trị của tín ngưỡng dân gian chưa được xác
định rõ .
3.3. Niềm tin trong tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai còn cội rễ
bền vững nhưng tri thức về nó đã thất tán; vả lại vũ trụ quan thế giới quan và nhân
sinh quan của tín ngưỡng dân gian không có lập luận hoàn chỉnh cho nên niềm tin dễ
bị dẫn dắt đi lạc lối. Dường như đang có một cuộc ngầm cạnh tranh chiếm lĩnh tâm
linh giữa nhiều thế lực, tất cả đều đang triển khai lực lượng ở “trận địa niềm tin này”.
Các tôn giáo lớn đều đã có chương trình lan tỏa cụ thể. Bọn buôn thần bán thánh biết
cách đầu tư kiếm lợi ở đây. Chiến lược “diễn biến hòa bình” cũng khai thác triệt để ở
lĩnh vực này. Thần linh của người Hoa cũng vậy, đang dần chiếm tinh thần điện dân
gian, nhiều khi bằng những giải pháp rất đơn giản; ví dụ: Cốt tượng Cửu Thiên
Huyền Nữ và Thiên Hậu được sản xuất hàng loạt, giá rẻ, tiện dụng, thoắt chốc tràn
ngập các đình, chùa, miếu và bàn thờ tại gia, không bao lâu nữa sẽ khuất lấp các nữ

9.8 Page 88

▲back to top
thần khác. Hình như, chỉ có Nhà nước ta là chưa có “chiến lược” cụ thể đối với tín
ngưỡng dân gian. Đáng lẽ Nhà nước có nhiều ưu thế nhất trong việc tác động, cải
biến, hướng dẫn sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian đi đến mục tiêu nhân văn,
văn hóa. Ngoài việc sử dụng công cụ pháp luật một cách chủ động, Nhà nước còn có
thể có các chương trình tái tạo tri thức tín ngưỡng dân gian lành mạnh cho công
chúng, thêm dần vào đó những tri thức mới; ưu đãi những sinh hoạt văn hóa - tín
ngưỡng dân gian mang bản sắc dân tộc; dần dần cải biến trú sở của thần linh thành
cơ sở văn hóa lành mạnh; dung nạp đình, chùa, miếu vào thiết chế văn hóa cơ sở, vừa
khai thác tính tích cực xã hội của nó vừa tạo môi trường để tự nó loại dần các hủ tục,
mê tín, dị đoan. Tùy theo hình thức sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng dân gian cụ thể mà
có biện pháp thích ứng. Ví như việc tang chẳng hạn, cốt lõi hiếu thảo và “bảo hiếm
về cái chết” mang ý nghĩa nhân văn cần giữ nhưng các tục cúng bái lãng phí cùng
hình thức tang lễ rườm rà, nặng nề cần cải biến cho giản tiện và vệ sinh. Địa táng là
kiểu an táng lỗi thời nhưng đó là tục cổ truyền đã ăn sâu vào tập quán của công chúng
nên việc cải tạo nó không phải giản đơn, cần có biện pháp khéo léo chuyển dần từ địa
táng sang hỏa táng, điện táng mà không xâm hại đến ý nghĩa cất lõi của việc tang cổ
truyền. Về cơ sở đình miếu cũng vậy; trong khi ở nông thôn cơ sở văn hóa thông tin
chưa hoàn thiện còn nội dung sinh hoạt của đình miếu đang nghèo nàn cần có sinh
khí mới, nếu có chương trình thích hợp, đình, miếu có thể trở thành cơ sở sinh hoạt
văn hóa xã hội ở nông thôn. Thực tế ở Đồng Nai, đây đó đã xuất hiện nhiều đình,
miếu ngày thường trở thành nơi xóa mù chữ khám chữa bệnh miễn phí, hội trường
sinh hoạt của các đoàn thể, nơi tập dưỡng sinh của người già, tụ điểm văn hóa để diễn
văn nghệ, truyền đạt thông tin... Nhưng đấy mới chỉ là những sinh hoạt tự phát, chưa
thành chương trình có mục tiêu rõ rệt. Những ý kiến nêu trên chỉ mới xuất phát từ
góc nhìn tín ngưỡng dân gian, còn nặng cảm tính nhưng thảy đều bắt nguồn từ cuộc
sống cho nên nó có ý nghĩa thực tế.
Ts. Huỳnh Văn Tới

9.9 Page 89

▲back to top
Tìm hiểu những ngôi đình ở Đồng Nai
1 Đặc điểm chung
Người Việt đã đến vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai từ rất sớm để khai khẩn lập
nghiệp. Có thể vào khoảng những năm trong thế kỷ XVI. Trong quá trình khẩn hoang
lập nghiệp trên vùng đất mới, họ từng bước khẳng định sự tồn tại của cộng đồng bằng
việc ra sức xây dựng một cuộc sống ổn định. Trong đời sống tinh thần, người Việt
hình thành những cơ sở tín ngưỡng sinh hoạt cộng đồng để gắn kết cộng đồng, thỏa
mãn nhu cầu tâm linh.
Từ lúc ban đầu, những cơ sở tín ngưỡng được dựng lên với quy mô nhỏ, bằng
những vật liệu vốn sẵn có tại chỗ như tre, lá, cây gỗ. Thường thì nhóm cộng đồng dân
cư tại một vùng chung sức nhau để dựng lên. Về sau, trong quá trình phát triển,
những cơ sở tín ngưỡng được nâng cấp lên cả quy mô lẫn hình thức do sự lớn mạnh
của chính cộng đồng dân cư cư trú tại chỗ. Có thể nói, đình làng là một dấu ấn xác
định sự hình thành của cộng đồng xã tộc người Việt trên vùng đất mới. Khi nhà nước
chưa đến quản lý, những người di dân tự do đến vùng đất mới gắn kết nhau trong
làng xã qua hình thức cộng đồng chung trong tín ngưỡng thờ phụng mà ngôi đình là
cơ sở tiêu biểu nhất.
Trải qua bao thời kỳ, qua bao thay đổi về địa lý hành chánh hay tác động của
xã hội thì ngôi đình vẫn tồn tại. Nó minh chứng cho sức sống mãnh liệt không chỉ về
mặt tâm linh mà còn sự gắn kết thuộc “đời sống vật chất” của người Việt. Và vì vậy,
có thể nói, những giá trị di sản vật thể, phi vật thể đều ẩn chứa trong những di tích
đình làng một cách sinh động.
Thông thường, mỗi làng người Việt đều có một ngôi đình. Người xưa chọn đất
dựng đình thờ thần cho nhu cầu tâm linh làng xã nhưng cũng chính là ước vọng sự
sung túc, thịnh vượng của cả cộng đồng. Nên thường, ngôi đình được xây dựng trên
những “cuộc đất” có long mạch quý, phong cảnh minh quang tỏa xuất các hướng theo
quan niệm về thuật phong thủy xưa.
Những ngôi đình ở Đồng Nai thường bắt nguồn từ các miếu, đền. Từ lúc ban
đâu, do những điều kiện, có thể một số làng lân cận cùng chung dựng một ngôi đình.

9.10 Page 90

▲back to top
Sau này, về mặt phân chia hành chánh, những làng rộng lớn trước kia đông dân cư,
phát triển thì được chia ra nhiều làng thôn khác. Bên cạnh yếu tố này, một số yếu tố
khác mà các thôn làng khác lập dựng những ngôi đình mới cho cộng đồng theo cộng
đồng dân cư mới, địa lý quy định. Số lượng các ngôi đình ở vùng đất Biên Hòa -
Đồng Nai ngày càng nhiều lên theo sự phát triển của cộng đồng dân cư. Có nhiều
trường hợp minh chứng cho tính phát triển này; cụ thể như miếu Ba Làng tại phường
Thống Nhất, thành phố Biên Hòa hiện tại. Tên gọi Ba Làng cho thấy xuất xứ từ một
ngôi miếu chung của ba làng là Lân Thị, Phước Lư và Vinh Thành cùng xây dựng,
thờ tự. Về sau, miếu Ba Làng chỉ còn của làng Lân Thị, hai đình mới được lập thêm
là Phước Lư và Vinh Thành. Đặc điểm này có tính quy luật cho sự phát triển trong xã
hội.
Tên gọi của các ngôi đình gắn liền với tên gọi của làng xã. Đó là những tên gọi
làng xưa. Đây là một dữ liệu cho việc nghiên cứu về làng xã trên - vùng đất Biên Hòa
- Đồng Nai. Mặc dầu cho đến nay, nhiều địa bàn có sự thay đổi về tên gọi, vùng nông
thôn xưa giờ lên phố thị nhưng thường các ngôi đình vẫn giữ nguyên tên trong cách
gọi dân gian.
Trong quá trình phát triển, trải nhiều thời cuộc, biến động xã hội, đình liên tục
được trùng tu, tôn tạo. Thuở sơ khai, kinh tế khó khăn, lại thêm sự khống chế của
triều đình nên đình, miếu xây dựng với quy mô nhỏ. Từ thế kỷ XIX đình miếu được
phép trùng tu mở rộng quy mô.
Quy mô kiến trúc những ngôi đình lớn dần theo tỷ lệ thuận với sự mở mang
thịnh vượng của cộng đồng. Phần lớn những ngôi đình ở Biên Hòa - Đồng Nai được
xây dựng theo kiểu thức kiến trúc nhà tứ trụ. Đây là kiểu thức nhà rường nhưng gian
trung tâm gồm 4 cột cái bố trí cách đều; từ bốn cột cái, các kèo đấm, kèo quyết đưa ra
bốn hướng nhau tạo không gian vuông vức. Đây chính là không gian thiêng, trung
tâm cho việc thờ tự chính trong đình.
Ngoài chánh điện, tùy nơi mà ngôi đình có nhà võ (võ ca), nhà hội, nhà trù
(bếp). Theo truyền thống, trên cuộc đất rộng thì ngôi đình bố trí theo thứ tự như: cổng
đình, bình phong, nhà võ, chánh điện, nhà hội, nhà trù. Nhưng cũng phụ thuộc vào
nhiều yếu tố nhiều ngôi đình ở Biên Hòa - Đồng Nai không theo thứ tự này hoặc

10 Pages 91-100

▲back to top

10.1 Page 91

▲back to top
không có những nếp nhà ngoài khu chánh điện. Tùy nơi mà quy mô và các nếp nhà,
vật liệu xây dựng, tôn tạo khác nhau nhưng cơ bản chánh điện những ngôi đình vẫn
giữ được dạng kiến trúc truyền thống này.
Đối tượng thờ cúng chính trong các ngôi đình ở Biên Hòa - Đồng Nai là thần
Thành hoàng. Đây là vị thần linh được xem là bảo hộ của làng thôn. Thường ở khu
chánh điện, gian thờ trung tâm, thần được thờ với biểu tự chữ Hán (đại tự) thếp vàng.
Ở một số đình thờ nhân thần thì một số đình có tượng thờ. Có thể trước đó chưa có ,
sau này, tưởng nhớ công đức của những người có công đức giúp dân của làng xã, xứ
sở nên dân làng tôn thờ họ, tôn họ thành phúc thần. Như đình Mỹ Khánh thờ Nguyễn
Tri Phương, đình Bình Kính thờ Nguyễn Hữu Cảnh, đình Tân Lân thờ Trần Thượng
Xuyên, đình Tam Hiệp thờ Đoàn Văn Cự. Đây là những vị được xem là anh hùng của
vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai, đã có nhiều công lao giúp cho người dân vùng đất
Biên Hòa - Đồng Nai nói riêng hay Nam Bộ nói chung khai khẩn, đánh giặc, dẹp loạn
biên cương, mở mang làng xã.
Tại đình Mỹ Khánh, tượng thần được thờ được tạc với dáng thế uy nghiêm.
Tương truyền, một bô lão ở địa phương nằm mộng thấy Đức ông Nguyễn Tri Phương
hiện về với áo mão lẫm liệt vũ khí trong tay oai hùng, bèn chặt cây mít trước nhà tự
tay tạc như hình trong mộng. Đó là bức tượng chính của đình hiện nay, cũng cần nói
rõ tác giả bức tượng không hề là nhà điêu khắc. Bên cạnh đối tượng thờ chính là thần
Thành hoàng, những nhân thần được tôn làm phúc thần thì ở các ngôi đình còn phối
thờ một hệ thống nhân thần, thần linh khá phong phú. Bên cạnh thần Thành hoàng
cùng với ban bệ bộ hạ tả hữu gọi là Tả ban, Hữu ban liệt vị, một số đình còn có nhóm
thần linh dân gian được tích hợp do người dân địa phương đưa vào phối thờ trong
đình. Các bàn thờ cho các vị thần linh này được bố trí dọc theo vách hoặc một địa
điểm thích hợp trong chánh điện như: Thổ thần, Bạch Mã Thái giám, Chúa Tiên,
Chúa Xứ, Quan Đế thánh quân, Thiên Hậu thánh mẫu... Các vị Tiền hiền khai khẩn
(mở mang làng xã), Hậu hiền khai cơ (đưa làng xã phát triển), những danh nhân sanh
tiền như hương chức, hội viên, người hiến đất, góp phần trong xây dựng, trùng tu
đình... đã quá vãng. Việc bài trí các đối tượng trong đình có khánh, bàn, miếu thờ tùy
địa phương đặt để. Ngoài ra, trong văn cúng tế, ở một số đình khi cúng có xướng

10.2 Page 92

▲back to top
danh mời khấn hàng loạt các vị thần linh khác. Điều này lệ thuộc vào văn tế của từng
đình làng cụ thể.
Hễ ngôi đình nào có sắc phong của triều đình thì đó là niềm tự hào của người
dân địa phương. Một số những ngôi đình ở vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai có sắc
phong của triều đình nhưng rất ít những sắc phong của các đời vua đầu triều Nguyễn.
Một số ngôi đình cổ (gọi là đền) được nhắc đến trong sử sách triều Nguyễn hiện nay
thuộc địa phận Đồng Nai như:
- Đền Lễ Công (đình Bình Kính) thờ Nguyễn Hữu Cảnh.
- Đền Trung Tiết (chưa xác định) vốn được ghi ở tây bắc tỉnh, thôn Bình
Thành, huyện Phước Chánh tức Biên Hòa ngày nay, thờ những vị tướng có công
trong việc dẹp cuộc khởi binh của Lê Văn Khôi.
- Miếu Hội đồng (có thể là đình Bình Thiền hiện nay), được ghi là phía tây tỉnh
thành, thờ 68 người là văn công võ tướng có công lao thời khai quốc/ đối với triều
Nguyễn.
Nhiều ngôi đình ở Biên Hòa - Đồng Nai có sắc phong vào thời Tự Đức ngũ
niên (tức năm 1852). Đây là thời điểm mà triều vua Tự Đức ban hành hàng loạt sắc
phong để đưa hệ thống Thành hoàng bổn cảnh vào trong hệ thống quản lý của mình.
Về sắc phong, nhiều đình ít còn giữ được. Do nhiều yếu tố: chiến tranh, mất
cắp, mục nát do bảo quản không chu đáo. Nhiều sắc phong của đình làng Biên Hòa -
Đồng Nai bị thiêu hủy từ kháng chiến chống Pháp khi thực hiện chủ trương tiêu thổ
kháng chiến. Đối với vận mệnh đất nước, người dân chấp nhận hy sinh bằng cách tự
đốt đình để không cho quân xâm lược chiếm lấy đóng giữ. Sắc thần trong thời kỳ
chiến tranh loạn lạc cũng bị đốt cháy, thất lạc.
Tình trạng mất cắp thường do để khẳng định tính giá trị của ngôi đình mà
nhiều người của làng có đình mà không có sắc phong thường thông qua nhiều cách để
lấy đem về cho đình làng mình. Nhiều trường hợp, một số đối tượng khi lấy xong thì
sợ bị thần Thành hoàng quở phạt nên đã tìm cách trả lại. Nhiều câu chuyện xung
quanh việc thần Thành hoàng “quở phạt” nặng đối với những người phạm thượng
nơi thờ tự danh thần, lấy cắp sắc phong được truyền tụng trong dân gian cũng đã góp
phần làm cho những kẻ tà trả lại sắc phong đã lấy cắp.

10.3 Page 93

▲back to top
Nhiều đình có sắc phong thường không bảo quản tại đình. Để giữ cho chu đáo,
một người có uy tín trong làng, có điều kiện tốt được giao cho bảo quản. Được cất
giữ sắc thần của đình trong nhà là niềm vinh dự và trọng trách lớn. Đối với sắc
phong, người dân xem chúng có giá trị và rất tôn trọng như sự hiện diện của chính vị
thần Thành hoàng của làng xã. Cho nên, khi đình tổ chức lễ, nghi thức thỉnh sắc điện
đình rất trang trọng tạo nên sắc thái cho ngày hội đình.
Nhân nói về cách quan niệm giá trị sắc phong cho đình, mà không ít nơi có
đình làng hiện nay không có sắc phong đã tìm nhiều cách làm hoặc mua sắc phong
cho đình làng của mình. Đình có sắc phong thật như một minh chứng cho nguồn gốc
của đình. Nhưng điều kiện đó chưa đủ để một công trình đình trở thành một di tích
lịch sử, kiến trúc nếu tự thân chưa hội đủ những yếu tố này. Trong thời gian qua, một
số đình đã mua hay làm giả những sắc thần rồi trình báo cho việc xin xếp hạng di tích
hay khẳng định niên đại cổ của ngôi đình. Khi được báo tin, cơ quan chuyên môn đã
phát hiện ra điều này. Phải cần biết thêm rằng những sắc phong của triều Nguyễn có
những định chuẩn để phân biệt rõ ràng.
Lễ hội cúng đình thể hiện phần hồn của đình. Lễ Kỳ yên là lễ chính của đình
với mục đích là cầu an như: quốc thái dân an (đất nước, người dân xứ sở yên bình),
phong điều vũ thuận (mưa gió thuận hòa), phong đăng hòa cốc (mùa màng tết tươi);
đồng thời có những nghi thức tống ôn, tống phong để bảo vệ làng xã.
Mỗi đình định ngày cúng Kỳ yên riêng, phổ biến là trong 3 tháng đầu năm
hoặc 3 tháng cuối năm tính theo âm lịch. Một số đình làng thờ nhân thần thì chọn
những ngày liên quan đến đối tượng thờ tổ chức lễ cúng. Lễ hội thường diễn ra trong
3 ngày, gồm có các lễ chính như Túc yết, Đàn cả (Đoàn cả), Tiền hiền - Hậu hiền.
Thường đáo lệ 3 năm, dân làng tổ chức tại đình đại lễ Kỳ yên. Trong đại lễ Kỳ yên,
ngoài những lễ chính trong các kỳ cúng Kỳ yên hằng năm còn có những nghi thức
thỉnh, khánh sắc, xây chầu đại bội, hồi sắc đưa khách...
Ở Bến Gỗ (xã An Hòa, huyện Long Thành), lễ hội Kỳ yên cuốn hút đông đảo
quần chúng tham gia. Tại đình An Hòa, gánh hát ở địa phương biểu diễn những câu
chuyện lịch sử, tích xưa. Hai bên bờ sông, dân làng hào hứng chen nhau xem hội đua
thuyền. Đêm đến, nghi cúng xô giàn cầu lợi cuốn hút nhiều người tham dự tạo nên

10.4 Page 94

▲back to top
một không khí náo nhiệt, vui tươi. Tại đình Mỹ Khánh, nơi thờ danh nhân Nguyễn
Tri Phương, dân làng thức đến canh ba, dưới ánh trăng để tồ chức lễ hạ thuyền. Một
chiếc thuyền được trang trí hàng trăm ngọn nến lung linh với cờ hoa lộng lẫy được hạ
thủy nơi bến sông trước đình rồi trôi dần theo con nước. Dân làng đứng trên bờ mà
hoài niệm về tổ tiên, những con người không quản gian lao để dựng cơ lập nghiệp
đồng thời cũng mong tống tiễn ôn phong, dịch bệnh, mơ ước về cuộc sống yên bình,
hạnh phúc.
Những nghi thức trong lễ hội Kỳ yên được tổ chức long trọng với các nghi
thức tuân theo điều lệ của triều đình phong kiến qui định trước đây. Các nghi cúng
được Ban Tế tự và các học trò lễ thể hiện trang nghiêm, phối hợp nhịp nhàng theo
trình tự cụ thể. Những sinh hoạt văn hóa như hát bộ, mua lân, đua thuyền, đấu võ
được người dân tham gia, hưởng ứng nhiệt tình. Trong những ngày hội, dân làng
tham gia như quên hết những âu lo, cực nhọc đời thường, hội nhập vào không khí
thiêng liêng của lễ hội nhưng cũng rất gần gũi trong nếp sinh hoạt thường nhật của
mình. Lễ hội đã tạo nên niềm vui và là dịp cho mọi người hoài niệm công đức các
bậc tiền hiền, hậu hiền, cha ông đi trước có công khởi dựng cơ nghiệp cho làng xã,
đồng thời thể hiện nghĩa tình, sự gắn kết cộng đồng trong mối gian cảm với nhau.
Hiện nay, trên địa bàn Đồng Nai có nhiều ngôi đình đã được Nhà nước xếp
hạng di tích quốc gia. Những ngôi đình này hội đủ những tiêu chí cho việc xếp hạng,
thuộc loại hình lịch sử, kiến trúc, danh nhân như. đình An Hòa thuộc huyện Long
Thành đình Mỹ Khánh (đền thờ Nguyễn Tri Phương) thuộc phường Bửu Hòa, đình
Bình Kính (đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh) thuộc xã Hiệp Hòa, đình Tân Lân (thờ Trần
Thượng Xuyên) thuộc phường Hòa Bình, đình Tam Hiệp (đền thờ Đoàn Văn Cự) đều
thuộc thành phố Biên Hòa.
Bên cạnh các đình được xếp hạng di tích, ở Đồng Nai vẫn còn nhiều ngôi đình
có giá trị lịch sử, văn hoá. Đây là những di sản văn hoá cần được giữ gìn, tôn tạo.
Những di tích đình ở Đồng Nai được xây dựng sớm và trải qua nhiều lần trùng
tu. Vì vậy, việc bảo lưu kiến trúc ban đầu là không thể. Trải qua nhiều thời gian tồn
tại, đình làng ở Biên Hòa - Đồng Nai cùng “lớn lên” với sự phát triển của cộng đồng

10.5 Page 95

▲back to top
dân cư, tiến trình lịch sử của vùng đất này. Ngôi đình làng ẩn chứa những giá trị di
sản truyền thống cần được bảo tồn và phát huy trong đời sống hiện tại.
2. Những ngôi tính được liệt hạng di tích quốc gia (Dựa theo tài liệu Đồng Nai
di tích lịch sử văn hóa )
2.1. Đình An Hòa
Đình An Hòa xưa kia thuộc làng Bến Gỗ, nay thuộc xã An Hòa, huyện Long
Thành, tỉnh Đồng Nai. Đình An Hòa được khởi dựng vào thời gian nào thật khó mà
khảo chứng chính xác. Các cụ già cho biết, trên xà kèo nhà võ ca có khắc năm dựng
miếu vào năm 1792. Điều này cho thấy, chí ít đình An Hòa nguyên thủy là ngôi miếu
được xây dựng năm 1792. Đình An Hòa đã trải qua 3 lần trùng tu lớn:
Lần thứ nhất, vào năm 1944: các cột chính trong đình được nối dài thêm 1 mét
để nâng cao chánh điện và mái đình. Nền nâng cao thêm 0,3 mét để tránh ngập lụt khi
mùa mưa đến.
Lần thứ hai, vào năm 1953: quân Pháp chiếm đình làm đồn, khi trả lại cho dân,
chúng phải xuất tiền đền bù để các bô lão và nhân dân trong làng sửa chữa lại một số
hạng mục như: thay đòn tay, lót gạch bông ở tam cấp, tô lại đầu rùa bên phải mái
đình. Cũng dịp này nhân dân sở tại đóng góp công của xây dựng thêm nhà võ ca ở
phía trước chánh điện.
Lần thứ ba, vào năm 1994: sau khi đình An Hòa được Nhà nước xếp hạng là di
tích quốc gia, cũng là thời kỳ ngôi đình bị xuống cấp nghiêm trọng. Bộ Vật hóa
Thông tin, Cục Bảo tồn Bảo tàng đã cấp 400 triệu đồng cùng với nguồn kinh phí hỗ
trợ của địa phương, Nhà Bảo tàng đã trùng tu lại ngôi đình khang trang, bề thế như
hiện tại.
Đình An Hòa thờ Thành hoàng bổn cảnh, vị thần bảo trợ làng và những vị tiền
hiền, hậu hiền... có công khai phá, mở mang làng, xã. Nhân dân sở tại hàng năm đến
đình cúng bái cầu cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, cuộc sống bình an, thịnh
vượng, ấm no, hạnh phúc.
Đình An Hòa xây dựng theo hướng đông - nam, ban đầu kiểu chữ nhị (=) gồm
một chánh điện và tiền bái. Sau này hai bộ phận trên được nối với nhau bằng một nhà
cầu (nơi hành lễ ) nên trở thành chữ công (I).

10.6 Page 96

▲back to top
Mái đình lợp ngói âm dương, đỉnh chánh điện có gắn cặp rồng chầu pháp lam
bằng gốm men màu. Nền lót gạch tàu, chia làm ba gian rõ rệt. Từ nhà võ ca nhìn vào
chánh điện sẽ thấy ở gian giữa là những cặp liễn, hoành phi chữ Hán, xung quanh
chạm khắc hoa văn tinh xảo, sơn son thếp vàng nổi bật trên hai hàng cột và xà ngang
chạy suốt chiều dài 47 mét của khu chánh điện làm cho ngôi đình trở nên trang
nghiêm và huyền bí.
Chánh điện: là loại nhà 3 gian 2 chái truyền thống ở Nam Bộ. Chái phía sau
bàn thờ thần (dãy hàng hiên sau) là hậu trường, đây là nơi phục vụ việc tế lễ. Gian
giữa thờ thần. Hương án bằng gỗ sơn son thếp vàng, chạm khắc hoa lá, rồng uốn
lượn. Khám thờ mang hàng chữ “Vạn cổ anh linh”. Bên trong là một đại tự lớn, chữ
“Thần” viết bằng mực đen trên nền đỏ. Phía dưới là chiếc hộp sắt, sơn đỏ trong đựng
sắc thần nội dung như sau:
“Sắc An Hòa thành hoàng chi thần, nguyên tặng Bảo An, Chính Trực, Hữu
Thiện, Đôn Ngưng, chi Thần...
Nhưng chuẩn Long Thành huyện, An Hòa thôn, y cựu phụng sự thần, kỳ trương
bảo ngã lê dân
Khâm sai”
Ấn có chữ: Sắc mệnh chỉ bảo
Tự Đức ngũ niên, thập nhất nguyệt, nhị thập cửu nhật.
Tạm dịch:
Sắc phong thần Thành Hoàng An Hòa, trước (đã) tặng là thần: Bảo An, Chính
Trực, Hữu Thiện, giữ nước, giúp dân, linh ứng tính đã lâu. Ta (nay) ít đức, lãnh mệnh
(tư dân), luôn nghĩ đến thần nên tặng thêm là thần: Bảo An, Chính trực, Hữu Thiện,
Đôn Ngưng.
Nhưng cho thôn An Hòa, huyện Long Thành thờ phụng thần như cũ, để thần
bảo vệ (lê) dân của ta
Kính vậy thay
Ngày 29 tháng 11 năm Tự Đức thứ năm (29/1/1852).
Nét đặc sắc nhất của ngôi đình là nghệ thuật chạm khắc, trang trí hoa văn ở
khu chánh điện. Các khối gỗ được các nghệ nhân chạm trổ, bố cục và thể hiện hài hòa

10.7 Page 97

▲back to top
các đề tài truyền thống trong nghệ thuật điêu khắc Việt Nam. Toàn bộ các đầu dư, trụ
đỡ, xà ngang, bức còn... của đình đều được tạc hình đầu rồng và lưỡng long chầu
nhật, cúc liên chi, mây sóng nước, dơi ngư lâm môn... biểu tượng ước mơ thịnh
vượng, tết lành ngàn đời của nhân dân Việt Nam. Các đường nét chạm khắc rất uyển
chuyển tinh tế, sống động như được vẽ trên giấy mang đậm màu sắc dân gian. Đáng
chú ý nhất là hình ảnh lưỡng long chầu nhật ở xà ngang gian giữa trước chánh điện
đã được cách điệu hóa: đầu rồng thân là xương cá đao nối thành hai khúc, đối xứng
với bông cúc viền quanh và mây sóng nước, hoa lá... Toàn bộ mảng trang trí này
được trạm khắc rất tinh xảo như thể hiện nghề chài lưới của nhân dân địa phương xưa
kia.
Nhà cầu: là nơi hành lễ. Nhà cầu là cầu nối giữa chánh điện và nhà bái. Nhà
cầu ngoài chức năng là nơi hành lễ còn thờ Tiên sư và Thổ công.
Nhà bái: còn gọi là tiền bái hay tiền đường. Nhà bái và nhà cầu được thông
liền với nhau nhưng được phân định bởi một hàng đá. Phía trước là ba cửa bằng gỗ để
vào đình. Nhà bái được tạo dựng hởi hai hàng cột gỗ tròn lớn ở gian giữa và hai hàng
cột gỗ vuông ở hai gian bên.
Nhà võ ca: được xây riêng biệt ở sân đình mặt tiền đối diện với chánh điện.
Nhà võ ca xây dựng đơn giản không có tường bao quanh, chỉ có một sân khấu để diễn
hát bội và nghi lễ cúng thần. Nhà võ ca đều đối diện với chánh điện để khi diễn hát
bội, hoặc diễn trò người trình diễn đối mặt với thần còn thần Thành hoàng cũng chỉ là
một khán giả cùng ngồi xem với dân. Cách bố trí này tạo sự gần gũi, thân thiện giữa
thần với dân.
Về mặt tạo hình, đình An Hòa được xem là gương mặt tiêu biểu của nghệ thuật
kiến trúc cổ ở Đồng Nai và tiêu biểu cho kiểu dáng đình ở một vùng Nam Bộ. Đình
An Hòa là nơi bảo tồn khá nguyên vẹn những đặc điểm của nền kiến trúc dân tộc,
không chịu ảnh hưởng của kiến trúc Trung Hoa như một số ngôi đình khác.
Hàng năm, vào rằm tháng tám (âm lịch), đình An Hòa diễn ra lễ rước thần theo
nghi thức truyền thống cuốn hút đông đảo người dân tham dự.
2.2. Đình Bình Kính(còn gọi là Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh)

10.8 Page 98

▲back to top
Di tích lịch sử tồn tại hơn ba thế kỷ ở vùng đất Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa.
Đình tọa lạc trên diện tích đất rộng, bên tả của nhánh sông ôm trọn Cù Lao Phố, dưới
chân cầu Ghềnh, mặt tiền nhìn về hướng tây nam, soi bóng xuống dòng nước Đồng
Nai trong xanh, hiền hòa.
Ngôi đền được dựng vào năm nào, ngày nay chưa có văn liệu nào đề cập cụ
thể. Chắc rằng, sau khi Nguyễn Hữu Cảnh mất, người dân thôn Bình Hoành cảm nhớ
vị công thần của nước nhà có công lớn đối với vùng Biên Hòa - Đồng Nai nên mới
dựng ngôi đền thờ. Ban đầu, ngôi đền nhỏ, được làm từ vách ván, mái lợp ngói âm
dương. Sử sách có ghi chép về di tích với tên gọi là đền Lễ Công như sau: “... ở phía
nam Cù Lao Phố, thuộc thôn Bình Hoành, huyện Phước Chín, thờ khai quốc công
thần Tráng Hoàn hầu Nguyên Hữu Kính (Cảnh)... Đền trông ra sông Phước Giang,
lấy đá ngầm làm thủy thành, dưới có cá chép lạ, lớn 6,7 thước, cứ đêm khuya tĩnh
mịch, thường hướng vào đền, quãy nhảy dưới sông bơi lội ngược xuôi như hình múa
lạy. Sau qua loạn Tây Sơn, hương tàn khói lạnh.
Đầu đời Trung hưng, cấp cho 10 người từ phu, hàng năm cho tiền công tế vào mùa
xuân, cầu đảo thường linh ứng, năm Tự Đức thứ tư quan tỉnh tâu rằng đền lâu ngày
mục nát, lại bị nước xói, phụng mệnh cấp cho 400 quan tiền giao dân sở tại mua vật
liệu, dựng lại đền ở sau cách 10 trượng...”(8) Tư liệu trên cho thấy thời bấy giờ đền
Lễ Công có một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Biên Hòa -
Đồng Nai. Kiến trúc ban đầu của đền không còn lưu giữ được do sự hủy hoại của tự
nhiên. Năm 1851, đền được xây lại và cách vị trí cũ khoảng 400 mét. Hơn 100 năm
sau, đền được tu sửa bao nhiêu lần không ai rõ. Năm 1960, Ban Quý tế đền đứng ra
chủ trì việc trùng tu. Trước chánh điện mở thêm hành lang rộng 2 mét, các cột chính
được đắp rồng, các cửa gỗ được thay bằng cửa sắt kéo, mái lợp ngói âm dương thay
cho loại vảy cá trước đây. Kiến trúc hiện tồn của di tích thuộc vào niên đại này, lối
kiến trúc tương đối hiện đại, các nét xưa còn lại ít có chăng là ở nội thất trong các
trang trí hoa văn, đồ thờ.
Di tích đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh xây theo dạng chữ đinh, mặt tiền hướng ra
sông Đồng Nai, phía tây nam. Chánh điện đền hình vuông, tường gạch trát đá rửa,
8 Đại Nam nhất thống chí, tập 5, Quốc sử quán triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, 1992, trang 76.

10.9 Page 99

▲back to top
bốn mái lợp ngói vẩy cá, nền lát gạch tàu. Phía trước mái đền gắn đôi rồng chầu pháp
lam bằng gốm men xanh, đối xứng hai bên là cặp lân. Hàng cột hành lang mặt trước
được đắp trang trí hình ảnh rồng cuộn, chầu đối nhau bằng chất liệu xi măng, sơn
phết rực rỡ. Từ ngoài vào theo lối chính có ba cửa. Hai bên cửa có khắc chìm hàng
chữ Hán với nội dung nói về đền thờ Bình Kính, công lao của Nguyễn Hữu Cảnh với
vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai.
Nội điện có ba hàng cột gỗ lớn. Trên các cột đều có treo liễn đối. Các hoành
phi thể hiện dưới dạng đại tự chữ Hán, liễn đối được trang trí hoa văn sơn son thếp
vàng vẫn giữ tươi màu dù đã trải qua nhiều năm tháng. Dưới những hoành phi là
những bao lam gỗ được chạm trổ các đề tài lưỡng long chầu nhật, hoa chim sơn kim
nhũ óng ánh. Gian giữa chánh điện thờ thần, hai bên thờ tả ban, hữu ban liệt vị. Một
góc bên bàn thờ có tủ kiếng giữ bộ áo mão tương truyền là của Đức ông Nguyễn Hữu
Cảnh thuở sinh thời. Trước bàn thờ thần là bàn La liệt, bàn thờ Hội đồng xung quanh
đắp nổi bộ tứ linh và ở trên có đôi hạc và lưỡng long. Gian giữa bày hai hàng bát bửu
bằng đồng. Dọc theo bờ tường hai bên có bốn bệ bằng xi măng thờ các bậc tiền hiền,
hậu hiền, thế hiền và Thánh nương mẫu.
Điểm nổi bật trong nội điện về điêu khắc gỗ là các hương án được thực hiện
công phu, dụng công nhiều của các nghệ nhân khi thể hiện các đề tài rồng chầu, tứ
linh, muông thú, hoa lá… rất tinh vi, sắc sảo.
Phía sau chánh điện là khu nhà khách, nhà bếp và nhà kho. Đền thờ Nguyễn
Hữu Cảnh là một trong số ít những di tích ở Biên Hòa còn lưu giữ được sắc thần,
trong đó ghi rõ tên họ, chức tước vinh hiển, thứ bậc Thượng đẳng thần của vua ban
phong cho Nguyễn Hữu Cảnh.
Nguyễn Hữu Cảnh sinh năm 1650, tại xã Chương Tín, huyện Phong Lộc (nay
là xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình). Từ thuở nhỏ, ông thông minh,
học giỏi, sớm rèn luyện tài thao lược, văn võ song toàn. Lớn lên, ông theo cha là Tiết
chế Chiêu Võ hầu Nguyễn Hữu Dật tham gia nhiều trận mạc, lập nên công lớn, được
chúa Nguyễn tin yêu, phong Chưởng Cai cơ. Năm 1698 (Mậu Dần), Nguyễn Hữu
Cảnh được Chúa Nguyễn Phúc Chu cử vào kinh lược vùng đất phương Nam. Ông đặt
bản doanh tại Cù Lao Phố, cùng các quan chức dưới quyền lập bộ máy hành chánh, tổ

10.10 Page 100

▲back to top
chức cai trị từng bước có quy củ ông đặt Nam Bộ làm phủ Gia Định, lấy xứ Đồng Nai
làm huyện Phước Long, đặt dinh Trấn Biên; lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, đặt
dinh Phiên Trấn. Dù thời gian chuyến kinh lược ngắn nhưng Nguyễn Hữu Cảnh đã
thực hiện những công việc quan trọng và có ý nghĩa lớn đối với công cuộc khai khẩn
toàn vùng Nam Bộ. Từ một vùng lưu dân tự phát, Nguyễn Hữu Cảnh định hướng
phát triển, thu nạp, chiêu mộ thêm dân từ vùng Ngũ Quảng, khai khẩn ruộng đất, đặt
đơn vị phường xã, chuẩn định thuế, lập bộ tịch đinh điền... tạo cơ sở cho việc phát
triển vùng đất Đồng Nai, chính thức hóa nền hành chánh nơi đây vào bản đồ nước
Việt.
Cuối năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh được triều đình triệu về trấn giữ dinh Bình
Khương (Khang) (thuộc Khánh Hòa ngày nay). Tháng 7 năm 1699 (Kỷ Mão), do vua
Nặc Thu của Chân Lạp chống lại chúa Nguyễn, Nguyễn Hữu Cảnh và một số tướng
lĩnh được cử đi dẹp loạn. Hoàn thành sứ mệnh, Nguyễn Hữu Cảnh cùng đại quân trở
về. Trên đường, đại quân đóng tại đồn Cây Sao (thuộc cù lao Ông Chưởng, địa phận
tỉnh An Giang ngày nay). Tại đây, Nguyễn Hữu Cảnh bị bệnh. Ngày 16 tháng 5 năm
1700 (Canh Thân), ông qua đời tại Sầm Giang (Rạch Gầm). Linh cữu đưa về bản
doanh Cù Lao Phố huyền táng. Chúa Nguyễn truy tặng Nguyễn Hữu Cảnh Hiệp tán
công thần, đặc tiến Chưởng dinh, Tráng Hoàn hầu. Thời vua Nguyễn, Nguyễn Hữu
Cảnh được truy phong Thượng đắng công thần đặc Trấn phủ quốc Chưởng cơ với
tước Lễ Thành hầu.
Khi Nguyễn Hữu Cảnh mất, nhân dân Biên Hòa thương kính, tỏ lòng biết ơn
đã đồng tâm lập miếu võ trang nghiêm, tôn thờ ông như vị Thành hoàng đầy hiển
linh, luôn giúp cho xứ sở bình an, thịnh vượng. Nơi huyền táng linh cữu ông tại Cù
Lao Phố, người dân địa phương xây ngôi mộ để tưởng vọng nằm ở phía đông của đền
khoảng 50 mét. Ngôi mộ xây theo hình khối chữ nhật, nguyên thủy bằng hợp chất,
sau được tô một lớp xi măng. Tường bao xung quanh có cột bình phong và lân chầu.
Hàng năm, tại đền, người dân địa phương tổ chức hai lần lễ tế (tính theo âm lịch) vào
các ngày 16/5 và ngày 11/11 , cầu cho quốc thái dân an và tưởng nhớ công lao của
bậc tiền nhân có công mở mang vùng đất phương Nam của Tổ quốc.

11 Pages 101-110

▲back to top

11.1 Page 101

▲back to top
Trong dịp lễ kỷ niệm 300 năm (1698-1998) hình thành và phát triển vùng đất
Biên Hòa -Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai xây dựng nhà bia trong phạm vi di tích đền thờ
Nguyễn Hữu Cảnh. Đây là một công trình văn hóa, tưởng nhớ công đức các bậc tiền
nhân có công khai phá, xây dựng và phát huy truyền thống anh dũng của quân dân
Đồng Nai trong công cuộc bảo vệ, xây dựng vùng đất này. Công trình Nhà văn bia
được xây dựng hiện đại, theo lối kiến trúc truyền thống, gắn liền trong phạm vi di
tích, tạo nên một cảnh quan đẹp đẽ, hài hòa và gần gũi với con người. Nơi đây trở
thành một địa điểm sinh hoạt văn hóa lành mạnh, thu hút nhiều người đến sinh hoạt,
vui chơi tham quan.
2.3. Đình Tam Hiệp (còn gọi là Đền thờ Đoàn Văn Cự)
Di tích liên quan đến cuộc đời của Đoàn Văn Cự gồm hai phần: mộ và đình
Tam Hiệp.
Tại phường Tam Hiệp, trên Quốc lộ 15, một ngôi đình cũng được xây cất từ
năm 1956 làm chỗ tôn thờ Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh, cách phần mộ khoảng
1km về hướng đông bắc 640. Đền tọa lạc trên khu đất bằng phẳng, rộng 3.000m2, kiến
trúc theo kiểu chữ tam, gồm hai phần chính: nhà võ ca và chánh điện.
Nhà võ ca đối diện với đền thờ chính. Bên trong có sân khấu nhỏ dùng để hát
bội trong những dịp lễ đền. Mặt sân khấu đối diện với chánh điện.
Trước khi vào chánh điện phải qua nhà bái. Đây là nơi khách thập phương ra
vào hành lễ, mái lợp ngói móc, nền cao xây bằng đá ong lót gạch bông, được chia
làm ba gian, mỗi gian đều có bàn hương án. Trước đền có cặp lý ngư hóa long chầu
mặt trời, biểu tượng cuốn thư, cây giáo, hai bên là hai con rồng bằng gốm men xanh.
Nối tiếp nhà bái là chánh điện, gồm bốn mái lợp ngói móc, trên nóc có cặp
rồng chầu pháp lam, chia thành ba gian bồi những hàng cột gỗ san, trên cột đều có
liễn đối. Gian chính giữa thờ thần, bàn hương án bằng gỗ khắc chạm rồng chầu mặt
trời, chim muông... được sơn son thếp vàng, hai bên là hàng bát bửu. Hai gian bên
thờ tả hữu ban liệt vị. Dọc mặt tường tả hữu thờ tiền hiền, bạch mã, Tiên sư, Thổ
công.
Phía sau chánh điện là nhà khách và nhà bếp. Nơi đây dùng để tiếp khách và
nấu ăn trong những ngày lễ trọng.

11.2 Page 102

▲back to top
Phần mộ là nơi an táng Đoàn Văn Cự, thủ lĩnh hội kín “Thiên Địa hội” ở Biên
Hòa và 16 nghĩa binh tử vong trong trận tấn công của Pháp vào bưng Kiệu năm 1905.
Đây cũng là nơi mà lúc sinh tiền Đoàn Văn cự xây dựng căn cứ kháng chiến. Mộ tọa
lạc trên khu bình địa tổng kho Long Bình, phường Long Bình, cách trung tâm thành
phố Biên Hòa 8km đường chim bay. Nguyên thủy chỉ là nấm mồ chôn cất đơn sơ
năm 1956 và 1990 được nhân dân trùng tu lại theo lối xây cất mới. Mộ hình chữ nhật.
Phía sau là ngôi miếu nhỏ thờ hương hồn Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh, bài trí đơn
giản. Khu mộ được bảo vệ bởi hai vòng rào bằng gạch có cổng ra vào. Gần như bao
quanh khu mộ là dòng Linh tuyền, tiếng nước róc rách suốt ngày đêm đưa hồn các tử
sĩ vào cõi vĩnh hằng.
Đoàn Văn Cự lãnh đạo hội kín “Thiên Địa hội” ở Biên Hòa, một tổ chức yêu
nước chống ách thống trị của thực dân Pháp. Ông đã quy tụ được đông đảo lực lượng
nghĩa quân tiến hành cuộc kháng chiến trong những năm đầu thế kỷ XX. Tuy thực
dân Pháp nhanh chóng dập tắt nhưng hoạt động của ông đã có ảnh hưởng sâu rộng ở
vùng miền Đông Nam Bộ trong những thập niên đầu thế kỷ XX.
Thời gian cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, ở Nam Kỳ có nhiều hội yêu nước
của nhân dân rất bí mật, báo chí gọi là “hội kín”, về sau gọi là “Thiên Địa hội”. Thật
ra, các hội đó không mang một tên thống nhất nào, mà có nhiều tên gọi khác nhau.
Hội hoạt động riêng lẻ liên lạc ngang với nhau, khi có điều kiện thì kết hợp thành hệ
thống dọc như một lực lượng yêu nước mạnh mẽ. Mục đích là đánh đuổi ngoại bang,
giành độc lập, thiết lập chế độ quân chủ, khẩu hiệu đấu tranh là “Bài Pháp phục
Nam”. Hình thức đấu tranh là bạo động. Các tổ chức này còn chịu ảnh hưởng sâu của
hệ tư tưởng và đạo đức phong kiến pha màu thần bí.
Vốn giàu lòng yêu nước, nhân dân Nam Kỳ lục anh đã nhanh chóng biến hội
kín thành hình thức hoạt động khá phổ biến để đấu tranh quyết liệt với giặc vào cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Trong tình hình chung của phong trào Nam Bộ lúc bấy giờ, nhân dân Biên Hòa
hưởng ứng nhiệt thành phong trào chống Pháp của “Thiên Địa hội”, mở đầu là tổ
chức hội kín của Đoàn Văn Cự tại vùng bưng Kiệu, thôn Vĩnh Cửu.

11.3 Page 103

▲back to top
Đoàn Văn Cự sinh năm 1835 tại làng Bình An, huyện Bình An, tỉnh Biên Hòa
(nay là quận Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh) trong gia đình nho học yêu nước. Bị
Pháp và bọn tay chân theo dõi, ông lánh giặc đến tá ngụ ở bưng Kiệu, thôn Vĩnh Cửu
(nay là phường Long Bình, thành phố Biên Hòa) mưu đồ đại sự. Nguy trang dưới
nghề dạy học, cắt thuốc kiêm coi bói, ông ngấm ngầm tập hợp lực lượng, tích trữ vũ
khí, lương thảo. Đội ngũ chống Pháp của ông rải khắp cả miền Đông Nam Kỳ, đông
nhất là Chợ Đồn, Chợ Chiếu (Cù Lao Phố), Bình Đa, Vĩnh Cửa đến núi Nứa (Bà
Rịa). Lực lượng ngày càng hùng hậu, hoạt động của ông dần đến chỗ công khai nơi
bưng rừng khuất tịch. Tất nhiên không tránh khỏi sự dòm ngó, theo dõi của chính
quyền thực dân.
Để ngăn chặn ảnh hưởng và dập tắt phong trào ngay từ trong trứng nước, sáng
ngày 12/4/1905 (dương lịch), một tiểu đội lính mã tà do tên sen đầm chỉ huy kẻo
xuống bao vây căn cứ bưng Kiệu. Đoàn Văn Cự bố trí nghĩa quân do các tướng
Hoàng Mè , Hoàng Giáp chỉ huy chuẩn bị đón đánh giặc. Phục binh cả ngày mà
không thấy giặc động tĩnh, đến chiều tối, ông ra lệnh cho nghĩa quân về ăn cơm.
Đúng lúc không còn quân canh phòng, giặc Pháp rầm rộ kẻo đến, một toán quân khá
đông bao vây nhà ông. Tên quan ba cùng tốp lính vượt suối Linh tiến vào. Đến
ngưỡng cửa, chúng gặp ông trong bộ chiến phục oai nghi: đầu chít khăn lụa điều,
mình buộc thắt lưng màu hồng, giắt đoàn đao đầu hổ. Thấy địch ông vung đao chém
tên quan ba Pháp bị thương. Hắn rút súng bắn lại, Đoàn Văn Cự trúng đạn hy sinh
trước bàn thờ Tổ. Lúc bấy giờ, đã bảy mươi tuổi mà tướng mạo ông hãy còn phương
phi, nằm chết trên vũng máu với vẻ hiên ngang của một trang võ tướng.
Pháp xả súng vào căn cứ nghĩa quân, đốt phá lương thực. Thêm 16 người bi
trúng đạn chết trong cơn tán loạn. Hôm sau, dân làng an táng 17 liệt sĩ vào ngôi mộ
chung.
Người dân Biên Hòa - Đồng Nai tỏ lòng biết ơn cụ Đoan Văn Cự nên đã lập
mộ và thờ cụ tại đình của làng Tam Hiệp. Đáo lệ hàng năm, đến ngày 8 tháng 4 âm
lịch, nhân dân địa phương thiết lễ giỗ bằng một độ tế rất long trọng, tưởng nhớ hùng
khí của Đoàn Văn Cự và 16 tử sĩ vì đại cuộc xả thân.
2.4. Đình Mỹ Khánh (Còn gọi là Đền thờ Nguyễn Tri Phương)

11.4 Page 104

▲back to top
Đình Mỹ Khánh tọa lạc bên bờ hữu ngạn sông Đồng Nai thuộc địa phận
phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa (nguyên trước kia là làng Mỹ Khánh, dinh
Trấn Biên). Xung quanh ngôi đình là cảnh cây, sông nước hữu tình, phía trước có
rừng dương liễu ngày đêm vờn gió vi vu, phía trên có đường thiên lý Bắc Nam (Quốc
lộ I cũ) vượt qua sông Đồng Nai bằng cầu Ghềnh, bao bọc phía sau là cả vành đai
khu dân cư với vườn cây trái sum suê.
Hiện hữu trong một không gian thoáng rộng nên thơ, đồng hành với thời gian
nhiều biến cố, đình Mỹ Khánh trở thành một ấn tích đẹp đẽ một biểu tượng thiêng
liêng của con người Đồng Nai vốn có truyền thống thủy chung với tổ tiên. Tại đây, có
ngôi miếu nhỏ tên là Mỹ Khánh được nhân dân địa phương dựng nên để thờ thần
Thành hoàng bổn cảnh cầu xin mưa gió thuận hòa, cuộc sống ấm no hạnh phúc. Đến
đầu khoảng thế kỷ XIX (1803), ngôi miếu được nhân dân sở tại xây dựng thành ngôi
đền. Từ đó, cho đến nay, ngôi đền được nhiều lần trùng tu khang trang như hiện nay.
Tương truyền, vào năm 1861, nhân dân địa phương có thờ cụ Tán lý Định Biên
Nguyễn Duy - một tướng tài được triều đình Nguyễn cử vào lo việc chống quân Pháp
xâm lược. Trong trận đánh giặc pháp tấn công đồn Chí Hòa, Nguyễn Duy tử trận “thi
hài tan nát không phân biệt được có người nhận ra dấu áo và đai lưng của ông bèn
đem về chôn tạm ngoài cửa Đông thành Biên Hòa”. Về sau, vua Tự Đức thương xót
bề tôi tuẫn tiết, giao cho danh tướng Nguyễn Tri Phương (anh ruột của Nguyễn Duy)
đích thân trông coi việc cải táng, đưa quan cữu của Nguyễn Duy về quê Đường Long
an táng. Sau khi cải táng, nhân dân tại Biên Hòa đắp lại chỗ cũ một ngôi mộ để thờ.
Năm 1873, khi danh tướng Nguyễn Tri Phương mất, để tỏ lòng ngưỡng mộ và
thương tiếc vị anh hùng đã có công trong việc di dân lập ấp, mở mang lãnh thổ Đàng
Trong, cùng với Nguyễn Duy làm vẻ vang thêm trang sử Biên Hòa, nhân dân tạc
tượng Nguyễn Tri Phương và thờ ông tại đình. Từ đó, Mỹ Khánh đình được gọi là
đền thờ Nguyễn Tri Phương. Đứng ở phía Tây của cầu Gềnh vượt qua sông Đồng
Nai, nhìn xuống phía hữu ngạn, ta sẽ thấy một bức - tranh hoành tráng mỹ lệ lung
linh giữa trời nước mênh mông. Ngôi đền tọa lạc trên một khu đất rộng, khá bằng
phẳng, in bóng xuống dòng sông Đồng Nai giữa những cây cổ thụ và khu dân cư
đông đúc. Mặt trước của đình nhìn ra sông Đồng Nai, theo hướng đông bắc. Bờ bên

11.5 Page 105

▲back to top
kia, Cù Lao Phố sầm uất với những vườn cây trái xanh tươi. Trước đình có khoảng
sân rộng tráng xi măng, hai bên có bàn thờ Thần nông và Đài chiến sĩ. Đình Mỹ
Khánh được xây dựng theo lối kiến trúc hình chữ công gồm ba phần: tiền đình, chánh
điện và nhà khách. Xung quanh đình có hàng rào bảo vệ xây bằng gạch khá vững
chắc. Họ tộc Nguyễn Tri tại Thành phố Hồ Chí Minh đã dựng bia khắc ghi công
trạng của Nguyễn Tri Phương dựng trước sân đình.
Mái đình lợp ngói vảy cá. Mặt trước của đền được đắp nổi với dòng chữ: Mỹ
Khánh đình bằng chữ Hán và hai bên là cặp Lý ngư hoá long, nhật nguyệt. Trên đỉnh
cao của chánh điện trang trí hình ảnh lưỡng long tranh châu hai bên có cặp phụng
nghinh bằng gốm men xanh. Từ ngoài nhìn vào ta thấy sự uy nghi bề thế của đình. Ở
giữa là các tấm bao lam bằng gỗ được điêu khắc đề tài hoa điều, tứ linh rất công phu.
Các bức liễn và hoành phi khắc chữ Hán, sơn son thếp vàng treo khắp cột và xà
ngang theo chiều dài khu chánh điện.
Chánh điện của đình ngày đêm nhang khói nghi ngút, hai bên thờ tả ban, hữu
ban liệt vị... Bàn hương án có điểm khắc lưỡng long triều nhạt, mô úp hoa văn dây,
hoa, lá được cách điệu rất tinh tế. Bàn la liệt bằng đá. Trước bàn thờ có đặt ngai gỗ
chạm khắc tả hình đầu rồng, long vân sơn son thếp vàng tinh xảo. Chánh điện có
tượng Nguyễn Tri Phương được tạc khắc bằng gỗ.
Đình Mỹ Khánh luôn được nhân dân địa phương và Ban Quý tế trông coi gìn
giữ ngăn nắp, sạch sẽ. Vào các ngày lễ hội ban thiện tâm tín hữu tụ họp về đền dâng
hương cầu phúc. Hàng năm, đền tổ chức lễ Kỳ yên rất long trọng. Lễ được tiến hành
vào ngày 16 và 17 tháng 10 âm lịch. Lễ Kỳ yên được chuẩn bị rất chu đáo. Trước khi
hành lễ, các vị hương chức lớn nhỏ đều hội tại đền để yết kiến thần thánh. Đến tối lễ
bắt đầu từ lúc trăng lên cũng là khi con nước bắt đầu lớn. Lễ kéo dài trong hai ngày
với những nghi thức tiến thần, diễn hành lễ bộ, tống phong... rất độc đáo và đẹp mắt.
Dân trong làng cùng các nơi xa gần cùng các ban quý tế đình, đền trong vùng đến dự.
Với danh nhân Nguyễn Tri Phương, tài năng đức độ, cuộc đời và khí tiết của ông vẫn
mãi sống toàn vẹn trong niềm tin kính của con người Đồng Nai. Một phần cuộc đời
Nguyễn Tri Phương gắn với mảnh đất Biên Hòa và sự đóng góp của ông rất quan

11.6 Page 106

▲back to top
trọng. Trang sử vẻ vang chống thực dân Pháp xâm lược trên mảnh đất thiêng này
vinh dự gắn liền với tên tuổi Nguyễn Tri Phương.
Tháng 2/1861, khi Gia Định thất thủ đại bộ phận quân ta rút về lập tuyến
phòng ngự ở Biên Hòa. Nguyễn Tri Phương liền thiết lập củng cố trận tuyến phòng
thủ và cho quân trấn giữ các nơi xung yếu. ông cho quân đắp lũy ở Tân Hoa, Trúc
Giang, Sông Ký, củng cố lũy Đông Giang, Phước Tứ và Đồng Môn. Ở pháo đài
Phước Thắng và cửa Cần Giờ, ông điều quân canh giữ mặt biển. Trên sông Đồng
Nai, Nguyễn Tri Phương cho đắp cản bằng đá ong để ngăn chặn tàu thuyền địch. Chỗ
đắp cản quan trọng nhất là khúc sông Long Đại độ phân nửa đường sông Nhà Bè -
Biên Hòa. Hễ dưới sông có cản thì trên bờ có đồn lũy bố trí đại bác. Một trong những
bức tường cản còn lưu lại tới ngày nay là cản ở khúc sông trước đền thờ Nguyễn Tri
Phương bây giờ.
Tương truyền khi Nguyễn Tri Phương rút quân về Biên Hòa, công việc phòng
thủ đang gấp rút tiến hành thì triều đình có lệnh triệu hồi ông. Nhân dân Biên Hòa
thương kính, tin yêu đã cản đầu ngựa, khẩn cầu ông ở lại đánh giặc cho đến cùng.
Sau đó, Nguyễn Tri Phương được triều đình điều ra trấn giữ thành Hà Nội.
Trong một trận quyết chiến với kẻ thù, Nguyễn Tri Phương bị thương, con trai ông là
Nguyễn Lâm hy sinh, thành Hà Nội bị thất thủ. Hòng mua chuộc ông, người Pháp
đưa ông đến điều trị vết thương nhưng Nguyễn Tri Phương cương quyết cự tuyệt hất
bỏ thuốc men, cơm cháo, nêu cao tinh thần bất khuất khí phách của mình. Ngày
20/12/1873 (tức 1/11 Ất Dậu), Nguyễn Tri Phương mất tại dinh Tổng đốc thành Hà
Nội để lại niềm thương tiếc vô hạn đối với triều đình binh sĩ và nhân dân. Sống oai
hùng, chết oanh liệt, người dân Biên Hòa đã tôn vinh ông như một phúc thần tại đình
Mỹ Khánh với niềm tin son sắt rằng chính ông làm cho quốc thái dân an, mưa thuận
gió hòa đem lại thịnh vượng cho xứ sở.
2.5 Đình Tân Lân (Còn gọi là Đền thờ Trần Thượng Xuyên)
Đình Tân Lân, xưa kia thuộc thôn Tân Lân, huyện Phước Chánh, dinh Trấn
Biên, nay là phường Hòa Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Đình tọa lạc giữa
vùng dân cư trên đường Nguyễn Văn Trị, mặt tiền hướng ra dòng sông Đồng Nai
lộng gió cách ủy ban nhân dân tỉnh 500m về hướng tây bắc.

11.7 Page 107

▲back to top
Từ khi xây dựng, nhân dân lấy tên gọi của thôn là Tân Lân (Xóm Mới) để đặt
cho đình. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, tên địa phương nhiều lần thay đổi
nhưng tên đình vẫn tồn tại cùng tháng năm. Tương truyền, nguyên thủy đình Tân Lân
là ngôi miếu nhỏ ở thành Kèn do dân làng dựng lên từ thời Minh Mạng (1820-1840)
để tỏ lòng ngưỡng vọng Trấn Biên Đô đốc tướng quân Trần Thượng Xuyên, người có
công lớn trong việc khai phá đất đai và mở mang thương mại vùng Đồng Nai - Gia
Định. Sau hai lần dời chuyển (vào năm 1861 và 1906), ngôi đình ở vị trí hiện nay.
Tọa lạc trên khuôn viên đất rộng, đình Tân Lân bề thế, uy nghiêm với lối kiến
trúc đậm dấu ấn của văn hóa Trung Hoa. Khách đến tham quan sẽ nhận thấy sự trang
nghiêm, đầy hưng thịnh của ngôi đình.
Mặt đình hướng về phía tây nam, được kiến trúc theo kiểu chữ tam gồm ba
gian: tiền đình chánh điện và hậu cung nối tiếp nhau. Hai bên tả hữu là miếu thờ Bà
và thờ ông. Mái đình lợp ngói âm dương. Nền cao 60cm bằng đá xanh, lót gạch bông
(20cm X 20cm). Bên trong đình, mỗi gian được bài trí điện thờ hoành phi, câu đối,
bao lam bằng gỗ do các nghệ nhân dân gian chạm trổ tinh vi, sắc sảo mang tính nghệ
thuật cao. Các đề tài đều tượng trưng cho hạnh phúc, phồn vinh, tước lộc, công hầu...
theo thông tục của người phương Đông.
Phần tiền đình với bộ khung vì bằng gỗ, trên các xà ngang chạm khắc đề tài
dơi, đào, hoa, lá biểu tượng cho sự phước thọ, trường tồn. Trên nóc trang trí đề tài
“Lưỡng long tranh châu, nhật”, “Lý ngư hóa long”... biểu tượng cho sự thịnh vượng,
như ý. Mái đình mặt tiền là cả một công trình nghệ thuật đặc sắc tô điểm cho nền trời
xanh thoáng đãng. Hằng trăm tượng người, vật bằng gốm sứ men xanh thể hiện các
đề tài cổ điển phương Đông một cách sinh động, tài hoa. Khó có ai ngờ rằng, gần một
trăm năm qua, những “Bát tiên quá hải”, “Quan Công phò nhị tẩu” những chuyện tích
thời Chiến quốc, nhật nguyệt, lân phụng... sống động trên mái ngói, thi gan với nắng
mưa mà vẫn nguyên vẹn sắc màu và đường nét.
Phần chánh điện chiếm diện tích khá rộng. Tôn nghiêm nhất là gian giữa với
những hàng cột gỗ lim khá lớn, với tượng thần uy nghiêm ngự trên ngai sơn son thếp
vàng với những cặp chim trĩ, loan, phượng... bằng đồng đứng chầu trong tư thế duyên
dáng và trang nghiêm. Trước bàn thờ thần là bàn la liệt, tiếp đến là bàn hội đồng nội.

11.8 Page 108

▲back to top
Song song với bàn la liệt và bàn hội đồng nội là hai bộ bát bửu bằng đồng. Hai gian
bên thờ tả và hữu ban. Dọc tường tả hữu có các bệ thờ thái giám, hậu hiền, bạch mã
và tiền hiền. Toàn bộ khung vì được làm bằng gỗ tốt, có cột chống ở giữa kiểu bình
nước, được lắp ghép với kỹ thuật mộng chốt và gắn dầu rái đảm bảo độ bền vững
cao.
Hậu cung có được chia thành ba gian, chính giữa thờ tiên sư, hai bên thờ tiền
thứ Việt Nam và tiền thứ Trung Hoa, được đặt trên bệ thờ bằng xi măng lót gạch men
xanh.
Ngoài ra, sau đình còn có khu nhà bếp nối liền với hậu cung, kiến trúc đơn
giản.
Giá trị nghệ thuật của đình được sáng tạo bởi những nghệ nhân với bàn tay tài
hoa qua các tác phẩm điêu khắc đá, chạm khắc gỗ, phù điêu ghép sành, cẩn xà cừ
tượng sành kiểu Hoa Nam... trong đó ẩn chứa những triết lý nhân sinh sâu sắc. Toàn
bộ những mảng trang trí trên là sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn giữa hai yếu tố kiến
trúc nghệ thuật thời Nguyễn với yếu tố kiến trúc nghệ thuật đặc trưng vùng Hoa Nam
Trung Quốc.
Đình Tân Lân đã thể hiện được sự tôn nghiêm mà trữ tình, hoành tráng mà tinh
xảo, xứng đáng với lòng ngưỡng mộ của nhân dân đối với Đức ông Trần Thượng
Xuyên.
Trần Thượng Xuyên tự Trần Thắng Tài, sinh vào năm nào không rõ và mất
khoảng năm 1720, người tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), nguyên là Tổng lãnh binh
ba châu Cao-Lôi-Liêm dưới triều Minh.
Năm 1649, vương triều Minh sụp đổ Năm 1679, sau khi phất cờ “Bài Mãn
phục Minh” thất bại, ông đem hơn 3.000 quân thân tín cùng gia quyến trên 50 thuyền
đến Đại Việt xin thuần phục. Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) chấp thuận cho
vào khai khẩn xứ Đông Phố đang còn hoang sơ.
Ông đưa lực lượng của mình đến định cư tại vùng Nông Nại đại phố (địa phận
Bàn Lân). Cùng nhóm lưu dân người Việt đến trước, ông và lực lượng của mình tiến
hành khai khẩn quy mô lớn vùng đất màu mỡ phương Nam. Mặt khác, ông chiêu tập
thương nhân người Hoa kiến thiết phố xá, tạo lập các cơ sở thương mại. Với biệt tài

11.9 Page 109

▲back to top
tổ chức, chẳng bao lâu Trần Thượng Xuyên đã biến vùng đất hoang sơ thành thị tứ
buôn bán sầm uất, kinh tế phát triển nhanh chóng. Nông Nại đại phố (còn gọi là Cù
Lao Phố) trở thành thương cảng phồn thịnh, là trung tâm thương mại và giao dịch
quốc tế vào bậc nhất phương Nam lúc bấy giờ.
Ông được lịch sử xác định như người có công lớn trong việc khai phá và xây
dựng vùng đất Đồng Nai - Gia Định. Công đức to lớn của ông được nhân dân ghi tạc,
tôn thờ, xem như vị thần đã khai sáng vùng đất này.
Về hoạt động quân sự, Trần Thượng Xuyên là một dũng tướng thao lược của
chúa Nguyễn. Ông đã nhiều lần cầm binh đánh dẹp Cao Miên, giữ an bờ cõi, mở rộng
biên cương nước Việt.
Khoảng đầu những năm 1690, ông cùng Mai Vạn Long đánh bắt được Nặc
Ông Thu, chiếm ba lũy Cầu Nam, Nam Vang, Gò Bích. Năm 1700, ông cùng Nguyễn
Hữu Cảnh tiến đánh vua Chân Lạp lần hai. Sau trận tiến công này, vùng đất Biên
Trấn, Phiên Trấn, Định Tường, Long Hồ, An Giang đã được sáp nhập vào lãnh thổ
Đàng Trong. Năm 1715, ông lại cùng với Nguyễn Cửu Phú đi đánh dẹp bọn Nặc Ông
Thâm, hạ được thành La Bích.
Trần Thượng Xuyên mất ngày 23 tháng 10 âm lịch khoảng năm Canh Tý
(1720) an táng tại mạn bắc dinh Trấn Biên (nay thuộc xã Mỹ Lộc, huyện Tân Uyên,
tỉnh Bình Dương).
Ghi nhớ công đức của ông, Chúa Nguyễn ban danh hiệu cao quý “Nguyễn vi
vương, Trần vi tướng, đại đại công thần bất tiệt” Các vua Minh Mạng, Thiệu Trị đều
phong ông làm Thượng đẳng thần. Để tỏ lòng ngưỡng mộ và đền đáp công ơn người
đã có công tổ chức khai phá, mở mang vùng đất Đồng Nai-Gia Định nhân dân hai nơi
này đều lập đền thờ ông, khói hương không dứt.
Hàng năm, nhân dân lấy ngày ông mất làm ngày giỗ trọng. Ngày ấy đình Tân
Lân nghi ngút khói hương, dập dìu khách thập phương đến dự với những nghi lễ
truyền thống thể hiện lòng biết ơn đối với danh tướng có công của xứ sở.
Ts. Huỳnh Văn Tới
Ths Phan Đình Dũng

11.10 Page 110

▲back to top
Những ngôi chùa cổ ở Biên Hòa
Vào thế kỷ thứ XVII, đất Biên Hòa - Đồng Nai còn hoang vu. Sử sách đề cập
những cảnh núi bạt ngàn, sông rạch chằng chịt với muôn ngàn thú hoang dã trên vùng
đất này. Ven sông Đồng Nai (tên gọi xưa là Phước Giang) có một số ít người Châu
Ro, Châu Mạ, Xtiêng... sinh sống rải rác. Vùng đất rộng, ít người ở này trở thành mục
tiêu cho những cuộc di dân từ nhiều nơi. Người Việt ở miền Ngũ Quảng (sau này có
thêm một số người hoa trong đoàn người do Trần Thượng Xuyên dẫn đầu / đến vào
năm 1679) đã tìm đến đây khai khẩn, sinh sống.
Vùng đất Đồng Nai vốn “Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um” đón thêm
những lớp di dân Việt đến tạo lập cuộc sống mới. Từng hồi, người dân mở làng trước
rồi hệ thống nhà nước thiết lập quản lý sau, đất Biên Hòa - Đồng Nai trở nên vùng
đất mới đầy sức sống.
Quá trình khai khẩn được chép lại trong nhiều trong sử sách. Trong quá trình
khai khẩn, tạo lập trên vùng đất mới, cộng đồng cư dân mới đến lần hồi khởi dựng
những cơ sở tín ngưỡng đáp ứng cho nhu cầu tâm linh của mình. Từ đó, những ngôi
chùa được khởi dựng.
Tương truyền, lúc mới khởi dựng, hầu hết những ngôi chùa ở Biên Hòa - Đồng Nai
được làm bằng cột gỗ, vách ván, mái lợp lá dừa nước, nền đất. Đây là những nguyên
vật liệu sẵn có của vùng đất này, đồng thời thuận lợi cho người dân trong điều kiện
sinh sống trên vùng đất mới còn nhiều khó khăn.
1. Những danh lam cổ tự
Hiện nay, trên địa bàn Biên Hòa có rất nhiều chùa chiền. Một số chùa được
nhắc đến trong sử sách của Quốc sử quán triều Nguyễn. Chắc chắn, những ngôi chùa
được nhắc đến đó có lịch sử tạo dựng khá sớm. Có ba ngôi chùa được xem là cổ nhất
Biên Hòa và đã được Nhà nước xếp hạng di tích quốc gia: Chùa Long Thiền, chùa
Đại Giác và chùa Bửu Phong.
1.1 Chùa Long Thiền

12 Pages 111-120

▲back to top

12.1 Page 111

▲back to top
Chùa Long Thiền nằm bên hữu ngạn sông Đồng Nai thuộc ấp Tân Bình,
phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa (trước kia thuộc thôn Bình Long, huyện
Phước Long, dinh Trấn Biên).
Theo tài liệu lưu tại Giáo hội Phật giáo tỉnh Đồng Nai, chùa Long Thiền được
xây dựng vào năm 1664 do tổ sư Thành Nhạc, người miền Trung vào khai sáng.
Chùa Long Thiền tọa lạc trên một vùng đất long mạch quý. Trước chùa có sông Đồng
Nai, sau lưng chùa có núi Châu Thời, từ chùa tỏa ra quanh vùng, từ xã Hoá An đến
Thành Hội là “long mạch của Thanh Long”, còn mũi Châu Thới dựng lên như cánh
đuôi rồng chùa Long ẩn biểu trưng miệng rồng, núi Bửu Phong biểu thị “trái châu” ví
như rồng ngậm trái châu.
Trải qua bao thế kỷ, ngôi chùa được khang trang như hiện nay đã phải qua ba
lần trùng tu. Lần thứ nhất vào năm 1748, đời tổ Phật Chiếu dòng Lâm Tế thứ 35 xây
dựng thêm chánh điện bằng gỗ ba gian hai chái, có thêm nhà Tổ làm bằng vách ván.
Gần một thế kỷ sau, vào năm 1842, đời tổ Tiên Đức dòng Lâm Tế thứ 37 trùng tu
chùa lần thứ hai. Lần này, Tổ đường được tu bổ lại, cất thêm khách đường và nhà trù
(nhà bếp), tường xây gạch, nền lót gạch tàu, nóc vẫn lợp ngói âm dương. Diện mạo
chùa khang trang, nghiêm kính được đông đảo Phật tử gần xa đến chiêm bái. Hơn
một trăm năm sau, chùa được trùng tu lần thứ ba do hòa thượng Thích Huệ Thành
dòng Lâm Tế thứ 40 chủ trì. Nguyên do trùng tu lần này là chùa bị ảnh hưởng nặng
nề bởi trận bão lụt năm 1952 (Nhâm Thìn). Năm ấy, hơn một tuần lễ, thành phố Biên
Hòa chìm trong biển nước mênh mông, chùa Long Thiền chỉ còn cái nóc nhô trên
mặt nước và có nguy cơ sụp đổ. Lần trùng tu thứ ba đã đem lại cho ngôi chùa diện
mạo mới. Giảng đường, khách đường, tăng đường được xây, mở rộng thêm. Mái lợp
ngói tây, riêng nhà trù lợp tôn xi măng. Tường được xây dựng lại hoàn toàn bằng
gạch thẻ với chất liệu mới vững chắc. Nền lót gạch tàu và gạch bông, giảng đường có
thêm gác lửng. Chánh điện được tôn cao thêm 1 mét, với hành lang, sảnh mở rộng
thêm ra hai bên.
Trên khu đất bằng phẳng, trước có sông lặng lờ nước chảy, chùa Long Thiền
uy nghiêm, cổ kính nhưng rất hữu tình.

12.2 Page 112

▲back to top
Chùa được xây theo lối kiến trúc hình chữ tam mặt chính chùa hướng ra sông
theo hướng đông bắc. Khoảng sân rộng của chùa có nhiều cây cổ thụ tỏa bóng mát.
Những nét chạm trổ công phu của tiền đình khi có ánh nắng của buổi sáng xuyên qua
tán lá trông lung linh, tuyệt đẹp. Dưới gốc cổ thụ có tượng Phật Di Lặc tọa thiền. Bên
tả là nhà tăng, bên hữu là hòn giả sơn phổ đá, tượng Phật Quan âm đứng uy nghi với
nét mặt nhân từ, khoan dung, chan chứa và từ bi. Khuôn viên chùa là khu vườn rộng,
còn lưu lại những bảo tháp cổ trong đó có bảo tháp của tổ sư Thành Nhạc khai sáng
với tấm bia bằng đá xanh chạm trổ tinh vi. Ngoài ra, còn có hai ngôi mộ cổ - “mộ
Song hồn” - của vị đại thần và phu nhân có công với việc khai hoang lập ấp, xây
dựng Long Thiền tự.
Từ ngoài nhìn vào, ta thấy sự uy nghi, bề thế của ngôi chùa. Chánh điện, nhà
thờ Tổ, giảng đường, tăng đường, nhà trù tiếp nối nhau. Tuỳ theo chức năng của từng
nơi trong chùa mà cách bài trí từng mảng hài hòa nhau. Phần chánh điện uy nghiêm
tôn kính. Bệ thờ chính thờ Phật Di Đà Thích Ca, Ngọc Hoàng, Tam Thế Phật, Đức
Địa Tạng, ông Tiêu... và các vị Bồ tát. Đối xứng hai bên thờ Già Lam, Linh Sơn cùng
Thập điện Diêm Vương. Đối diện bàn thờ chính là bàn thờ bằng xi măng hai mặt thờ
Tiên Diệu Đại sĩ, Tam châu Hộ pháp cùng đức Thiên Thủ, Thiên Nhãn. Những hàng
cột chính trong chánh điện chạm khắc tinh tế đề tài hoa điều, bát tiên, lý ngư hóa
long, nhật nguyệt, tứ linh được sử dụng trang trí một cách tinh tế trong chánh điện
tăng thêm nét cổ kính cho ngôi chùa. Trên khắp xà ngang treo hoành phi khắc chữ
Hán sơn son thếp vàng sắc sảo với nội dung về chánh pháp, khuyên nhủ con người
với lòng từ bi bác ái.
Hiện nay chùa Long Thiền là trụ sở của Giáo hội Phật giáo tỉnh Đồng Nai.
Hàng năm, vào các dịp lễ lớn: Phật Đản, ngày vía, ngày giỗ tổ (18 / 12 âm lịch) rất
đông thiện tâm tín hữu, tăng ni Phật tử đến cúng.
Với một lịch sử ra đời khá lâu 1664 - Long Thiền tự được xem như là cái nôi
của trung tâm truyền bá Phật giáo vào vùng đất Nam Bộ. Không những thế, nơi đây
còn minh chứng cho sự hiện diện của người Việt ở đất Đồng Nai từ giữa thế kỷ XVII,
họ khai hoang lập ấp ở xứ Đồng Nai trước khi nhóm khai khẩn Trần Thượng Xuyên

12.3 Page 113

▲back to top
đến (1679) đặt cơ sở nền tảng cho Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược phía Nam
(1698), thiết lập bộ máy hành chánh trên vùng đất Đồng Nai.
Là một kiến trúc tôn giáo, là một cái nôi của trung tâm Phật giáo xứ Đàng
Trong cùng với sự đóng góp trong sự nghiệp cách mạng nước nhà, chùa Long Thiền
có một vị trí trong lịch sử của vùng đất Đồng Nai.
1.2 Chùa Đại Giác
Chùa Đại Giác tọa lạc tại ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa (Cù Lao Phố), thành phố
Biên Hòa. Đây là vùng đất thanh tịnh giữa Cù Lao Phố, địa cảnh phong quang. Chùa
được khởi dựng năm nào chưa rõ.
Tương truyền, chùa do nhà sư Thành Đẳng lập dựng. Nguyên thủy chùa Đại
Giác là một ngôi chùa nhỏ, thấp, vách ván, cột cây mái lợp ngói âm dương.
Đến nay, chùa Đại Giác truyền trên 10 đời trụ thì, trong số có 3 vị sư tổ có
nhiều công đức được nhiều đời truyền tụng: Hòa thượng Thành Đẳng, hiệu Minh
Lượng (1686-1769), Thiền sư Linh Nhạc, hiệu Phật Ý, đặc biệt là nhà sư Tổ Ấn, tức
Mật Hoằng (1735-1835), được nhà Nguyễn phong Tăng Cang, rước ra trụ trì tại nhiều
ngôi chùa danh tiếng ở kinh đô. Ông là một danh tăng trong lịch sử Phật giáo Việt
Nam.
Chùa Đại Giác trải qua nhiều lần trùng tu. Kiến trúc thờ tự hiện tồn của chùa
theo lối chữ nhị, kiểu thức mặt tiền theo lối lầu chuông, lầu trống. Phần chánh điện
với không gian thoáng rộng nhô lên. Chánh điện là căn nhà ba gian rộng lớn: gian ở
giữa là điện thờ trang nghiêm, ở trên cao là tượng phật Di Đà bằng gỗ cao 2,25m của
vua Gia Long cúng dường, phía dưới là bộ Di Đà Tam tôn, tượng Phật Thích Ca, Ca
Diếp, A Nan đà, Hộ pháp... lại có thêm cả tượng Ngọc Hoàng, Nam Tào và Bắc Đẩu.
Phía trước (gần cửa ra vào) là giàn đèn Phật Dược Sư gồm 49 cây đèn dầu nhỏ
với 49 tượng Phật bằng gỗ nhỏ, chân giàn đèn chạm trổ rất mỹ thuật. Gian bên trái là
khánh thờ Tổ sư Bồ đề Đạt Ma. Gian bên phải là khánh thờ Quan Thánh Đế quân.
Hai bên tường (tá, hữu) có bệ thờ 5 vị Diêm Vương và hai vị Phán quan.
Nhìn chung, tượng thờ ở chùa Đại Giác khá cổ, chủ yếu là tượng gỗ ruộng đất,
rất hiếm tượng tạc bằng chất liệu xi măng.

12.4 Page 114

▲back to top
Nội thất chánh điện có nhiều bức hoành phi ghi những câu như: “Chánh pháp
xương minh, pháp vũ triêm ân”, “Từ vân phổ phú”, “Ngũ diệp lưu phương”... Phía
sau chánh điện là bàn thờ Tổ sư hoằng hóa ở chùa Đại Giác, gồm nhiều long vị của
các thiền sư phái Lâm Tế, trong đó có long vị của chư Tổ xưa nhất là Thiền sư Thành
Đẳng (phái Lâm Tế đời 34), Thiền sư Phật Ý - Linh Nhạc và Giác Liễu Thiệt Truyền
(đời 35), Tổ Ấn - Mật Hoằng (đời 36).
Tiếp sau chánh điện là nhà khách. Nhà khách có không gian thoáng rộng,
hoành tráng. Nơi đây thờ Phật Chuẩn Đề và khánh thờ Linh Sơn Thánh mẫu… Phía
cuối là phòng ở của chư tăng, bên hông là trai đường, phía sau là nhà trù (bếp).
Trong lịch sử, chùa Đại Giác gắn liền với những sự kiện được sử sách ghi chép
như: Vào năm 1779, trên đường trốn chạy sự truy đuổi của quân Tây Sơn, người con
gái thứ ba của Nguyễn Ánh đến náu chốn cửa thiền Đại Giác và bình yên vô sự. Sau
này, khi Nguyễn Ánh lập nên thanh thế, xưng vương đã nhớ đến mà ban chỉ trùng tu
chùa.
Vua Gia Long chỉ dụ cho quan quân địa phương (trấn Biên Hòa) cho binh thợ
đến xây cất và cho tượng binh đem voi đến dặm nền chùa. Vì vậy, sau này gọi chùa
Đại Giác là “Chùa Tượng” (chùa Voi) Dịp này, Gia Long còn cúng cho chùa Đại
Giác một pho tượng phật A Di Đà bằng gỗ mít rất lớn, cao 2,25 mét, nên nhân dân
địa phương còn gọi chùa Đại Giác là “chùa Phật lớn”. Hiện nay, pho tượng này vẫn
còn thờ tại chánh điện của chùa.
Năm 1820, vua Minh Mạng tiếp tục cho tu sửa mở rộng nhà chùa. Dịp này,
công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh đã cúng cho chùa tấm biển “Đại Giác tự” sơn son
thếp vàng, bên phải có khắc: “Tiên triều Hoàng nữ đệ tam công chúa Nguyễn Thị
Ngọc Anh”, bên trái khắc: “Minh Mạng nguyên niên, mạnh đông, cốc đán”. Tiếc
thay, bức hoành phi thếp vàng thật không còn nữa bởi những kẻ coi trọng sự tham
lam hơn lòng thành chốn cửa thiền lấy mất. Ngày nay, một tấm hoành phi với nội
dung như trên treo trước chùa chỉ là “bản sao” như gợi nhớ về một người thuộc dòng
hoàng gia công đức cho chùa.
Đặc biệt, ở mặt tiền chùa có hàng hiên rộng rãi. Các cột phía trước đều có câu
đối. Các cặp câu đối đều được bắt đầu bằng chữ Đại và chữ Giác ở mỗi vế:

12.5 Page 115

▲back to top
Đại điện huy hoàng ưu bát hoa khai ngưỡng thụy nhựt
Giác lâm tịch tĩnh bồ đề thụ trưởng tống xuân phong
(Đại điện huy hoàng hoa ưu bát nở đón ngày lành chào bóng dương.
Rừng thiền yên lặng, cây bồ đề lớn tiễn gió xuân).
Đạt hiệu Di Đà pháp giới tàng thân tùy xứ hiện
Giác danh cực lạc tịch quang chân cảnh cá trung huyền
(Đại hiệu, pháp giới Di Đà ẩn hình, tùy nơi xuất hiện.
Tên Giác, cõi cực lạc tịch quang chiếu bóng, đỏ lối u huyền).
Đại thể Di Đà, kim tướng quang minh chu cực lạc.
Giác quang Phật Tổ, pháp thân thanh tịnh hóa Sa Bà.
(Đại thể Di Đà, tượng Phật sáng rực miền cực lạc.
Giác quang Phật Tổ, pháp thân thanh tịnh cõi Ta Bà)
Dấu tích kiến trúc chùa xưa Đại Giác không còn được bảo lưu qua các lần
trùng tu. Kiến trúc hiện tồn được xem như nét chấm phá làm đa dạng cho kiến trúc
chùa chiền ở vùng đất Biên Hòa. Với lịch sử khai sơn khá sớm, cùng với các chùa cổ
khác, chùa Đại Giác là một di tích có giá trị lịch sử cho sự phát triển của vùng đất
Biên Hòa - Đồng Nai.
1.3. Chùa Bửu Phong
Chùa tọa lạc trên ngọn núi cùng tên, nằm trong khu danh thắng Bửu Long.
Hiện nay, chùa thuộc địa phận phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa.
Núi Bửu Phong ở về phía tây của thành phố Biên Hòa. Gia Định Thành thông
chí của Trịnh Hoài Đức mô tả cảnh đẹp của ngọn núi này “Núi Bửu Phong phía Tây
ngó xuống Đại giang, hộ vệ phía sau núi Long Ẩn, suối bàu tẩm nhuận, dẫn tưới
ruộng nương. Trên núi có chùa Bửu Phong, phía tả có đá long đầu đứng sững, phía
sau có đá thiền sàng la liệt, khói mây man mác, cây cối xum xuê. Văn nhân nghiêng
bầu vịnh giai tiết, mỹ nữ nối gót đến hành hương, thật là đệ nhất thắng cảnh của
trấn thành vậy”. (Trấn thành Biên Hòa xưa PĐD).
Từ dưới chân núi lên đến chùa phải qua một trăm bậc tam cấp. Cảnh trí chùa
tịch mịch, địa cảnh phong quang. Xung quanh chùa có nhiều cây cổ thụ, cùng với
những tảng đá lộ thiên tạo hình kỳ thú càng làm tăng vẻ uy nghiêm nơi thiền lâm

12.6 Page 116

▲back to top
được khai mở. Từ vị trí của chùa, phóng tầm mắt ra bốn phía sẽ thấy được cảnh thiên
nhiên sơn thủy hữu tình.
Cho đến nay, vẫn chưa tìm thấy tài liệu nào ghi lại chính xác năm chùa được
xây dựng đầu tiên. Căn cứ vào hàng chữ Hán khắc gỗ trên hai cột ở gian giữa giảng
đường thì chùa được xây dựng từ năm “Bính Thìn niên”, phía trước đề 1616 nhưng
năm 1616 không tương ứng với “Bính Thìn niên” âm lịch.
Có tư liệu cho rằng: vào năm 1679, một nhóm dân binh Trung Quốc là thuộc
hạ Tổng lãnh binh Trần Thượng Xuyên đến Đồng Nai đến chùa tỵ nạn, đã xây cất lại
bằng gạch ngói và thỉnh đại sư Hoàng Long được thượng hiệu Thành Chí đến trụ trì
và tôn làm tổ khai sơn.
Chùa kiến trúc theo kiểu chữ tam gồm chính điện, giảng đường và nơi thờ Tổ.
Ngoài ra còn có liêu phòng ni phái và nhà dưỡng tăng. Chất liệu xây dựng là gạch thẻ
vôi hợp chất, mái lợp ngói âm dương. Nền lót gạch tàu và gạch bông, bộ khung vì
kèo làm bằng gỗ núi tốt.
Chánh điện chia làm ba gian thoáng rộng, trên hai hàng cột đắp rồng ẩn mây
sơn son thếp vàng nhìn rất uy nghiêm tạo vẻ linh thiêng cho chốn thiền môn. Gian
chính giữa thờ Tam thế Phật, tả hữu thờ Thập điện Diêm Vương. Các tượng được tạc
rất sống động. Ở giảng đường và nơi thờ Tổ có nhiều tấm liễn, hoành phi, ban lam
được chạm khắc công phu, thể hiện nhiều đề tài phong phú được bố trí hài hòa tạo
nên khung cảnh vừa rực rỡ vừa thâm nghiêm.
Di tích cổ tự đã trải qua nhiều lần trùng tu. Dấu vết hiện tồn được xác định vào
năm Kỷ Sửu (1829) được khắc trên cột đá tiền điện do Tham tướng Nguyễn Văn
Hiệp và Hương bảo Nguyễn Văn Tâm phụng cúng. Trong chùa còn lưu giữ được
tượng cổ Phật Di Đà và một đầu phướn lục giác chạm rồng. Đặc biệt có một tượng đá
cổ thể hiện một vị thần của tôn giáo xưa gắn kết bền vững ở hậu điện - tương truyền
tượng có từ khi thành lập chùa.
Sự tôn tạo sau này làm cho kiến trúc chùa nổi bật lên phía bề mặt chánh điện.
Mặt tiền điện được trang trí họa tiết với những bức hình đắp bằng các mảnh sành sứ
đa sắc. Bên trong chánh điện, dưới các bệ thờ được trang trí loại hình sành sứ đa sắc
rất tinh tế thể hiện những đề tài dân dã, bình dị.

12.7 Page 117

▲back to top
***
Cho đến nay, các ngôi chùa cổ Đồng Nai đã được xây dựng khá kiên cố và
khang trang. Qua nhiều lần tôn sửa, trùng tu, các di tích chùa cổ chỉ còn giữ lại rất ít
vết tích cổ. Di tích kiến trúc cổ còn chăng là mô thức kiểu nhà tứ trụ - một dạng thức
kiến trúc đặc biệt có gốc từ kiểu nhà rường vuông vức. Kiểu thức bốn cột cái và bộ
xuyên trình có độ dài bằng nhau tạo nên một gian trung tâm vuông vắn và từ cột cái
gác một đôi kèo đấm và kèo quyết đâm ra bốn hướng cân xứng để mở rộng ra bốn
chát đều nhau. Mỹ thuật kiến trúc cổ ở các danh lam này còn lưu lại ở các khung kiến
trúc gỗ như xà ngang, đầu cột, đòn tay và các bao lam... được chạm khắc nghệ thuật
thể hiện nhiều đề tài dân gian, tôn pháp. Thế nhưng, những giai đoạn thời gian về sau,
xu hướng tân tạo, gia cố bằng những vật liệu mới như xi măng, sắt thép của thập niên
50, 60 thế kỷ XX đã làm cho phần kiến trúc, mỹ thuật cổ dường như bị bó hẹp lại.
Một số di tích có phần mặt tiền chánh điện được trang trí, tôn tạo những họa tiết đắp
nổi tạo ấn tượng trực quan. Âu đó cũng là “số phần” để các di tích chùa sống được
với thời gian, với những chuyển biến mạnh mẽ trong xã hội phát triển.
Cùng với kiến trúc truyền thống mỹ thuật xưa, trong một số di tích còn bảo lưu
hệ thống tượng thờ khá phong phú. Tùy thuộc vào từng di tích mà có những bộ tượng
được tạo tác theo quy thức nghiêm ngặt của mỹ thuật, có những nơi tượng được làm
theo kiểu phát khởi tại tâm, cách thức dân gian không bị ràng buộc bởi quy thức nào
đã trở thành những độc bản, làm phong phú về số lượng cũng như phong cách tượng
thờ của xứ Biên Hòa - Đồng Nai.
Với niên đại khá sớm, những danh lam cổ tự như Long Thiền, Đại Giác, Bửu
Phong được xem là một trong những cái nôi của trung tâm tuyền bá Phật giáo đầu
tiên trên vùng đất Nam Bộ. Không những thế, chúng còn minh chứng cho sự hiện
diện của lưu dân Việt vào Đồng Nai từ thế kỷ XVI - XVII, đặt nền móng cơ sở cho
chuyến kinh lược của Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh sắp đặt nền hành chánh đất
Đồng Nai vào lãnh thổ nước Việt.
Thời gian, khí hậu và bao biến động xã hội, cả con người (vô thức lẫn hữu
thức) đã làm hư hoại, hủy hoại không ít những danh lam cổ tự của những bậc tiền

12.8 Page 118

▲back to top
nhân có công tạo dựng. Những phần mất đi xem như lẽ vô thường của vạn vật.
Những di sản còn lại cần được bảo vệ giữ gìn.
2. Huyền tích về mộ số ngôi chùa
Bên cạnh những ngôi chùa được xếp hạng di tích quốc gia, trên vùng đất Biên
Hòa - Đồng Nai còn nhiều những ngôi chùa cổ khác. Mỗi dáng vẻ kiến trúc, lối bài trí
thờ tự và những chuyện tích liên quan đến chùa đã làm tăng thêm giá trị cho loại hình
di tích chùa chiền Đồng Nai.
2.1 Chùa Thủ Huồng
Chùa Thủ Huống còn có tên gọi là chùa Chúc Đảo; sau này đổi thành Chúc
Thọ. Hiện nay, chùa tọa lạc trên địa phận xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa.
Trải qua nhiều đợt trùng tu, hiện nay chùa mang dáng vẻ hiện đại, được xây cất
bằng các vật liệu kiên cố... Kiến trúc của chùa theo hình chữ tam truyền thống, bề
thế, thâm nghiêm. Trong khuôn viên chùa, còn hai ngôi tháp cổ loang lổ đổ nát là
mang dấu ấn xưa nhất. Ngay cạnh chùa là nghĩa địa của làng, ngổn ngang lăng mộ
lớn nhỏ, càng làm không khí chùa Thủ Huồng thêm u tịch vắng lặng mỗi buổi chiều
tà.
Di tích chùa gắn liền với câu chuyện về một nhân vật trên vùng đất Biên Hòa -
Đồng Nai xưa Đó là ông Võ Thủ Hoằng.
Võ Thủ Hoằng (đọc trại thành Huồng), người đứng ra lập chùa, là một nhân
vật có thật song mang nhiều nét huyền thoại. Đã nhiều thế hệ người dân chợ Đồn, Cù
Lao Phố… lưu truyền câu chuyện về Thủ Huồng về đại thể thì giống nhau song cũng
có đôi nét dị biệt.
Vào đầu thời Nguyễn, cách nay khoảng hai trăm năm, đất Trấn Biên có một
thư lại tên là Võ Thủ Huồng. Bằng nhiều thủ đoạn xảo trá, trong hai mươi năm luồn
lọt các ty, các nha, ông ta vơ vét được biết bao tiền của. Cho vay nặng lãi, ông ta
chiếm đoạt khá nhiều ruộng đất, mỗi mùa thu hoạch kể mấy ngàn giạ lúa.
Vợ Thủ Huồng chẳng may lâm bệnh chết sớm. Ông ta vô cùng thương tiếc, bỏ tiền
làm ma chay linh đình, đàn trai tế lễ trọng thể. Sau đó, ông ta thôi việc quan, về an

12.9 Page 119

▲back to top
dưỡng sống cuộc đời trưởng giả. Một hôm, có người mách cho Thủ Huồng biết: chợ
Mãnh Ma là nơi người sống và người chết có thể gặp nhau, âm dương giao hòa vào
lúc nửa đêm mùng một tháng sáu hàng năm. Ông ta quyết tìm đường đến chợ Mãnh
Ma. Tại đây, ông được gặp vợ, hai người mừng mừng, tủi tủi. Thủ Huồng muốn theo
vợ xuống chơi âm phủ, bà ta đồng ý dắt đi.
Qua nhiều dặm đường tối mịt, hai người tới cõi âm ty địa ngục, ông ta tận mắt
chứng kiến bao cảnh hãi hùng ghê rợn: những linh hồn tội lỗi bị tùng xẻo, bị móc
mắt, cắt lưỡi, bị ném vào vạc dầu đang sôi sùng sục, xiên bằng dùi nung đỏ rực...
Tiếng kêu khóc của các hồn ma vang dậy chốn Diêm đình ông ta bồn chồn trước
những cảnh báo oán những tội lỗi của con người chốn dương thế.
Tới kho gông, Thủ Huồng thấy vô số gông, trong đó có một chiếc to và dài hơn
các chiếc khác. Ông ta lân la hỏi một tên quỷ sứ mặt xanh nanh vàng canh cửa, hắn
cho biết gông đó dành cho tên Võ Thủ Huồng nào đó gian tham khét tiếng, tội lỗi tày
trời, nguyên quán nước Đại Nam, phủ Gia Định, huyện Phước Chánh. Vô cùng
hoảng sợ, ông ta không ngờ mỗi việc làm sai trái của mình đều bị Diêm Vương ghi
lại đầy đủ ông ta hỏi: nếu người đó hối cải có được không Tên quỷ sứ trả lời: nếu
muốn thoát ách gông xiềng thì phải đem của cải bất nhân bố thí cho hết.
Ông ta theo vợ ra về. Trước lúc chia tay, bà khuyên ông nên làm những việc tu
nhân tích đức để chuộc lại những lỗi lầm xưa sẽ giảm được tội lỗi báo oán ở Diêm
đình.
Thủ Huồng về đất Trấn Biên ra sức giúp đỡ người nghèo khó, mạnh tay bố thí,
cúng ruộng và tiền cho chùa, cho làng, chia cho thôn xóm... Cứ thế trong mấy năm
của cải ruộng nương hồi nào chẳng còn bao nhiêu. Ông ta lại lên đường đi gặp vợ ở
chợ Mãnh Ma, nhờ bà ta đưa xuống âm ti lần nữa. Ông ta tới địa ngục, nơi chứa
gông, thấy vẫn tên quỷ sứ gác như cũ song số gông đã thay đổi. Nhiều chiếc nguyên
hình, một số trước bé nay to ra, riêng chiếc của ông ta đã teo lại nhỏ xíu lân la hỏi tên
quỷ sứ, ông ta được tên này giải thích là do tên Huồng biết chuộc lỗi, nếu cố làm việc
thiện thì sẽ hưởng phước lớn, khỏi cảnh xiềng gông mai sau.
Trở lại trần gian, Thủ Huồng tiếp tục bố thí. Ông ta bán hết gia sản, đến Cù

12.10 Page 120

▲back to top
Lao Phố dựng chùa Chúc Đảo cúng Phật.
Thời bấy giờ, từ Đồng Nai đi Gia Định chỉ có đường sông là thuận tiện, vì
đường bộ còn lắm cọp beo, rắn rết... Tại ngã ba sông Đồng Nai và sông Sài Gòn lúc
đó rất hoang vu, chưa có người ở. Ghe thuyền qua lại gặp lúc ngược nước phải dừng
lại chờ, lắm lúc thiếu nước uống và lương thực rất bất tiện. Thủ Huồng quyết định bỏ
tiền kết một chiếc bè lớn, trên bè dựng nhà có đủ chỗ nghỉ ngơi, sẵn nồi niêu, củi,
gạo, mắm, muối... Những người nghèo khó lỡ độ đường có thể tạm trú đôi ba bữa mà
không phải trả một đồng xu cắc bạc. Ngã ba sông có chiếc bè từ thiện đó được gọi là
ngã ba Nhà Bè.
Võ Thủ Huồng sống những ngày cuối đầy thanh thản và được xa gần ca ngợi.
Sau đó khá lâu, tương truyền vua Đạo Quang nhà Thanh khi sinh ra, giữa lòng
bàn tay có hàng chữ: Đại Nam, Biên Hòa, Thủ Hoằng. Triều đình nhà Thanh cử sứ
giả qua tìm hiểu lai lịch và tiến cúng chùa Chúc Đảo (nay là chùa Chúc Thọ) ba
tượng Phật bằng gỗ trầm hương. Dân gian cho rằng, nhờ vào lòng phục thiện, công
đức nên Thủ Huồng đã đầu thai được làm vua.
Chùa Thủ Huồng còn đó, ngay bên kia sông Đồng Nai cũng có con rạch Thủ
Huồng với cây cầu Thủ Huồng bắc ngang (nằm ở phường Bửu Hòa), chốn Nhà Bè
nước chảy vẫn chia hai...Câu chuyện Thủ Huồng mang nhiều màu sắc cổ tích dân
gian, chắc chắn sẽ sống lâu dài vì đó là một bài học về lòng nhân ái, hướng thiện cho
các thế hệ đã qua, cũng như cho hôm nay và mãi mãi về sau.
2.2. Chùa Hoàng Ân
Chùa Hoàng ân là ngôi chùa làng nhỏ, thuộc xã Hiệp Hòa, thành phố Biên
Hòa. So với các ngôi chùa ở Cù Lao Phố, thì chùa Hoàng Ân có quy mô kiến trúc
hình chữ nhị khiêm tốn như nép mình dưới những tán cây cổ thụ.
Chùa gắn liền với câu chuyện của một đôi vợ chồng người cùi (hủi) và vị sư
thầy phúc đức. Chuyện kể rằng:
Nguyên chùa làng Hoàng Ân nhỏ bé xưa có vị sư già sớm khuya kinh kệ cầu
phước cho dân làng. Một hôm, trời nhá nhem tối vị sư già cùng đệ tử đang tụng kinh

13 Pages 121-130

▲back to top

13.1 Page 121

▲back to top
thì có một đôi vợ chồng từ xa đến xin trú qua đêm.
Dưới ánh sáng tờ mờ, trông vẻ khắc khoải của họ, nhà sư mở lòng từ bi đón
nhận. Đêm ấy, vợ chồng kia xin vị sư già cho họ được đàm đạo. Hai người kể sự tình
vì không có con cháu và ý nguyện phát tâm nên xin ở lại chùa làm công quả cho đến
khi chết. Thấy họ tâm tốt, ý lành nên sư thầy cho đôi vợ chồng kia nương náu nơi cửa
Phật.
Thời gian thấm thoát được ba năm kể từ ngày vợ chồng kia đến ở chùa. Thấy
họ siêng năng, cần mẫn trong công việc làm công quả nên sư thầy có lời khen. Nhưng
khi ấy, đôi vợ chồng khóc nức nở. Thấy sự lạ, vị sư già gạn hỏi nguyên do. Họ kể hết
sự tình nên nhà sư mới biết cả hai đều bị bệnh phong (cùi).
Thấy hoàn cảnh thương tâm, không muốn cho những người xung quanh dị
nghị, xa lánh, nhà sư bèn làm một cái chòi nhỏ cạnh chùa cho hai vợ chồng ra đó tá
túc. Bệnh tình của hai người khởi phát và càng nặng thêm, họ không làm gì được
nên ẩn ở chòi trông chờ vào thức bố thí của chùa hằng ngày. Hằng ngày, đích thân
nhà sư đem cơm cho vợ chồng kia.
Ngày kia, trong làng có tang, nhà sư phải đi cúng. Trước khi đi ông dặn đệ tử
nhớ đem cơm thế ông cho hai vợ chồng kia rồi đi ngay vào chùa. Khi đem cơm đến
không được tỏ thái độ xem - thường họ. Trưa hôm đó, người đệ tử đem cơm đến.
Nhìn thấy hai vợ chồng kia phong cùi ghẻ lở người đệ tử tỏ cái nhìn gớm ghiếc, xem
thường. Cơm được người đệ tử đưa qua một cái lỗ nhỏ bằng cành cây.
Thấy vậy đôi vợ chồng kia tủi thân, nghĩ phận mình bị khinh miệt không nên
sống nữa. Hai người cố lết ra cái giếng gần đó và gieo mình cùng chết.
Trong chùa và dân làng biết tin ra vớt xác lên. Vị sư già về thấy người ta đang
tẩm liệm. Nhìn kỹ, thấy xác của người chồng thiếu một ngón chân, người vợ thiếu
một ngón tay. Nhà sư bèn ra giếng và nhặt được, đem vào rửa sạch sẽ, phơi khô và
cất giữ trong một cái hũ để thờ trong chùa.
Những ngày nhà sư sắp viên tịch, ông dặn dò đệ tử. Phải giữ cái hũ cho thật kỹ.
Hai mươi năm sau, đúng vào ngày, giờ, tháng như vậy sẽ có khách đến viếng chùa,

13.2 Page 122

▲back to top
nên đưa cái hũ này cho họ.
Người đệ tử giữ lời khuyên và làm theo. Đúng thời gian như sư tổ dặn, người
đệ tử xưa trở thành vị sư trụ trì kế tiếp đón một đôi nam thanh nữ tú đến viếng chùa.
Họ xin bái kiến Phật và Tổ sư. Đứng nhìn họ lạy Phật, sư trụ trì thấy bàn chân người
thanh niên thiếu một ngón chân, thiếu nữ thiếu một ngón tay. Nhớ lời Tổ dặn, ông
bèn đem cái hũ đưa cho đôi thanh niên và nói:
- Tôi làm theo lời Tổ dặn, thí chủ hãy nhận cái hũ này.
Đôi thanh niên nam nữ ngạc nhiên nhận lấy hũ. Họ mở ra và thấy trong đó có
một ngón chân và một ngón tay. Họ đem gắn vào bàn chân, bàn tay thiếu ngón của
mình thì vừa vặn, da thịt kéo liền lại nguyên vẹn.
Đêm ấy, họ xin ở lại chùa. Họ cùng sư trụ trì nói chuyện. Khi kể về gốc tích
của nhau, sư trụ trì mới biết họ chính là công chúa và hoàng tử của một vương quốc
xa đến viếng. Có thể họ là hậu thân của đôi vợ chồng bị bệnh phong xưa kia từng trú
náu nơi nhà chùa.
Chuyện cũ kể lại cho nhau, vị sư trụ trì và đôi vợ chồng kia đều cảm thấy thanh
thản. Họ cùng hướng về Phật và Tổ sư tạ ơn lòng từ bi, thể nguyện lòng thành cho
chí nguyện thiện an.
Câu chuyện cứ thế được truyền tụng trong dân gian như bài học về lòng từ bi
hỉ xả của Phật và cách đối ứng tâm thành của con người.
2.3. Chùa Đại Giác
Chùa Đại Giác gắn liền với chuyện tình đầy cảm động của một người phụ nữ
vốn dòng Hoàng gia.
Chuyện kể: Thiền sư Liễu Đạt là đệ tử của Hòa thượng Minh Vật Nhất Tri. Có
lẽ Thiền sư Liễu Đạt quy y với Hòa thượng Nhất Tri ở chùa Kim Càng (Bình Thảo,
Vĩnh Cửu) trước đây.
Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành từng được vua Gia Long triệu ra kinh đô làm
Tăng cang chùa Thiên Mụ, phong danh hiệu hòa thượng Liên Hoa. Ông có tướng
mạo oai nghiêm tối hảo, tài thuyết giảng và biện luận về Phật pháp nên được nhiều

13.3 Page 123

▲back to top
người kính phúc, ngưỡng mộ.
Lúc bấy giờ, có Hoàng cô (cô của vua Minh Mạng) là đệ tử của hòa thượng,
thọ giới Bồ tát, được ban pháp danh là Tế Minh Thiên Nhựt. Hoàng cô có tình cảm
luyến ái sâu đậm với hòa thượng Liên Hoa. Biết tình cảm ấy nên hòa thượng Liên
Hoa tìm cách xin về Gia Định. Được tin về Đại lão hòa thượng Phật Ý Linh Nhạc
viên tịch ở chùa Từ Ân (Gia Định), nên hòa thượng Liên Hoa xin được từ nhiệm
chùa Thiên Mụ để về trụ trì chùa Từ ân.
Trong thời gian ở chùa Từ Ân, một hôm, quan Trấn thủ Gia Định đến báo tin
vài ngày nữa Hoàng cô vâng lịnh vua Minh Mạng đến cúng dường chùa Từ Ân và
Quốc Ân Khai Tường. Hoàng cô sẽ trú tại chùa Từ Ân cho đến ngày về kinh.
Tin bất ngờ làm hòa thượng Liên Hoa lo âu. Dù rằng chính thân đã đạt được
trình độ uyên thâm trong đạo pháp nhưng hòa thượng sợ nợ trần sẽ làm day dứt tâm
cang trước sự sợi dây luyến ái mà Hoàng cô theo đuổi. Vì vậy, hòa thượng Liên Hoa
đến vấn kế Thiền sư Tổ tông Viên Quang. Sau đó, hòa thượng Liên Hoa bỏ ý định rời
chùa lánh mặt mà về chùa Từ Ân chuẩn bị nghênh tiếp Hoàng cô đến lễ bái.
Khi mọi lễ bái xong, Hoàng cô và những người tùy tùng trú lại chùa Từ Ân.
Hoàng cô đề nghị mỗi buổi sáng khi còn nương trú tại chùa, hòa thượng Liên Hoa
đến tiếp kiến và hầu chuyện. Ngày thứ ba ở lại chùa, Hoàng cô không thấy hòa
thượng Liên Hoa. Hoàng cô hỏi dò tin tức nhưng chẳng ai biết hòa thượng Liên Hoa
đi đâu.
Thấy Hoàng cô buồn bã, không màng ăn uống nhiều ngày nên Thị giả Mật
Dĩnh đành phải nói thật cho hoàng cô biết nơi trú của hòa thượng Liên Hoa. Hòa
thượng Liên hoa đã quyết định lên chùa Đại Giác ở Cù Lao Phố, Biên hoa nhập thất
hai năm.
Biết được tin này, Hoàng cô lên chùa Đại Giác cúng dường. Sau khi cúng
xong, Hoàng cô nhờ Thị giả Mật Dĩnh đưa đến tịnh thất của hòa thượng Liên Hoa.
Đến trước cửa thất đóng kín, Hoàng cô quỳ xuống và thưa: “Đệ tử sắp hồi kinh nên
đến đây xin hòa thượng diện kiến lần cuối trước khi lên đường”. Hòa thượng Liên
Hoa vẫn không trả lời Hoàng cô kiên nhẫn chờ đợi và thưa tiếp: “Bạch hòa thượng,

13.4 Page 124

▲back to top
nếu hòa thượng không tiện ra tiếp thì xin hòa thượng cho con nhìn thấy bàn tay của
hòa thượng, đệ tử cũng hân hoan ra về”. Một lúc sau, hòa thượng Liên Hoa trong thất
đưa bàn tay ra cửa nhỏ - nơi dùng để đưa thức ăn vào. Hoàng cô vội ôm bàn tay một
cách trìu mến rồi sụp xuống lạy và khóc sướt mướt. Sau đó, Hoàng cô cho biết là sẽ ở
lại chùa Đại Giác vài ngày.
Đêm đó, giữa canh ba, trong khi mọi người đang an giấc, bỗng lửa cháy rực lên
ở tịnh thất nơi hòa thượng Liên Hoa đang trú. Mọi người hoảng hốt, cùng nhau đến
dập lửa nhưng đã muộn. Tịnh thất cháy rụi và xác thân của hòa thượng Liên Hoa
cháy thiêu. Có người phát hiện bài kệ Niết Bàn do hòa thượng Liên Hoa viết bằng
mực đen trên vách chánh điện có nội dung:
Thiệt đức rèn kinh vẹn kiếp trần
Thành không vẩn đục vẫn trong ngần
Liễu tri mộng huyễn chơn như huyễn.
Đạt đạo mình vui đạo mấy lần.
Phía dưới có đề: Sa môn Thiệt Thành hiệu Liễu Đạt.
Hay tin hòa thượng Liên Hoa viên tịch, các quan tỉnh Biên Hòa và dinh trấn
Gia Định phải báo tin về triều và tổ chức lễ tang. Sau khi làm lễ nhập tháp cho hòa
thượng Liên Hoa, Hoàng cô cho biết sẽ ở lại chùa Đại Giác cho đến ngày khai mộ
mới hồi kinh. Nhưng ngày hôm sau, Hoàng cô uống độc dược tự vẫn tại hậu liêu
chùa Đại Giác.
Câu chuyện tình nơi cửa phật Đại Giác vẫn còn những đoạn kết khá kỳ thú
xung quanh một số bài vị của hòa thượng Liên Hoa và Hoàng cô thờ tại ngôi chùa
Sắc tứ Từ Ân. Sức mạnh của tình yêu con người, sức mạnh của niềm tin Phật pháp
trong câu chuyện như vẫn còn nhắc nhở cho hậu thế những bài học đầy cảm động.
Cùng với nhiều danh lam cổ tự khác, nhiều ngôi chùa ở vùng đất Biên Hòa -
Đồng Nai gắn liền với những sự kiện lịch sử, truyền tích kỳ thú... chúng là những nét
tô vẽ thêm vẻ đẹp, làm tăng thêm tính huyền bí của những nơi thờ tự. Đó cũng là
một phần trong đời sống của con người.

13.5 Page 125

▲back to top
Ts. Huỳnh Văn Tới
Ths. Phan Đình Dũng
ØTài liệu tham khảo
1 Huỳnh Minh, Gia Đình xưa và nay.
2. Thích Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam.
3. Nhà Bảo tàng Đồng Nai, Đồng Nai di tích lịch sử văn hóa, Nxb Đồng Nai,
2004.
Bác Hồ trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân
Đồng Nai
Các vĩ nhân thường để lại dấu ấn mạnh mẽ trong đời sống tinh thần của quốc
gia, dân tộc. Nhưng hiếm có lãnh tụ như Hồ Chí Minh, Người đã trở thành biểu tượng
đẹp đẽ trong lòng của mọi người Việt Nam.
Nhân dân Việt Nam tạc tượng Bác Hồ kính yêu trong lòng mình “hơn tượng
đồng phơi những lối mòn”. Hình ảnh Bác Hồ là nơi gặp gỡ thống nhất niềm tin của
cộng đồng các dân tộc, nhưng mỗi nơi, mỗi vùng, mỗi cộng đồng có cách nghĩ, cách
hiểu của mình mang màu sắc phong tục tập quán của địa phương.
Nhân dân miền Nam không được may mắn đón Bác vào thăm. Dù chưa được
tiếp kiến, dù ít hiện vật lưu niệm, nhưng đồng bào miền Nam đã có trái tim, lòng tin
và trí tưởng tượng đến với Người. Ở đây hình ảnh của Người thật lung linh, đẹp đẽ.
Về mối quan hệ giữa Bác Hồ với miền Nam và miền Nam với Bác Hồ, sách báo đã
viết nhiều, nhiều nhưng chưa đủ, chưa thỏa lòng. Có một niềm tin sâu thẳm trong tâm
linh của người miền Nam về Bác còn ít được biết đến.
Riêng đối với người Đồng Nai cũng vậy. Đồng Nai là máu thịt của miền Nam,
có tấm lòng và niềm tin của đồng bào miền Nam đối với Bác Hồ, trong đó cũng có

13.6 Page 126

▲back to top
những dáng nét riêng của vùng đất “Miền Đông gian lao mà anh dũng” cần được lưu
ý.
Cộng đồng người Việt hình thành ở Đồng Nai cách đây hơn 300 năm, do nhiều
đợt di dân từ miền Bắc, miền Trung và Hoa Nam Trung Quốc... với nhiều lý do khác
nhau. Cuộc sống tha hương ở vùng đất mới, luôn phải đấu tranh với tự nhiên, với
giặc ngoại xâm khiến con người phải nương cậy nhau, cùng tìm chỗ dựa tinh thần
cho cuộc sống. Người ta tin tưởng và thờ cúng tất cả những ai đem lại lợi ích, bình an
cho cộng đồng; từ những vị phiếm thần, các “mẹ sanh mẹ độ” đến những anh hùng,
dũng sĩ mang theo từ cố hương hoặc nảy sinh từ bổn xứ. Cuộc sống nô lệ quá dài, quá
khổ bởi thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ thôi thúc người Đồng Nai tìm đến một biểu
tượng chung để mà tin, mà sống và chiến đấu. Những Nguyễn Tri Phương, Nguyễn
Duy, Trương Định... đã thất bại trong kháng Pháp, nhân dân địa phương thương tiếc
lập đền thờ nhưng lòng vẫn uất ức không nguôi và mong đợi một hình bóng khác khả
dĩ hơn. Cho nên, khi xuất hiện hình ảnh Bác Hồ, người Đồng Nai vừa bắt gặp một
lãnh tụ tài giỏi để mà theo, vừa chọn được một “nhân thần” để gởi gắm lòng tin. Khó
mà phân biệt rạch ròi thái độ của người dân Đồng Nai đối với Bác Hồ; một mặt là sự
tận hiến về vật chất theo lệnh của lãnh tụ để giải phóng dân tộc, một mặt là sự “nạp
vào” những năng lượng tinh thần để xác lập niềm tin và những chuẩn mực giá trị mới
trong đời sống tinh thần của mình; một bên là tư duy duy lý, một bên là tín ngưỡng
dân gian. Hai mặt thúc đẩy, bồi đắp cho nhau thành sức mạnh lớn hơn khả năng hiện
có.
Người dân Đồng Nai coi Bác Hồ là biểu tượng tinh thần không phải bắt nguồn
từ mệnh lệnh, quyền uy mà xuất phát từ tấm lòng. Trước hết là tấm lòng của Bác. Sự
quan tâm đồng cảm của Người khiến cho người Đồng Nai xúc động và từ đó khơi
dậy những động lực tinh thần. Khi xa Tổ quốc, Người vẫn thấu hiểu hoàn cảnh của
phu làm muối ở Bà Rịa, cảm thông, chia sẻ “nỗi khổ nhục của người phụ nữ bản xứ”
(9) Để bảo vệ lợi ích và danh dự của nhân dân Biên Hòa, Người vạch trần thủ đoạn
lừa bịp của thực dân Pháp trong việc xây “Đài kỷ niệm” gọi là “tưởng niệm các chiến
9 Bản án chế độ thực dân Pháp, NXB Sự thật, Hà Nội, 1975, tr. 113-114.

13.7 Page 127

▲back to top
sĩ vong thân vì mẫu quốc Đại Pháp” (10)
Đêm 31/10/1964, quân dân Đồng Nai lập chiến công vang dội ở sân bay Biên
Hòa, mười hai ngày sau, Bác có bài viết và thơ chung vui đăng báo Nhân Dân:
…Uy danh lừng lẫy khắp năm châu
Đạn cối tuôn cho Mỹ bể đầu
Thành đồng trống thắng lay Lầu trắng
Điện Biên Mỹ chẳng phải chờ lâu(11)
Những nghĩa cử ấy chứng tỏ Bác Hồ vẫn luôn bên cạnh người Đồng Nai, rất
gần gũi và cụ thể; trái tim Người hoà nhập cùng niềm vui, nỗi lo của đồng bào. Tấm
lòng của một lãnh tụ như vậy được nhân dân Đồng Nai trân trọng và sẵn sàng đền
đáp. Người làm muối ở Bà Rịa luôn có bàn thờ Bác trong nhà kể cả lúc chiến tranh ly
tán. “Đài kỷ niệm” Biên Hòa do Pháp xây dựng vì mục đích mị dân được nhân dân
bảo vệ, tôn tạo thành di tích để tưởng nhớ sự quan tâm Người; bốn câu thơ “Uy danh
lừng lẫy khắp năm châu...” được nhũ vàng lấp lánh trên tượng đài chiến thắng sân
bay Biên Hòa đã khắc sâu vào tâm trí mọi người.
Do không có điều kiện giao tiếp với Bác, nhất là trong hai cuộc kháng chiến,
hình ảnh Bác Hồ tồn tại trong lòng người Đồng Nai chủ yếu qua lòng tin và trí tưởng
tượng. Từ một số bức ảnh hiếm hoi trên báo, trên tín phiếu, từ lời kể của một ít
người may mắn được gặp Bác, nhân dân Đồng Nai hình dung Bác Hồ là một “ông
già tiên” với những đặc điểm ngoại hình đẹp nhất và đức tính hoàn hảo nhất. Thói
quen thần thánh hóa nhân vật anh hùng của nhân dân đã dành cho Bác Hồ vẻ đẹp
vừa “nhân tính” (ông già) vừa “thánh tính” (tiên), vừa thiêng liêng vừa gần gũi.
Sách vở, tư liệu về Bác đến với người Đồng Nai chậm hơn con đường truyền khẩu.
Những chuyện kể có thật về Bác được truyền khẩu, được dân gian hóa, được óc
tưởng tượng của người bình dân thêu dệt thành những truyện kể, truyền thuyết khiến
nhiều người thuộc lòng hình ảnh của Người từ việc ăn “cháo bẹ rau măng” ở hang
Pắc Pó đến thái độ ân cần đối với các anh hùng dũng sĩ và các cháu thiếu nhi miền
10 Bản án chế độ thực dân Pháp, NXB Sự thật, Hà Nội, 1975, tr. 113-114

13.8 Page 128

▲back to top
Nam tập kết. Trong chiến khu hoặc ở vùng địch tạm chiếm, truyện kể về Bác Hồ
luôn là một món quà quý báu. Khi kể chuyện về Bác cũng là khi người ta truyền cho
nhau hơi ấm, sức mạnh và chí hướng theo con đường của Bác.
Nhân dân miền Nam nói chung, Đồng Nai nói riêng thường bị địch khủng bố,
xuyên tạc cách ly với Cộng sản cho nên thông tin lý luận về cách mạng, về đấu tranh
giải phóng dân tộc... nhiều khi mơ hồ, không đầy đủ. Những lúc ấy, hình ảnh Bác Hồ
trong tim thay cho tất cả. Người như có mặt ở khắp mọi tấm lòng, trong mọi phút mọi
giây, trong ngục tù, giữa pháp trường, bên công sự, trên bãi pháo... Những bà mẹ anh
hùng xã Phước An (huyện Nhơn Trạch) tiễn chồng con đi tòng quân, lý lẽ rất đơn
giản: Đi theo Cụ Hồ là đi với cái đúng, không tiếc gì hết ! Một chiến sĩ du kích Chiến
khu Đ bị lính Pháp mổ bụng vẫn không ly khai Cụ Hồ. Một em bé giao liên xã Lạc
An (huyện Tân Uyên) bị bắn thả trôi sông tay vẫn ghì chặt ảnh Bác Hồ. Rất nhiều
tấm gương hy sinh, trước khi trút hơi thở cuối cùng vẫn hô vang tên Bác. Ở xã Cẩm
Mỹ (huyện Long Khánh cũ) còn một con đường mòn dân gian gọi là đường Hồ Chí
Minh bởi vì những chiến sĩ cách mạng qua con đường này đến bãi bắn thường gọi
vang tên Người. Đồng chí Ngô Bá Cao - Bí thư Tỉnh ủy Biên Hòa bị kết án tử hình
năm 1959, chuẩn bị lên máy chém bằng niềm tin mãnh liệt ở Người :
…Lời Bác còn đây dạ sắt son
Còn dân, còn Đảng còn nước non
Con vẫn bên Cha mãi mãi còn...
(Án tử hình nhớ Bác)
Nhiều hình ảnh xả thân vì Tổ quốc, trung thành với lãnh tụ như thế kể ra không
hiếm, đời nào, ở nơi đâu cũng có. Điều đáng lưu ý ở đây là hình ảnh của lãnh tụ Hồ
Chí Minh đã trở thành động lực bên trong để thúc đẩy con người hành động. Thực tế
hình ảnh Bác Hồ từ cuộc đời thực đã đi vào sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của người
Đồng Nai một cách tự nhiên và sinh động. Chính ở đây mới thấy rõ nhất lòng dân đối
với Bác Hồ.
11 Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Sự thật, Hà Nội, 1989, tập 9, tr. 804.

13.9 Page 129

▲back to top
Trong tâm thức người Việt ở Đồng Nai, Bác là hiện thân của cái đúng, cái đẹp,
cái cao quý. Bác luôn ở phía trước để vươn đến nhưng cũng luôn bên cạnh để chia sẻ,
bày tỏ. Bác vừa gieo ân đức cho gia đình (được thờ trong nhà) vừa là cứu tinh của
dân tộc (được thờ cúng ở cộng đồng). Sự xa cách về không gian khiến cho người
Đồng Nai trân trọng, thành tín đối với bất cứ hiện vật gì liên quan đến Bác Hồ. Chiếc
đồng hồ Bác tặng đồng chí Lê Ngọc Bạch năm 1959 không chỉ là vật lưu niệm riêng
của gia đình mà trở thành bảo vật của cộng đồng được rước vào lưu giữ trang trọng
tại Nhà Bảo tàng Đồng Nai. Thơ chúc Tết của Bác được các cụ già chép cẩn thận đặt
ở án thờ. Thiếp chúc Tết có in thơ Bác năm 1968 và ảnh Bác in trên báo từ năm 1949
được bác nông dân Nguyễn Văn Dục (xã Bình Lợi, huyện Vĩnh Cửu) cất giữ và xem
đó quí hơn sinh mạng mình. Má Nguyễn Thị Hầu (xã Phước An, huyện Nhơn Trạch)
thờ sống Cụ Hồ bằng một tờ tín phiếu có ảnh Bác. Tín phiếu cách mạng phát hành
năm 1949 có in ảnh Bác được nhân dân Đồng Nai tin dùng, đến mức “Còn sợi râu Cụ
Hồ cũng xài”.
Bàn thờ Bác trong nhà là hiện tượng phổ biến. Gia đình của người Việt ở Đồng
Nai có tập quán thờ ông bà và những vị thần có liên quan đến bổn mạng của mình:
Táo quân bảo trợ việc bếp núc, các nữ thần là mẹ Sanh mẹ Độ; ông Địa, thần Tài phù
trợ việc làm ăn ... Từ khi Bác mất, nhiều gia đình có thêm bàn thờ Bác với ý nghĩa
Bác vừa là Cha già, vừa là người đem lại hạnh phúc cho gia đình. Để tránh tai mắt
địch, bàn thờ thường đặt ở gian giữa nhà như là thờ tổ tiên, có người dùng tín phiếu
làm ảnh thờ như má Hầu - Phước An, có nhà viết tên Bác Hồ bằng chữ Hán vào bài
vị để kín đáo đâu đó trên bàn thờ, đa phần thay hình ảnh, tên tuổi bằng chữ Phước
(Hán tự) ngầm hiểu Bác Hồ bảo trợ cho phúc đức của mọi người. Gia đình của một
số ngụy quân cũng thờ và hương khói cho Bác. Có một hiện tượng dễ thấy: nhiều tên
địch hống hách, ngổ ngáo réo tên cả quan thầy của chúng ra chửi, nhưng không hề
dám xúc phạm đến tên tuổi Bác Hồ; có kẻ cúi đầu trước bàn thờ truy điệu Bác một
cách thành kính. Sau khi miền Nam giải phóng, việc thờ cúng Bác được công khai,
ảnh Bác Hồ thường được treo trang trọng phía trên bàn thờ chính trong nhà.
Trong sinh hoạt cộng đồng, người Việt ở Đồng Nai có thờ cúng những người
có công lớn, đem lại lợi ích thiết thực cho dân làng. ở đình thờ Thành hoàng bổn

13.10 Page 130

▲back to top
cảnh, tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ... tưởng niệm những người đã khuất tuy
khuyết danh nhưng có công với mảnh đất dân làng đang sống. Những anh hùng, dũng
sĩ có công đánh giặc diệt thú giữ cũng được đưa vào thờ trong đình. Với quan niệm
như thế, Bác Hồ, vị cứu tinh của dân tộc rất xứng dáng được cộng đồng thờ cúng.
Những năm chiến tranh, việc thờ cúng Bác Hồ ở cộng đồng khó khăn hơn ở gia đình.
Nhưng một số đình, chùa vẫn kín đáo dành nơi trang trọng thờ Bác Hồ. Đình Long
Thọ, miếu Cây Vạn (huyện Nhơn Trạch) thờ Bác Hồ dưới hình thức bàn thờ tiên sư.
Chùa Bửu Phong (Biên Hòa) thờ Bác tượng trưng ở bàn thờ hậu tổ. Đình Phú Mỹ (xã
Phú Hội, huyện Nhơn Trạch) có sáng kiến độc đáo tạo 3 bức hoành phi với nội dung:
Hồ nhiên nhi thiên
Chí vọng thâm ân
Minh hoài hậu đức
Ba bức hoành phi này treo rời nhau ở chính điện, dân địa phương đọc 3 chữ
đầu câu ngầm hiểu tưởng niệm Bác Hồ, nhưng ngụy quân ngụy quyền đến tế thần
hàng năm chẳng thể phát hiện. Sau ngày thống nhất đất nước, việc thờ cúng Bác ở
đình miếu được nhân rộng. Có lúc chính quyền địa phương yêu cầu cải tạo đình thờ,
chỉ thờ Bác Hồ và liệt sĩ. Sự áp đặt ấy gây phản ứng trong dân gian. Bởi vì, Bác Hồ
và liệt sĩ trong điện thờ là sự bổ sung chứ không phải thay thế. Năm 1982, đình Hắc
Lăng (huyện Châu Thành) làm lễ rước vong linh Bác Hồ và liệt sĩ đưa vào điện thờ,
thờ cùng với các thần thánh bổn địa. Cách làm ấy được các đình khác học tập. Hiện
nay, nhiều đình lập bàn thờ Bác Hồ ở chính điện xem như là một trong nhiều vị thần
được thờ phụng.
Ở đền thờ Hùng Vương (Biên Hòa), Bác Hồ được thờ ở tiền điện như là vị
Hùng Vương thứ 19. Ngày lễ chính của đền này là 10/3 âm lịch (giỗ Tổ) và 19/5
dương lịch (sinh nhật Bác). Trong ngày lễ hội tại đền, trước bàn thờ Bác Hồ và Quốc
tổ Hùng Vương có đủ thành phần: Đảng viên Cộng sản, chính quyền địa phương,
Phật giáo, giáo dân, có cả các chức sắc của Thiên Chúa giáo và Phật giáo... ở đây,
mối quan hệ đoàn kết toàn dân có chung hạt nhân là Quốc tổ, trong đó mặc nhiên Bác
Hồ như là vị Quốc tổ thứ 19.

14 Pages 131-140

▲back to top

14.1 Page 131

▲back to top
Ở người Việt gốc Hoa làm nông nghiệp tại Phú Hoa (Định Quán), Tân Phong
(Biên Hòa) sau ba mươi năm nghèo khó, từ năm 1990 mới vươn lên khấm khá, tổ
chức được lễ cầu an (Kỳ yên) theo phong tục cổ truyền. Lễ cầu an không lệ thuộc vào
đình miếu, chùa chiền, không định kỳ, khi sung túc mới thực hiện nhằm tạ ơn thánh
thần và cầu được mùa, phát đạt. Trong buổi lễ, cần có một chủ vương ngự ở chánh
điện để chứng kiến và làm nhịp cầu nối những tấm lòng thành của dân với các đấng
thần linh. Những lần trước, chủ vương được chọn là ông trời (Hoàng thiên) hoặc
Quan Thánh đế. Từ năm 1990, vị chủ vương được chọn là Bác Hồ. Ảnh Bác được
rước vào chính điện, đặt ở ngôi chủ vương, hai bên là bài vị của 28 vị thần khác. Lý
do chọn Bác Hồ làm chủ vương thật dễ hiểu: Chỉ có con đường của Bác Hồ mới dẫn
đến đời sống khấm khá chưa từng có như hôm nay.
Trong tâm trí của một số chức sắc phụ trách chùa Phật và nhà thờ Thiên Chúa
giáo ở Đồng Nai, lúc nào cũng có Bác Hồ bên cạnh giáo dân và phật tử. Khi Bác mất,
thông cáo của Hội nghị liên tịch giữa Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền
Nam Việt Nam và các tổ chức nhân dân được truyền đi, nhiều đình chùa ở Đồng Nai
hưởng ứng, tổ chức truy điệu Bác bằng cách cầu siêu cầu hồn ở chùa, nhà thờ, thánh
thất Lễ cầu siêu ở chùa Long Thiền (tổ đình của Phật giáo ở Đồng Nai) có hàng
nghìn người đến dự. Hòa thượng Thích Huệ Thành cho rằng, Bác Hồ có cốt cách và
đức từ bi của Phật. Ni sư Huệ Hương (trụ trì chùa Bửu Phong) xem Bác Hồ như là
một trong “những giáo chủ của Phật giáo” và luôn nhang khói cho người. Với linh
mục Nguyễn Kim Đoàn (giáo xứ Bùi Thượng..), Bác Hồ có đức độ gần với Chúa
sáng thế, luôn có ảnh Bác Hồ trên bàn làm việc và thường trích dẫn những lời Bác
Hồ để giáo huấn con chiên. Thực hiếm thấy một nhân vật lịch sử cùng được tôn vinh
ở các tầng lớp nhân dân và ở các tôn giáo như vậy.
Ts. Huỳnh Văn Tới

14.2 Page 132

▲back to top
Đền Hùng Vương Biên Hòa với tục thờ cúng tổ tiên
Trên Quốc lộ 15 hướng về Tam Hòa, qua khỏi trường phổ thông trung học
Tam Hiệp khoảng 200 m, nhìn về phía tay phải sẽ thấy cổng đền đề biển: “Đền Hùng
Vương”.
Đền Hùng Vương cách vùng đất Tổ gần hai nghìn cây số! Điều này không lạ vì
đây là biểu hiện đặc sắc văn hóa cổ truyền của Việt Nam, gắn liền với tục thờ cúng tổ
tiên của người Việt. Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nói: Dân tộc Việt Nam có
truyền thống tốt đẹp không phải quốc gia nào cũng có được là biết tôn kính, thờ cúng
tổ tiên, uống nước nhớ nguồn…
Chim có tổ, người có tông. Mọi người Việt Nam nhìn nhận mình là con cháu
vua Hùng. Dù đi đâu ở đâu, làm gì... tấm lòng người Việt luôn hướng về cội nguồn.
Tâm niệm về con Hồng cháu Lạc liền mạch chảy suốt qua bao vùng, miền, bao thế
hệ.
Ấy là nhân tố tạo nên sức mạnh tinh thần bất diệt, tạo nên truyền thống đoàn
kết dân tộc, tình nghĩa đồng bào, và trở thành lực lượng vật chất đánh bại các mưu
toan xâm lược chia cắt đất nước ta, dân tộc ta. Có lúc kẻ thù ngoại bang đã chiếm
được kinh thành và ngai vàng của vua nước ta, nhưng không thắng được nhân dân
Việt Nam là do vậy.
Từ lâu đời, dân gian truyền nhau câu hát:
Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba
Khắp miền truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non nhà nghìn năm.
Giỗ tổ Hùng Vương vào trung tuần tháng ba âm lịch hàng năm là ngày hội để
nhân dân cả nước tỏ lòng tôn kính đối với tổ tiên, hướng về cội nguồn, sum vầy cùng
nhau trên đất tổ. Nhưng do điều kiện làm ăn sinh sống ở phương xa, ngăn sông cách
núi không về được, người Việt nghĩ cách lập đền thờ vọng. Đền thờ vọng cũng

14.3 Page 133

▲back to top
phỏng theo các nghi thức cổ truyền ở đền Hùng đất Tổ nhằm để con cháu vua Hùng
bày tỏ nỗi niềm: Xa mặt nhưng không cách lòng.
Tài liệu Sở Văn hóa - Thông tin Vĩnh Phú cho biết riêng ở Vĩnh Phú có 627
điểm thuộc 387 làng xã thờ vua Hùng và các tướng lĩnh của vua Hùng. Bộ Lễ thời Lê
thống kê trong sách bách thần có 1.026 đình, đền ở 944 làng xã thờ vọng Hùng
Vương và các nhân vật liên quan; ở Hưng Hóa: 158, Kinh Bắc: 112, Hải Dương: 112,
Thanh Hóa: 261, Sơn Nam: 231, Nghệ An: 70...
Với quan niệm “Con cháu ở đâu tố tiên ở đấy”, các cộng đồng Việt di cư tìm
nơi sinh sống thường mang theo tổ tiên và truyền thống, phong tục của quê hương xứ
sở. Lịch sử khẩn hoang ở miền Nam cho thấy, việc hình thành làng xã, các vùng cư
dân ở Nam Bộ muộn hơn Bắc Bộ, nên đình, đền, miếu, chùa cũng được tạo lập muộn
hơn. Nhưng tấm lòng đối với tổ tiên thì không bao giờ muộn màng. Do vậy mà đền
thờ Hùng Vương có mặt hầu hết ở các tỉnh phía Nam. Chưa có khảo sát cụ thể để kể
hết, nhưng được biết, hiện nay ở Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng
Nai, Lâm Đồng, Tiền Giang, An Giang, Hậu Giang... đều có đền thờ vọng vua Hùng,
như đền thờ vua Hùng ở Thảo Cầm viên - Thành phố Hồ Chí Minh; đền thờ Lạc
Long Quân - Âu Cơ ở Vũng Tàu... Chưa kể rất nhiều công trình văn hóa giáo dục ở
nhiều nơi mang tên Hùng Vương để tưởng nhớ tổ tiên. Đáng nói là kiều bào Việt
Nam ở Pháp, Mỹ, Srilanca công lập nơi thờ Hùng Vương, có người về nước trang
trọng “thỉnh” chân hương ở đền Hùng đất Tổ mang sang thờ để không thấy cách biệt
với cội nguồn.
Riêng ở Đồng Nai, tổ tiên vẫn luôn ngự trong lòng mỗi người. Đồng Nai được
hình thành từ nhiều đợt di dân, nhiều nguồn dân cư nhưng chung một tổ tiên: Hùng
Vương. Ở huyện Thống Nhất, Tân Phú, thị xã Long Khánh, thành phố Biên Hòa có
đền hoặc điện thờ vọng Hùng Vương gắn liền với phong tục tập quán ở địa phương.
Ở Biên Hòa, ngoài đền thờ Hùng Vương ở Bình Đa, nhân dân còn tưởng nhớ tổ tiên
bằng những hình thức tế lễ hàng năm ở đình chùa khác như. Đình thờ Trần Hưng
Đạo (phường Tân Tiến), các chùa Bửu Phong (xã Tân Bửu)... và tại trung tâm thành
phố Biên Hòa có một ngôi trường lớn vinh dự mang tên Hùng Vương.

14.4 Page 134

▲back to top
Đền thờ Hùng Vương ở Bình Đa tuy được tạo lập muộn nhưng không tách rời
phong tục, truyền thống cổ truyền của dân tộc, mà là biểu hiện cụ thể tấm lòng và
bản lĩnh của nhân dân Biên Hòa đối với tổ tiên và đồng bào cả nước.
Hàng năm, vào ngày mùng 10 tháng 3, đền Hùng Vương Biên Hòa tiến hành
các thủ tục lễ tưởng nhớ công đức các Vua Hùng. Con cháu Vua Hùng không chỉ ở
Biên Hòa, còn ở các nơi xa tìm về như chim gọi bầy cùng tỏ lòng tưởng nhớ và
nguyện sống xứng đáng với tổ tiên.
Có “Vua Hùng” hiện diện trong tâm tư, nhân dân Biên Hòa tự hào về dòng
giống, có sức mạnh tinh thần bất khuất, biết đoàn kết trong lao động và sản xuất giữ
gìn và phát huy bản sắc, bản lĩnh của dân tộc, đồng tâm nhất trí bảo vệ Tổ quốc, đưa
đất nước tiến lên theo con đường mà Bác Hồ và nhân dân đã lựa chọn.
1. Quá trình hình thành đền Hùng Vương ở Bình Đa
Đền thờ Quốc tổ Hùng Vương tọa lạc bên Quốc lộ 15, khu phố III, phường
Bình Đa, thành phố Biên Hòa, được khởi công xây dựng năm 1968, hoàn thành năm
1971, do sáng kiến và sự vận động của 14 vị trưởng lão xã Tam Hiệp cũ. Thoạt đầu
14 vị trưởng lão thống nhất ý kiến, hoạch định kế hoạch, xin phép chính quyền địa
phương (lúc đó là chính quyền Mỹ- ngụy) được vận động nhân dân trong vùng đóng
góp xây dựng đền.
Sự vận động của các vị trưởng lão được hưởng ứng. Bà con gần xa kẻ góp tiền
người góp công sức dựng nên ngôi đền tại quê hương. Đền rộng năm gian, mái lợp
tôn, tường gạch, vôi trắng, trong điện bày bàn thờ Quốc tố và tả ban, hữu ban. Năm
1971, đền được hoàn chỉnh, nhân dân trong vùng đến viếng. Ban Quản lý tổ chức tế
lễ vào ngày mùng 10 tháng 3 hàng năm. Mặc dù chiến tranh khốc liệt, ngôi đền vẫn
được nhân dân bảo vệ nguyên vẹn. Đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đền
Hùng Vương được tiếp tục duy trì các hình thức hoạt động như cũ. Mỗi năm một lần,
Hội đền tổ chức bầu ra Ban Quản lý. Các vị trưởng Ban Quản lý qua các nhiệm kỳ
như sau:
- 1975-1976: ông Nguyễn Văn Mão

14.5 Page 135

▲back to top
- 1977-1979: ông Đàm Xuyến
- 1980-1981: ông Trần Văn Phụng
- 1982-1984: ông Trịnh Văn Quảng
- 1985-1986: ông Lương Đình Cù
- 1987-1990: ông Trịnh Văn Quảng
- Từ năm 1991: ông Nguyên Đức Hài
Từ năm 1991, ngôi đền hư hỏng, xuống cấp, Ban Quản lý đền Hùng xét thấy
cần sửa chữa, mở rộng qui mô ngôi đền để đáp ứng tín ngưỡng của nhân dân nên lập
kế hoạch xin phép chính quyền địa phương được tôn tạo, trùng tu ngôi đền. Chính
quyền địa phương chấp thuận, cho phép trùng tu đền Hùng theo quyết định số
435/GP - XD ngày 04/06/1991 do bà Phạm Thị Phú ký.
Căn cứ vào quyết định cho phép của chính quyền địa phương, Ban Quản lý đền
Hùng mở đợt vận động trong nhân dân. Ban Quản lý nhận được sự đóng góp tự
nguyện của nhân dân phường Bình Đa, Tam Hiệp, Tam Hòa, An Bình, của các tổ
chức tôn giáo, cơ quan, đơn vị, nhà máy, xí nghiệp trong và ngoài tỉnh. Cuộc vận
động chia làm bốn đợt, được ủng hộ bằng tiền và hiện vật: 39.023.000đ đã quyết toán
kinh phí trùng tu: 41.283.000đ
Khởi công xây dựng từ ngày 9 tháng 9 năm 1991 đến ngày 1 tháng 4 năm
1993, công trình trùng tu đền Hùng hoàn thành các hạng mục cơ bản. Từ một ngôi
đền nhỏ, đền Hùng Vương ở Bình Đa như một người đẹp được trang điểm lại: Khang
trang hơn, uy nghi hơn; gồm 5 gian rộng, tổng diện tích 230 m2 với lối kiến trúc vừa
truyền thống vừa hiện đại; trụ bê tông cốt thép, khiến ngôi đền vững chãi với thời
gian; mái sọc hai tầng viền cong hình mũi hài tạo dáng cổ kính đậm màu sắc mỹ
thuật Á Đông. Trên đỉnh đền có hình ngọc châu tỏa sáng như vờn mây chan hòa với
bầu trời xanh thẳm. Phía trước là bãi sân rộng sạch sẽ cánh cổng tường gạch vững
chắc mà rộng mở mang biển “Đền Hùng Vương” chữ đỏ nổi bật trên nền vôi trắng,
sẵn sàng đón tiếp mọi người. Phía bên trái ngôi đền là cây cổ thụ bồ đề ngang tuổi
với ngôi đền, suốt ngày đêm uy nghi, trầm mặc tỏa bóng mát rượi sân đền, cho những

14.6 Page 136

▲back to top
học sinh quanh vùng đến ôn bài hoặc vui chơi.
Đền Hùng Vương tuy hẹp về diện tích tổng thể nhưng rất rộng mở về lòng hiếu
khách, có sự kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên và con người, giữa cảnh và tình, giữa
sự trang nghiêm và vẻ đẹp trữ tình. Ngày 10 thăng 3 năm 1993 âm lịch, ngày giỗ tổ
Hùng Vương được tổ chức trọng thể, lần đầu tiên ngôi đền vừa được trùng tu đón
khách thập phương, hàng ngàn lượt người đến viếng đền, có sự tham dự của quan
khách chính quyền địa phương... Ngày ấy, đền Hùng đông vui, rộn ràng, thành kính,
đúng nghĩa với ngày giỗ tổ tiên.
2. Thờ tự - tế lễ
Đền Hùng Vương ở Bình Đa thờ vọng Quốc tổ Hùng Vương là chính, ngoài ra
còn có thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh và công đức của các vị trưởng lão khai công xây
dựng đền. Nội điện gồm 5 gian. Từ ngoài hướng vào chính điện, gian bên trái để
khách thập phương tọa vị, chuẩn bị tế lễ; gian bên phải là bàn thờ, bảng ghi danh
công đức các vị trưởng lão đóng góp lớn cho hội đền. Việc thờ, ghi danh công đức
các vị tiền hiền ở các đình, đền, chùa miếu... là điều bình thường, thể hiện truyền
thống “ăn trái nhớ kẻ trồng cây” của dân tộc ta. Gian chính điện được bài trí theo
phong cách Á Đông, giản dị mà trang nghiêm. Hai hàng bát bửu và đôi lọng vàng
long trọng mở lối đi vào điện thờ. Bàn thờ Hồ Chủ tịch đặt ở tiền điện để mọi người
đều được viếng Bác trước khi vào dâng hương vua Hùng. Bác trong ảnh thờ tươi vui,
thân ái đôn hậu, vừa thánh thiện, vừa gần gũi. Việc lập bàn thờ Bác trong điện thờ
Hùng Vương là hiện tượng đặc sắc biểu hiện truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”
của nhân dân ta. Trong tâm niệm của người Biên Hòa, Quốc tổ Hùng Vương có công
dựng nước, Bác Hồ là người có công dẫn đường, mở lối, lãnh đạo toàn dân đấu tranh
chống ngoại xâm, xây dựng và phát triển đất nước. Công lao và đức độ của Bác Hồ
xứng đáng được nhân dân đời đời tưởng nhớ như tưởng nhớ Quốc tổ.
Tại gian chính điện, một bức lam chạm trổ hình “lưỡng long tranh châu” với
đường nét tinh xảo làm tăng vẻ thiêng liêng của thần điện. Phía trên là biển đề Hùng
Vương Quốc Tổ bằng chữ Hán, nhũ vàng, nổi bật trên nền đỏ có viền vàng tạo ấn
tượng thành kính đối với mọi người. Hai bên là đôi câu đối thếp vàng bằng nét chữ

14.7 Page 137

▲back to top
Hán, do cụ Nguyễn Hữu Khả sưu tầm năm Nhâm Tý:
Thập bát tương truyền quyết tâm khai thác biên cương triệu bồi Hồng Lạc.
Tứ thiên niên kế nghiệp lịch đại hối ninh phong vũ kiến tạo Sơn Hà.
Tạm dịch: Mười tám đời truyền ngôi, quyết lòng mở mang bờ cõi, gầy dựng
giống Lạc Hồng. Bốn nghìn năm kế nghiệp, trải bao tối sáng gió mưa, dày công kiến
tạo Sơn Hà.
Điện thờ Hùng Vương đặt cao hơn nền gạch một bậc. Trên điện là tượng thờ
vua Hùng Vương thứ 18 (Hùng Duệ Vương) trong thế ngồi uy nghi, đĩnh đạc với
gương mặt cương nghị và đôi mắt tinh anh như nhìn thấu quá khứ, hiện tại và tương
lai. Đây là pho tượng sinh động được chế tác theo phiên bản từ tượng thờ chính ở đền
Hùng Vương Phú Thọ do nghệ nhân điêu khắc Đại Nguyên thực hiện từ năm 1982.
Vật thờ trên thần điện gồm: Chiêng đồng, giáo đồng, nậm rượu gỗ, và các đồ gốm sứ
vốn là đặc sản của Đồng Nai: Đôi ngựa chiến, đĩa bàng thang, bát nhang, bình hoa...
Các đồ dùng khác trong điện thờ chủ yếu bằng gốm sứ, sản vật của địa phương có từ
tấm lòng, bàn tay, khối óc của nhân dân. Ở gian bên trái, trên tường vôi trắng còn
được trang điểm bởi bức phù điêu thạch cao do Nguyễn Đức Hài thực hiện với nhan
đề “Công đức lưu truyền, Hùng Vương điển tích”, thể hiện chủ đề: “Tổ quốc Việt
Nam thống nhất trong truyền thống Lạc Hồng dựng nước và giữ nước”.
Đền thờ Hùng Vương mở cửa hàng ngày vào buổi sáng, mọi người đều có thể
đến dâng hương, viếng vọng Quốc tổ. Lễ chính được cử hành trong ngày 10/3 âm
lịch hàng năm, gọi là giỗ tổ Hùng Vương. Trước ngày này, Ban Quản lý cùng các hội
viên hội đền phân công chuẩn bị mọi thứ để lễ hội diễn ra thu tất. Kinh phí lễ hội do
nhân dân đóng góp bằng nhiều hình thức. Trong ngày lễ, khách thập phương về viếng
cúng rất đông. Hình thức viếng cúng tùy lòng thành tâm của mỗi người, có thể bỏ
tiền vào hòm công đức, dâng hương hoa tưởng niệm... Theo thông lệ, các gia đình ở
phường Tam Hòa, Bình Đa, Tam Hiệp, An Bình thường sửa soạn mâm xôi, hoa quả,
bánh trái đến dâng cúng. Người ta quan niệm rằng, lễ cúng được tròn đầy Thánh tổ sẽ
ban phước lành. Ban Quản lý đền Hùng chịu trách nhiệm tiến hành các nghi thức tế
lễ. Lễ chính có nhạc bát âm dìu dặt, trống đại trống tiểu điểm nhịp nhặt khoan. Các lễ

14.8 Page 138

▲back to top
sinh được chọn từ những người có uy tín trong vùng mặc lễ phục cung kính dâng
hương, trà, tửu theo tấu nhạc lễ. Trước khi dâng cúng Hùng Vương là lễ yết trước bàn
thờ Hồ Chủ tịch. Lễ yết mang ý nghĩa xin phép Bác Hồ, cùng với Bác dâng lòng
thành lên tổ tiên.
Tiếp theo là các cá nhân, tổ chức, hội đoàn dâng cúng theo lòng thành. Chính
quyền địa phương, các đoàn thể xã hội cũng có hình thức trang trọng tham dự lễ
cúng. Trong ngày này, trẻ già trai gái gần xa đều chung lòng, gần gũi, chan hòa với
nhau, cùng hướng lòng thành về cội nguồn dân tộc và công đức của tiền nhân.
Ngoài ngày giỗ Tổ, đền Hùng còn tế lễ trong ngày 19/5 nhằm kỷ niệm ngày
sinh của Bác Hồ. Ngày nay, nghi thức tế lễ đơn giản, trang trọng, chủ yếu là dâng
hương hoa để tỏ lòng biết ơn và thương nhớ Bác Hồ.
Ts. Huỳnh Văn Tới
Tục thờ cúng nữ thần ở Đồng Nai
Tục thờ cúng nữ thần là tín ngưỡng dân gian quen thuộc của cư dân nông
nghiệp ở các nước Đông Nam Á. Ở các nước: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan,
Myanma, Malaysia, Indonesia... đều có thờ cúng các nữ thần trên cơ sở quan niệm:
Sự sinh sản của Đất - Nước - Lúa gắn với biếu tượng Mẹ - Nữ thần. Tuy nhiên, mỗi
cộng đồng cư dân có niềm tin và cách thờ cúng khác nhau, có quan hệ tiếp biến với
nhau phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương. Cộng đồng cư dân Việt ở
Đồng Nai mới được hình thành cách đây hơn ba thế kỷ. Tục thờ cúng nữ thần gắn

14.9 Page 139

▲back to top
liền với người Việt ngay từ buổi đầu mở đất, đồng hành với quá trình phát triển của
xã hội, và hiện nay trở thành hình thức tín ngưỡng sinh động, khá phổ biến ở Đồng
Nai.
Đây là một mặt hệ trọng trong đời sống tinh thần của người Việt ở Đồng Nai
đáng được lưu ý. Người Việt ở Đồng Nai có nguồn gốc từ Bắc Bộ, Trung Bộ di cư
vào Nam mang theo “bóng dáng quê hương” , cả ông bà, tổ tiên và thần thánh của
mình. Đúng như PGS. PTS. Ngô Đức Thịnh nhận định: Tục thờ Mẫu: “hình thành và
định hình đầu tiên Bắc bộ, sau đó thế chân người Việt vào phía Nam, hòa nhập với
các thần linh địa phương để rồi tự biến đổi thành các sắc thái thờ phụng độc đáo ở
Huế, ở Nam bộ... (12)
Khảo sát thần điện thờ nữ thần ở Đồng Nai, có thể thấy các lớp nữ thần được
thờ cúng ở Đồng Nai có sự tiếp hợp nguồn gốc bản địa và nguồn gốc Bắc nhập cư, có
sự phát triển từ rời rạc vươn lên mang tính “đạo thờ Mẫu”, rồi lại địa phương hóa các
Mẫu được phụng thờ.
Lớp nữ thần bản địa có lẽ mang nguồn gốc tín ngưỡng của dân tộc thiểu số
thuộc văn hóa Nam Trường Sơn như: Chăm, Châu Mạ, Châu Ro, Xtiêng.. Những nữ
thần liên quan đến sản sinh như. đất, nước. rừng, cây lúa đều mang tính nữ là nữ
thần. Gần gũi nhất là thần Lúa (Yangpa) như là thần Dewi Sri của Indonesia. Nữ
thần này được người Việt tiếp thu thờ cúng và cầu nguyện trong những lễ giáp hạt,
lên đồng, xuống đồng và đón lúa mới vào bồ (kho). Phải là người phụ nữ bưng thúng
lúa đầu tiên đưa vào bồ mới không xâm hại đến sự sản sinh của thần Lúa. Lớp nữ
thần hiện nay mờ nhạt bóng dáng, hoặc trở thành phiếm thần thờ ở các miếu nhỏ
không thần tích, hoặc hội nhập vào chức năng của các nữ thần do người Việt mang
theo từ cố hương.
Hệ thống nữ thần nhập cư từ miền Bắc hiện chiếm lĩnh các đền thờ nữ thần ở
Đồng Nai. Nhưng đó không phải là sự sao chép nguyên bản mà có cải biến cho phù
hợp với nhận thức và điều kiện ở quê hương mới. Mẹ âu Cơ - bà mẹ của dân tộc -
được thờ vọng ở nhiều nơi. Nhưng nhiều hơn cả là Tam tòa Thánh Mẫu hoặc Tứ phủ
12 Tục thờ Mẫu liễu Hạnh – một sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa cộng đồng, tạp chí Văn học số 5/1992, trang 17.

14.10 Page 140

▲back to top
được thờ ở miền, ở đền, cả ở đình, ở chùa (tiền thân hậu Mẫu). Cách bài trí điện thờ
và vị trí các Mẫu không khác mấy so với nguyên gốc. Các miếu thờ Tam tòa thường
là Mẫu Thiên mặc áo đỏ ngồi giữa, Mẫu Thoải áo trắng, Mẫu Thượng Ngàn áo xanh
ngồi hai bên. Nếu là Tứ phủ thì Mẫu Liễu Hạnh với áo choàng đỏ sậm, trang sức rực
rỡ ngự ở điện cao có màn che phủ. Lớp dưới là các cô, các cậu hầu Mẫu. Đáng chú ý
là trong bảy cô được hầu điện? Cô út đen dúa, xấu nhất có lý lịch là người dân tộc và
giỏi nghề đốn củi đốt than, có lẽ là nữ thần bản địa được nhập điện thờ Mẫu. Trong
hai cậu của Mẫu, có cậu Tài thường ôm con gà trống có đặc tính là ham vui, rất yêu
thích và rất giỏi đá gà. Tính cách này sát hợp với người địa phương nên gần gũi mọi
người.
Có lẽ tục thờ Mẫu hình thành khá hoàn chỉnh ở Bắc Bộ, lại được “đạo hóa”
theo Tiên Thiên Thánh Mẫu của Huế cho nên đến Đồng Nai nó nhập điện một cách
dễ dàng. Khi gặp phải dòng văn hóa của người Hoa cũng đang muốn chiếm lĩnh tâm
linh của người Việt, quá trình tiếp biến văn hóa đã biến bộ tứ (Tứ phủ) thành bộ ngũ
(Ngũ hành). Và người Hoa đã bổ sung thần điện một nữ thần quan trọng: Bà Thiên
Hậu. Ngoài việc thờ cúng cộng đồng theo bộ (Tam tòa, Tứ phủ hoặc Ngũ hành),
người Việt ở Đồng Nai lại có xu hướng cụ thể hóa và ủy nhiệm thêm chức năng cho
mỗi vị, từ đó kéo theo việc thờ riêng lẻ mỗi Mẫu theo các nhu cầu khác nhau. Bà
Thiên Hậu có chùa thờ riêng ở Bửu Long (chùa Thiên Hậu), ở Thủ Dầu Một (chùa
Bà), được giới buôn bán xem là mẹ bảo trợ của mình. Bà Cửu Thiên Huyền Nữ
(Thiên phủ) trở thành mẹ sanh mẹ độ mạng người được lập trang thờ ở gia đình. Mẫu
Thoải, người địa phương gọi là Bà Thủy “thêm nhiệm vụ” độ trì, cứu nạn cho người
làm nghề sông nước, được thờ cúng theo ghe hoặc các miếu nhỏ ven sông. Người ta
cho rằng, những người chết nước linh thiêng trở thành bộ hạ hầu Bà Thủy ở Thủy
phủ.
Dường như các Mẫu ở Tam tòa, Tứ phủ quá cao, quá xa với đời thường cho
nên người Việt ở địa phương còn có xu hướng tìm đến các nữ thần có lai lịch gắn với
địa phương, gần gũi, thiết thực hơn. Vì thế, xuất hiện các bà: Chúa Xứ, Chúa Ngọc,
Bà Đen... ở Nam Bộ. Riêng ở Đồng Nai, người Việt cũng gởi gắm tâm linh của mình
ở những nữ thần tuy không giàu thần tích nhưng gắn bó với mảnh đất họ đang sinh

15 Pages 141-150

▲back to top

15.1 Page 141

▲back to top
sống. Cô Lê Hồng Thủy, một trinh nữ chết trôi có tấm lòng yêu đất, yêu biển Long
Hải nên được phụng thờ ở Dinh Cô (Long Hải). Thị Vải có cá tính khác thường, giàu
lòng nhân ái và khát vọng tự do cũng được lập miếu thờ. Cô Bóng Hiên khẳng khái,
thực lòng mà phải tội chết trở thành thần nữ linh thiêng có miếu thờ khang trang ở
Vĩnh Cửu. Tục thờ nữ thần trong tín ngưỡng dân gian có xu hướng thâm nhập vào
các hình thức tín ngưỡng khác. Đa số các đình và nhiều chùa có bàn thờ Mẫu ở hậu
điện. Đạo giáo cũng thường chọn các hội lễ cúng Bà để bày tỏ đạo pháp của mình.
Quan Thế Âm của Phật giáo và Mẹ Maria của Thiên Chúa giáo được tín đồ ưu ái
phụng thờ hơn cả có lẽ do thói quen tín ngưỡng thờ nữ thần. Các tượng Quan âm Bồ
tát ở chùa, ở các nơi lộ thiên thường được “mẫu hóa” bằng cách khoác một áo
choàng, thường là sắc áo trắng của Bà Thủy (Mẫu Thoải). Người ta tin ràng, Bà Thủy
và Quan âm Bồ tát có họ hàng với nhau trong việc cứu người lâm nạn trên sông
nước, vì vậy hai bà cùng được mời gọi khi khấn nguyện. Và, hình tượng Quan âm Bồ
tát trở nên gần gũi, quen thuộc với mọi người hơn bất cứ vị Phật, Thánh nào khác.
So với lễ hội cúng đình thờ ông, lễ hội cúng Bà ở miếu, ở đình, đền... cởi mở
và sinh động hơn, bởi lẽ không bị ràng buộc bởi nghi thức cung đình. Lễ hội cúng Bà
cũng thường tổ chức vào tháng ba âm lịch (tháng mười cúng cha, tháng ba cúng mẹ),
không nhất thiết phải theo nghi thức của Đạo “Tiên Thiên Thánh Mẫu” gốc Huế. Lễ
hội cũng gồm các nghi lễ dâng hương, đăng, trà, quả cúng Bà và xin lộc Bà như ở
Bắc Bộ, có khác là nghi thức thỉnh Bà từ ngoài biển vào với ý nghĩa như là sự tái
hiện hình ảnh du nhập vào Đồng Nai của buổi ban đầu. Ở chùa Thiên Hậu rước Bà
bằng “lễ bắt cầu” lúc nửa đêm, ở Dinh Cô, thỉnh Cô bằng thuyền lúc rạng sáng. Lễ
hội cúng Bà ở Đồng Nai thu hút các sinh hoạt văn hóa đặc sắc của nhiều vùng: Hát
Bả trạo hầu Cô ở lễ hội Dinh Cô vốn có nguồn gốc từ Trung Bộ gắn với lễ tế cá Ông
của cư dân miệt biển; Hát Chầu văn theo cung cách của hội Phủ Giầy nhưng bài bản
có cải biến hợp với tâm tư người địa phương; Chập Địa - Nàng, một biến thể của hát
bội Nam Bộ có cội nguồn từ Trung Bộ; hát Bóng rỗi vừa mang tính nghi lễ vừa là trò
diễn dân gian mà nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng cho là có dung mạo và cội
nguồn từ giao lưu văn hóa Chăm - Việt (xem “Bóng rỗi, Địa - Nàng)... Tùy theo sở
thích của Ban Quý tế mà chọn lọc một vài trong các sinh hoạt kể trên, không phải

15.2 Page 142

▲back to top
theo một công thức nào. Cho nên, lễ hội cúng Bà luôn đem lại cảm hứng rộn vui, tươi
mới cho người tham dự.
Rõ ràng, tục thờ nữ thần đã ăn sâu vào tâm thức của người Việt ở Đồng Nai, nó
có sức sống bền vững, đã hình thành và phát triển từ lâu dài, đáp ứng nhu cầu tâm
linh của cộng đồng, hỗn dung nhiều nhân tố mới mà không xa rời cội nguồn. Đấy là
biểu tượng đẹp, mang ý nghĩa xã hội và ý nghĩa nhân văn sâu sắc gắn liền với một số
truyền thống văn hóa tích cực của dân tộc. Những giá trị văn hóa đích thực của nó
cần được gạn lọc, bảo tồn và định hướng phát triển hợp lý, đồng thời hạn chế và loại
trừ những thứ “bụi bặm”, “vấy bẩn” do những kẻ buôn thần bán thánh tạo ra để mưu
lợi cá nhân.
Ts. Huỳnh Văn Tới
Tản mạn về chuyện cọp ở Biên Hòa – Đồng Nai
1. Tục thờ cọp
Hầu hết các ngôi đình ở Đồng Nai đều có miếu hay bàn thờ thờ cọp với các tên
gọi như Hổ thần, Mãnh hổ Sơn quân, Bạch Hổ, Chúa Sơn lâm... Trước các đình
thường có những bức bình phong được chạm trổ, đắp phù điêu, vẽ thể hiện hình
tượng của vị chúa tể rừng xanh này trông dáng vẻ uy nghi, oai dũng.
Đây là một trong những tín ngưỡng dân gian của những người di dân từ thuở
trước còn lưu lại. Biên hoa - Đồng Nai là vùng đất mới mênh mông, núi rừng bạt
ngàn, sông rạch chằng chịt lắm thú dữ - đặc biệt nhiều cọp:

15.3 Page 143

▲back to top
Đồng Nai xứ sở lạ lùng
Dưới sông sấu lội trên giồng cọp um.
đã đe dọa trực tiếp đến cuộc sống, quá trình khẩn hoang của những người di dân. Vì
vậy, tâm lý sợ hãi về mối nguy hiểm này đã khiến cho họ thờ cọp, tôn cọp lên chức
ông Cả của làng xóm để mưu cầu một cuộc sống bình yên, không bị quấy rối. Hằng
năm, tại đình, khi diễn ra lễ cúng tế, tại bàn thờ hổ thường được cúng bằng thịt heo.
Có những nơi, người ta tin rằng, vào ban đêm, thần Hổ sẽ về hưởng và đem một tờ
sớ khác cho làng xóm.
Tại một số đình, còn có tục thờ “Thanh Long và Bạch Hổ”. Đây là một quan
niệm về thuật phong thủy. Xem như thế đất của đình là mạch quý, bên tả có Thanh
Long bảo vệ, hữu có Bạch Hổ trấn giữ nên không có gì xâm phạm được. Hoặc bức
bình phong có hình Sơn quân có thể hiểu là một dạng yếm bùa các thế lực tà ma
không được đến khu trung tâm khi đã có vị chúa tể này canh gác.
Những câu chuyện về cọp được thờ ở đình được truyền kể cho nhau với những
nét thêm thắt, huyền hoặc linh thiêng bao trùm tạo nên sự thần bí và nể phục của
nhiều người qua tục thờ cọp còn duy trì cho đến ngày nay.
2. Chuyện đánh cọp
Không chỉ sợ cọp, thờ cọp mà những người di dân thời xưa muốn tồn tại, sống
yên ổn đã phải đương đầu với mối đe dọa trực tiếp từ loài thú dữ này. Họ thờ cọp
nhưng trong thực tế, nhiều nơi nhiều lúc cọp đã không để con người yên thân. Vì vậy
mà bao người đã đánh nhau với cọp để bảo vệ bản thân, cộng đồng.
Chuyện đánh cọp được truyền miệng nhau kể. Rất nhiều người đã đánh nhau
với cọp ở nhiều nơi trên Đồng Nai.
Ở Phú Hội còn lưu truyền chuyện ông Sắc dòng họ ông Tổng Hiển giỏi võ đã
đánh nhau với cọp lúc nó chặn đường, bắt trâu khi ông đi lên rừng lấy củi. Trong một
lần đánh nhau, ông bị cọp chụp trúng vào bả vai gây nhiễm độc dẫn đến tử vong.
Ở Tân Cang, khu đồng Ông Hứa có một tích về cô gái của người nông dân
đánh thắng cọp. Biết cọp hay quấy nhiễu nơi canh tác của gia đình, cô gái đợi trên

15.4 Page 144

▲back to top
hòn đá chờ cọp đến. Hai bên quần thảo suốt một ngày. Bằng những thế võ hiểm, cô
gái đã giết chết con cọp dữ ở vùng này, giúp gia đình thu hoạch mùa màng yên ổn.
Tại Hóa An, Biên Hòa thuở trước có con cọp dữ lừng tiếng khắp nơi, nhiều
người đã bỏ thây ở rừng bị nó vồ bắt. Để diệt cọp, hai thầy giỏi võ ở vùng Tân Khánh
và Dĩ An đã hợp lực, cùng môn sinh đi giết cọp. Cuộc đối đầu giữa người và cọp diễn
ra quyết liệt. Con cọp dữ không hề nao núng trước số đông con người áp đảo. Từ bụi
rậm, nó nhảy ra nghênh chiến. Lúc bên tả, lúc bên hữu cọp nhe nanh, đưa vuốt quần
thảo với lao nhọn lưới vây. Trận đánh nhau giữa người và cọp kéo dài một ngày đêm.
Một số thanh niên trúng thương rời trận, một số khác mỏi mệt và khiếp đảm bỏ chạy.
Chỉ còn hai thầy giỏi võ nhất đồng hiệp sức quyết tâm diệt cọp. Hai thầy võ đã hiệp
lực gồng tay siết cổ con thú dữ. Diệt được họa cọp dữ nhưng hai thầy cũng kiệt sức
qui tiên để lại niềm cảm phục vô hạn của dân làng.
Những người đánh với cọp được khắc họa là những con người võ nghệ cao
cường, có tính can đảm và ý chí chiến thắng, lòng hiệp nghĩa vì sự an lành của người
dân. Những người dám đánh với cọp thời bấy giờ được xem như những vị có công
với làng xã, góp phần vào việc biến đổi vùng đất hoang vu thành ruộng làng và trở
thành chủ nhân của nó.
Tương truyền ở Biên Hòa - Đồng Nai xưa thường có những con cọp rất dữ tợn.
Chúng khôn lanh trong rình người bắt mồi và trốn tránh sự đi săn của con người.
Những con cọp dữ thường được gọi là cọp ba móng. Đó là những con cọp bị thương
tật hay bị bẫy mà chân mất đi một ngón. Không thể lý giải được vì sao những con cọp
chân có 3 móng thường rất dữ tợn, tinh ranh.
Ở Biên Hòa - Đồng Nai là địa bàn mà nhiều người Tây phương lắm của nhiều
tiền hay tổ chức đi săn cọp. Một câu chuyện kể về việc người Tây săn cọp ở Bà Kí rất
ly kỳ:
Ở miệt Bà Kí, có một con cọp ba móng cực kỳ hung dữ. Con cọp này từng bị
sập bẫy và thoát được nhưng mất một ngón chân. Từ đó, con cọp như điên cuồng,
hung dữ lạ thường, chừng như đi săn lùng người đã hại nó để trả thù. Nó đã dám
xông thẳng vào làng, bắt người mang đi mà chẳng hề sợ ai.

15.5 Page 145

▲back to top
Hoàng tử Henri d’Orleans (cháu vua Henri IV ở Pháp) là người từng đi săn
nhiều năm ở Ấn Độ nên rất tự tin sẽ hạ được con cọp ba móng ở Bà Kí một cách dễ
dàng. Ông cùng thuộc hạ đến khu Bà Kí để lùng dấu cọp. Ngày rình, tối ngủ tại các
lán trại dã chiến trong rừng nhằm mục đích nhử cho cọp xuất hiện. Nhưng nhiều tuần
trôi qua, bóng con cọp dữ chẳng thấy đâu. Thế rồi vào một đêm kia, căn lều của đoàn
tùy tùng hoàng tử bị cọp ba móng tấn công, giết chết 4 người. Ông tổ chức truy lùng
nhưng cũng không tìm thấy cọp. Sau đó, ông tổ chức thêm một lần nữa nhưng cũng
thất bại nên đành bỏ cuộc săn.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tại Chiến khu Đ, xuất hiện một con cọp
hung dữ táo tợn. Đó là “Cọp ba móng”, một thời làm kinh động cả vùng rừng núi bạt
ngàn này. Ai đã từng ở Chiến khu Đ chắc hẳn đã nghe tiếng đến sự tinh khôn trong
việc bắt người ăn thịt của nó. Sự tác oai tác quái của con cọp đã làm thiệt hại nhiều
sinh mạng và là nỗi ám ảnh của bao người đang sống thời bấy giờ. Người ta cho rằng
vì ăn thịt nhiều người nên con thú này trở thành tinh, biết lẩn tránh khi bị săn đuổi và
bắt người như có phép thần thông. Để giết con cọp dữ này, một đội săn đã được thành
lập. Sau nhiều lần truy đuổi và tiêu diệt, đội săn cọp đã trừ khử được con cọp này
bằng cách gài mìn đặc biệt cạnh một xác người đã từng bị nó vồ. Nó bị chết khi trở
lại ăn mồi. Khi mổ bụng nó ra, còn có những móng chân, tay của người bị hại.
3. Chuyện cảm hóa cọp vò cọp giúp người
Ngoài thờ cọp, đánh cọp còn cả chuyện lấy đức y mà chuyển hóa cọp dữ thành
lành cũng là một môtíf dân gian mang nhiều nét hoang đường được phổ biến ở Đồng
Nai. Tương truyền, ở khu đá Ba Chồng, Định Quán có hai con cọp trắng rất dữ tợn.
Thế nhưng, khi nghe tiếng chuông chùa và lời niệm kinh Phật tại ngôi chùa Thiện
Chơn, chúng được cảm hóa, trở nên hiền lành. Đôi bạch hổ này trú ở hang đá cho đến
ngày nay còn dấu tích và người dân gọi là hang Bạch Hổ. Sau này, do chiến tranh,
cặp hổ này bỏ đi nơi khác.
Câu chuyện bà mụ đỡ đẻ cho cọp được truyền miệng ở nhiều nơi. Tại An Hòa,
Long Thành ngày nay có một miếu thờ với tên gọi: Miếu bà Mụ. Tương truyền, với
nghề đỡ đẻ tài ba của mình, một chúa sơn lâm biết tiếng đến rước bà về đỡ đẻ cho vợ

15.6 Page 146

▲back to top
của mình khi gặp nạn khó sinh trong một đêm mưa gió bão bùng. Xong việc, hàng
tuần trước nhà bà mụ đều có heo rừng, hươu nai do cọp đem biếu để tỏ lòng biết ơn.
Khi nghe tin bà chết, cọp còn đến tế mộ.
Ở vùng Vũng Gấm, có chuyện kể vào những năm đầu thế kỷ XX, có nhà sư
gặp một con cọp trước cửa chùa. Tuổi già sức yếu nên nhà sư không kháng cự cũng
không bỏ chạy mà chỉ chắp tay, nhắm mắt đứng yên. Một hồi lâu, khi ông mở mắt ra
thì con cọp đã bỏ đi. Chỗ của nó khi nãy có một đứa trẻ mới sinh. Sau khi cứu đứa bé
vào chùa, nhà sư kêu gọi đệ tử theo dấu vết của con cọp. Khi đi vào rừng, bên cạnh
một con suối, đoàn người thấy một phụ nữ đang nằm ngất tại đó Người phụ nữ kể
rằng, chị ở chòi phía bên kia suối cùng chồng đốt than đổi gạo. Đêm đó, chị chuyển
dạ sinh nhưng không có chồng ở nhà, chị liều lĩnh qua suối với hy vọng đến được
xóm nhà dân để cậy nhờ. Tới suối, chị thấy một con hổ to xuất hiện và chị hoảng sợ
ngất đi. Đứa con được sinh ra trong lúc đó. Nhà sư nói cho chị biết, chính con cọp đó
đã tha đứa bé về để trước cửa chùa để cầu sự giúp đỡ. Người phụ nữ vui mừng đến
gặp con. Nhà sư cho rằng đây là con cọp ba móng hung dữ trước đây ở miệt Bà Kí.
Có lẽ nó biết hối hận những về những tội ác trước đó nên mới chuộc lỗi đối với con
người. Hành động cứu người phụ nữ và đứa bé là trong một việc làm những năm
tháng cuối đời của nó. Vài tháng sau, người ta thấy xác con cọp có ba móng này chết
yên lành trong hang đá.
Vùng Bửu Long tương truyền về sự tích của hàm Rồng, hàm Hổ. Tích xưa cho
rằng, vùng Bửu Long thời xưa hoang vu. Một nhà sư đến đây lập chùa. Dân làng sinh
sống an lành. Một hôm, có con cọp trắng xuất hiện. Ban đầu dân làng lo sợ nhưng
cọp chẳng hại ai. Cọp còn giúp đỡ những người lên núi thăm chùa. Trên núi Bửu
Long, có hai tảng đá nằm chồng lên nhau, hình vòng cung. Từ xa nhìn thấy như dáng
cọp đang há miệng, bên dưới có tảng đá bằng phẳng. Cọp thường về đây nằm nên
dân gọi là Hổ đầu thạch. Từ khi có cọp trắng, không có thú dữ nào dám về phá núi và
dân làng. Người dân quý mến cọp trắng và cử cọp làm Hương cả trong làng bằng
một tờ giấy để sẵn trong hang. Hằng năm, khi đến lễ cúng tại đình làng đem cúng tại
đá hàm Hổ. Về sau, cọp đi đâu chẳng rõ nhưng đến đêm của ngày cúng thì về nhận
giấy cử chức của năm trước.

15.7 Page 147

▲back to top
Mặc dù với nhiều chi tiết hoang đường, phóng đại và siêu nhiên thần bí, nhưng
với những chuyện kể này toát lên ý nghĩa của việc lấy tài năng, đức y mà cảm hóa
loài ác thú của những con người một thuở đi khai khẩn ruộng đất.
Những chuyện kể về cọp rất đa dạng và mang nhiều sắc thái khác nhau. Nó bổ sung
cho kho tàng chuyện kể văn hóa dân gian Đồng Nai thêm phong phú. Và trên hết,
qua đó, những chuyện kể này cũng cho chúng ta những nhận thức được về buổi đầu
lịch sử của việc khai khẩn đất Đồng Nai trước đây. Đó là sức sống mãnh liệt của các
lớp người đi trước; những phong tục, tập quán của họ trên vùng đất mới. Những điều
tưởng chừng như đơn giản, bình thường ấy lại là một cuộc đấu tranh hào hùng chống
lại với thế lực thiên nhiên, góp phần cho việc tạo dựng cuộc sống hôm nay từ những
bước đi đầu tiên mở cõi. Cái cốt nhân nghĩa, thiện lành trong chuyện về cọp cũng gợi
lên bao điều mà con người phải suy nghĩ. Đến loài thú dữ như cọp mà cũng biết hối
hận về tội ác do chính mình gây ra. Còn con người?
Ths Phan Đình Dũng
Những làng cổ ở Đồng Nai
Đồng Nai là vùng đất được khai phá sớm ở Nam Bộ. Trong đó, một số làng cổ
là nơi đứng chân cho công cuộc khẩn hoang lập nghiệp. Dọc theo sông Đồng Nai,
những vùng đất như Bến Gỗ, Cù Lao Phố, Bến Cá được những lớp cư dân Việt, Hoa
đến khai phá, xây dựng thành những vùng trù phú mà những dấu tích của một thời
vẫn còn bảo lưu cho đến tận hôm nay. Trong dòng chảy của lịch sử, những làng cổ đã
đóng một vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế, văn hóa của vùng đất Đồng

15.8 Page 148

▲back to top
Nai.
1. Làng Bến Gỗ
Làng Bến Gỗ thuộc xã An Hòa, huyện Long Thành, cách thành phố Biên Hòa
khoảng 7 km theo đường chim bay. Tên Bến Gỗ được dùng chỉ cho nhiều nơi như
làng, chợ, họ đạo, nhà thờ... trên một vùng có lẽ thuộc Bến Gỗ xưa, nay là địa giới
hành chánh của phường Long Bình Tân, các xã An Hòa, Long Hưng, một phần xã
Phước Tân, Tam Phước. Trong lòng đất Bến Gỗ, các nhà khảo cổ học đã phát hiện
được nhiều di vật của lớp cư dân cổ từng sinh sống. Mảnh đất này được các tộc
người của nhiều nền văn minh đến định cư, lập nghiệp xuyên suốt cả một thời kỳ lịch
sử từ thời đại đồng thau cách nay hàng ngàn năm. Sách Đại Nam nhất thống chí đề
cập vùng Bến Gỗ có giải thích hai địa danh: núi Thiết Khâu và sông An Hòa. Núi
Thiết Khâu tục gọi là núi Lò Thổi, gò đống gồ ghề, rừng rú rậm rạp, có mỏ sắt và
nhân dân trong vùng đến khai thác nấu quặng; sông An Hòa là chi lưu của sông
Phước Long, ngoài cửa là sông Đồng Châu, chảy về phía bắc đến chợ An Hòa làm
bến tre gỗ, tục gọi Rạch Gỗ.
Khu vực Bến Gỗ xưa là vùng đất có nhiều đền, chùa, miếu nhưng qua nhiều
biến động của xã hội, một số bị phá hủy nay không còn dấu vết. Họ đạo Bến Gỗ là
một trong những họ đạo ra đời sớm trên đất Biên Hòa - Đồng Nai, vào năm 1882.
Làng Bến Gỗ hiện tại có nhiều đình, chùa, miếu và mỗi di tích thường gắn liền với
những câu chuyện kể dân gian đầy màu sắc huyền bí như: bà Mụ Trời, miếu bà
Khoanh, chuyện ông Tượng... Đình An Hòa là ngôi đình bề thế còn bảo lưu nhiều
công trình kiến trúc nghệ thuật chạm khắc độc đáo các bô lão của làng cho biết, đình
được xây dựng vào năm 1792, niên đại này chỉ ước đoán. Ngôi đình đã được Nhà
nước liệt hạng di tích quốc gia năm 1989.
Đất Bến Gỗ còn nổi tiếng về đua thuyền. Tương truyền, từ thời Minh Mạng,
dân Bến Gỗ đã thành lập đội đua để tham gia vào cuộc đua tổ chức ở Biên Hòa.
Ngày nay, đội đua thuyền ở Bến Gỗ còn duy trì dù là tự nguyện nhưng đã giật nhiều
giải cao trong các kỳ thi trên toàn quốc. Lễ hội ở Bến Gỗ cũng rất đa dạng. Đặc biệt,
tại đình An Hòa và chùa Ông, đáo lệ ba năm lễ hội được tổ chức kéo dài nhiều ngày

15.9 Page 149

▲back to top
với các hình thức diễn xướng dân gian độc đáo như hát bội, xô giàn, đua thuyền...
người dân tham dự đông đảo.
Muốn đến Bến Gỗ, chúng ta có thể đi bằng đường bộ và đường thủy rất thuận
tiện, dễ dàng. Thật thú vị biết bao khi đến với vùng đất giàu truyền thống văn hóa,
bảo lưu nhiều di tích, đa dạng về tín ngưỡng này.
2. Làng Bến Cá
Bến Cá là địa danh văn hóa của vùng đất được người Việt định cư khá sớm,
nay thuộc xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu. Tên Bến Cá có từ bao giờ thật khó mà khảo
chứng thế nhưng khi nhắc đến địa danh này, mọi người đều hiểu nó đồng nghĩa với
vùng Tân Triều - một nơi nổi tiếng về bưởi Biên Hòa.
Từ thế kỷ XIX, địa danh Bến Cá là huyện lỵ huyện Phước Chánh, tỉnh Biên
Hòa khi hàng loạt các tên của chợ, phố, cầu gắn liền với nó. sách Đại Nam nhất
thống chí cho biết: chợ Bình Thảo, thôn Bình Thảo, huyện Phước Chánh có tên nữa
là chợ Ngự Tân - tức Bến Cá, người buôn tấp nập, đường thủy, đường bộ giao thông,
hàng ngoài và thổ sản, giang vị sơn hào không thiếu thứ gì, là một chợ lớn ở miền
núi. Vùng Tân Bình còn dấu vết của một con rạch mang tên Bến Cá, được sử sách
chép rằng: do lụt lội vào năm 1774 làm xói lở, cù lao Ngô và cù lao Tân Triều chia
làm hai, ở giữa là con sông nhỏ, nước cạn và hẹp, nước sông nhỏ chảy ngược ra sông
lớn không theo tiết Người dân địa phương có câu ca dao “Nước sông trong đổ lộn
sông ngoài/ Thương người đáo xứ lạc loài tới đây... để lý giải hiện tượng này. Ở Bến
Cá đã phát hiện một số di vật cổ bằng đá của người tiền sử nhưng đây là những phát
hiện ngẫu nhiên, lẻ tẻ chưa thể chứng minh đây là vùng đất con người cổ đã sinh
sống. Có chăng, ở đây có sự liên hệ với di chỉ thời đại đồ đá ở vùng Đại An cách
khoảng mấy cây số về hướng bắc.
Bến Cá xưa - Tân Bình nay là địa phận có nhiều đình chùa. Hầu hết, các đình ở
đây đều có sắc phong nhưng qua thời gian, một số không còn lưu giữ được. Đình
Bình ý còn giữ được sắc phong thời Tự Đức và một số văn bản cổ đáng lưu tâm. Lễ
hội Kỳ yên là lễ lớn, trọng ở các đình, một nét sinh hoạt văn hóa của người dân địa
phương. Hiện nay, vùng Tân Bình có sáu ngôi chùa và một di tích chùa cổ có tên là

15.10 Page 150

▲back to top
Kim Cang bị phá hủy do chiến tranh. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: Bến Cá là một
trung tâm Phật giáo của Nam Bộ với sự hiện diện của chùa Kim Cang và bảo tháp Tổ
sư Nguyên Thiều dòng Lâm Tế đời thứ 38. Bên cạnh đạo Phật, đạo Công giáo cũng
được truyền bá vào đây khá sớm. Sự phát triển của họ đạo Tân Triều có liên quan
đến những hoạt động của Nguyễn Ánh trước đây trên vùng đất này.
Trong truyền thống đấu tranh cách mạng, vùng Tân Triều - Bến Cá là cái nôi
của phong trào cách mạng Biên Hòa. Năm 1935, chi bộ Đảng Cộng sản Bình Phước
- Tân Triều đầu tiên của Biên Hòa được thành lập, là hạt nhân lãnh đạo phong trào
đấu tranh Biên Hòa trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược.
Bến Cá nổi danh về bưởi Tân Triều với nhiều loại như: bưởi đường, bưởi
thanh, bưởi cam, bưởi ổi, bưởi long, bưởi xiêm... Đất Tân Triều màu mỡ phù sa,
nguồn nước dồi dào nên thích hợp cho cây bưởi phát triển nhanh, sản lượng cao,
chất lượng tuyệt hảo. Vào mùa thu hoạch, vườn bưởi cây trái sum suê, trái vàng rực
trên cành, oằn nặng dưới tàng cây, sà trên mặt đất, đong đưa trong gió. Nhiều vườn
bưởi trở thành địa điểm quen thuộc của du khách đến tham quan, thưởng thức.
Người dân Bến Cá rất say mê với công việc và có lòng hiếu khách chân tình.
Nếu có dịp, du khách hãy đến nơi đây, miền đất đỏ ven sông Đồng Nai có vườn bưởi
thơ mộng, thơm ngon. Đến nơi đây, con người như hòa trong hương đồng cỏ nội,
chốn quê yên lành, thưởng thức hương bưởi danh tiếng một vùng.
3. Làng Hiệp Hòa (Cù Lao Phố)
Từ thác Trị An đến biển Đông, dòng chảy sông Đồng Nai để lại nhiều cù lao
lớn nhỏ, quanh năm xanh mượt những vườn cây trái, hoa màu tươi tốt. Ở địa phận
thành phố Biên Hòa, dòng sông bỗng chia ra làm hai nhánh, ôm trọn một dải đất có
“địa thế khuất khúc chạy tới hình con Hoa cù, uốn lượn giữa dòng nước”. Đó chính
là Cù Lao Phố, còn có nhiều tên gọi khác như Đông Phố, Giản Phố, Bãi Rồng hay
Nông Nại Đại Phố - nay là xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa. Sử sách chép, năm
1679, được phép của chúa Nguyễn, Trần Thượng Xuyên dẫn theo một đoàn người
Hoa đến định cư tại Biên Hòa. Khi đến vùng Cù Lao Phố, thấy dải đất này có ưu thế
cho việc phát triển nông nghiệp, thuận tiện giao thông thủy bộ, có lợi cho việc buôn

16 Pages 151-160

▲back to top

16.1 Page 151

▲back to top
bán nên Trần Thượng Xuyên xây dựng nơi đây thành một thương cảng. Đường xá
được mở mang, phố xá được xây dựng, chợ búa được thành lập hàng hóa dồi dào,
nhiều tàu buôn từ các nước đến đây buôn bán, tạo nên cảnh phồn vinh của một đô hội
lớn.
Trong lịch sử phát triển của xứ Đồng Nai, Cù Lao Phố là nơi phát triển nhiều
ngành nghề như dệt chiếu, trồng dâu nuôi tằm, nghề gốm, đúc đồng, làm mộc, trồng
mía nấu đường... Sản phẩm đường làm ở Cù Lao Phố được xem là đặc sản bán cho
nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á vào thế kỷ XVII, XVIII. Thế nhưng, kiến
trúc phong quang của Cù Lao Phố bị tàn phá bởi cuộc chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn
Ánh vào năm 1776. Qua thời cuộc bể dâu, thời kỳ hoàng kim của Cù Lao Phố lui vào
dĩ vãng, hoàn thành sứ mệnh của một đô thị cổ, một thương cảng sầm uất vào bậc
nhất ở đất phương Nam cách nay hàng mấy thế kỷ .
Từ sau ngày đất nước thống nhất, người dân Cù Lao Phố cần cù sáng tạo đã
xây dựng, biến cải vùng đất màu mỡ này thành vựa lúa lớn ở Biên Hòa. Ơ Cù Lao
Phố hiện nay có 5 ngôi chùa, 3 tịnh xá, 11 ngôi đình, 3 ngôi miếu, 1 biểu tòa Cao Đài
và ngôi chùa Hoa cổ kính. Có thể nói, Cù Lao Phố là đơn vị hành chánh cấp xã có số
lượng cơ sở đình, chùa, đền, miếu thuộc loại nhiều nhất ở Nam Bộ; phong phú về
dạng thức tín ngưỡng, tạo thành một cơ cấu đan xen, hòa trộn vào nhau. Hầu như
mỗi di tích ở Cù Lao Phố đều gắn với những chuyện tích vừa mang tính giáo huấn
của nhà Phật đồng thời thể hiện triết lý nhân sinh sâu sắc như chuyện Thủ Huồng,
tích chùa Hoàng Ân, chùa Đại Giác...
Ngày nay, Cù Lao Phố là một vùng quê yên ả trong lòng thành phố với cảnh trí
nên thơ hữu tình, những vườn cây trái sum suê cánh đồng lúa trải dài, nước sông bốn
mùa tươi mát ...và nó mang trên mình bao chứng tích của một thời lịch sử, huyền
thoại về bao lớp người thời mở cõi. Cù Lao Phố xứng đáng là một quần thể di tích,
điểm du lịch sinh thái và hoạt động văn hóa về nguồn hấp dẫn. Nơi này - Cù lao phố,
với phong cảnh thiên nhiên trữ tình đã đi vào lời thơ của bao thi sĩ: “phải giận hờn
mà sông chia hai ngả, Đi chưa xa thương nhớ lại chung dòng. Rồi để lại hòn Cù lao
êm ả, Nằm xoải dài giữa hai cánh tay sông”. (Xuân Sách). Trong quy hoạch tổng thể

16.2 Page 152

▲back to top
phát triển của thành phố Biên Hòa, làng Hiệp Hòa với địa thế thuận lợi, thiên nhiên
hữu tình sẽ phát triển thành khu du lịch sinh thái độc đáo trong lòng của thành phố
công nghiệp Biên Hòa, giữa khu vực động lực kinh tế miền Đông Nam Bộ. Những
ưu thế về di tích văn hóa lịch sử, những giá trị di sản vốn có trên làng quê chắc chắn
sẽ làm cho du khách càng mến yêu thêm vùng đất này.
Ths Phan Đình Dũng
Bộ sưu tập gốm từ sông Đồng Nai
Sông Đồng Nai - đoạn chảy qua Biên Hòa và các cù lao phụ cận như vết
son duyên dáng tô điểm cho thành phố này thêm thơ mộng, trữ tình. Vùng sông này,
ngoài những lợi ích được con người khai thác phục vụ cho đời sống, còn là nơi ẩn
chứa trong lòng nó nhiều điều kỳ thú.
Dưới lớp phù sa của dòng sông này, trong suốt nhiều năm qua, người dân đã
tình cờ tìm thấy, vớt được những cổ vật của những thời kỳ văn hóa phát triển trước
đây trên vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai. Tại xã Tân hạnh, một công trình khai thác
cát đã đưa lên một tượng đá cổ đồ sộ. Đó là tượng thần Vishnu với tư thế đứng, trong
tay cầm giữ những linh vật tượng trưng cho nhân sinh vũ trụ của tôn giáo cổ Brahma.
Tượng được tạc một cách hoàn mỹ từ chất liệu đá sa thạch màu xám đậm, niên đại
được xác định từ thế kỷ VII – VIII. Sau này, một công trình khai thác cát khác tìm
thấy được những hiện vật liên quan đến các vị thần cổ như Vishnu bằng đá, bệ và
phần dưới tượng thần U ma... Đây là những cổ vật quí giá phản ánh về tô giáo cổ.

16.3 Page 153

▲back to top
Nhiều người dân chài cũng vớt được những đồ cổ bằng nhiều chất liệu khác
nhau như đồng, đá, gốm... trên đoạn sông chảy qua Biên Hòa. Đó là những vật quý,
là nguồn tư liệu quý cho việc nghiên cứu vùng đất Đồng Nai. Tiếc thay, theo tay
những kẻ buôn bán đồ cổ, một số cổ vật bị tẩu tán, bán đi. Một số giao cho cơ quan
bảo tàng lưu giữ, tro đó có tượng thần nói trên.
Thời gian gần đây, những người lặn bắt tôm trên sông đã vớt lên những bình
gốm cổ lẫn trong lớp cát phù sa giữa lòng sông. Từ những phát hiện lẻ tẻ đã dẫn đến
kết quả khá khả quan trong việc thu thập hiện vật. Hằng trăm hiện vật đủ các loại
chất liệu phát hiện dưới sông được sưu tầm bảo quả. Trong bộ sưu tập này hiện vật
gốm chiếm tỷ lệ nhiều nhất và một số được chọn lọc trưng bày cho công chúng
thưởng ngoạn.
Theo kết quả phân loại thống kê và chỉnh lý của Bảo tàng Đồng Nai, tổng số
hiện vật gồm:
- Loại hình nổi: 62 hiện vật. Chúng có niên đại khoảng thế kỷ XVII trở về sau.
- Loại hình nắp đậy: 56 hiện vật. Niên đại khoảng thế kỷ XVI - XVII hoặc
muộn hơn. Đặc biệt, có 4 hiện vật được xác định vào khoảng thế kỷ IX - X.
- Loại hình âu: 17 hiện vật. Niên đại gần gũi với truyền thống gốm Angkor giai
đoạn từ thế kỷ XII - XIII.
- Loại hình cối: 154 hiện vật. Niên đại khoảng thế kỷ XVI đến XIX.
- Loại hình bát: 39 hiện vật. Niên đại khoảng thế kỷ XVI – XVIII.
- Loại hình trách: 22 hiện vật. Niên đại khoảng giữa thế kỷ XVII.
- Loại hình chậu: 17 hiện vật. Niên đại khoảng thế kỷ XVII trở vê sau.
- Loại hình ấm có quai: 31 hiện vật. Niên đại khoảng thế kỷ XVII - XVIII.
- Loại hình bình vôi: 31 hiện vật. Niên đại khoảng thế kỷ XVI - XIX.
- Loại hình ống nhổ: 41 hiện vật. Niên đại khoảng thế kỷ XVI - XVIII.
- Loại hình lọ : 133 hiện vật. Niên đại khoảng thế kỷ XVI - XVII

16.4 Page 154

▲back to top
- Loại hình đĩa đèn, chân đèn: 53 hiện vật. Niên đại khoảng thế kỷ XVI đến
XIX.
- Loại hình bình con tiện: 70 hiện vật. Niên đại khoảng thế kỷ XII - XIII.
- Loại hình vò có quai: 30 hiện vật. Niên đại khoảng thế kỷ XVI - XVIII.
- Loại hình vò không quai: 97 hiện vật. Có hai loại. Một số có niên đại khoảng
thế kỷ XII - XIII; số khác có niên đại từ thế kỷ XVII - XVIII.
- Loại hình Kendy: 10 hiện vật. Niên đại khoảng thế kỷ XII - XIII Đặc biệt có 2
hiện vật niên đại từ thế kỷ I - VIII.
- Loại hình hũ: 42 hiện vật. Niên đại khoảng thế kỷ XVI - XVII
- Loại hình chum, ché: 8 hiện vật. Niên đại khoảng thế kỷ XII - XIII.
- Các loại hình khác như bình đáy nhọn (5 hiện vật), bình cổ nhỏ miệng hẹp
(l0hiện vật), niên đại khoảng thế kỷ IX - X; bình chóp đáy bằng (5 hiện vật), bình
hình cầu đáy lồi tròn (3 hiện vật), niên đại khoảng thế kỷ XII - XIII.
Ngoài những loại hình nêu trên, trong sưu tập còn có một số hiện vật như: siêu,
đĩa sứ, hộp... có niên đại khoảng thế kỷ XVII - XVIII trở về sau.
Một số còn nguyên dạng và một số bị vỡ. Hầu hết các loại hình hiện vật phong
phú về kiểu dáng, hoa văn và kỹ thuật chế tác.
Sưu tập hiện vật gốm cổ dưới sông Đồng Nai rất đa dạng từ chất liệu, kiểu
dáng, chủng loại và phong cách. Hầu hết đây là những sản phẩm phục vụ cho sinh
hoạt đời sống. Từ những chiếc bình, chế, vò... cao lớn đến nồi, ấm, tách, lọ, chum,
khạp, chậu đèn, bình vôi... Chúng được làm từ đất sét mịn. Tùy theo chủng loại và
công năng mà mỗi thứ được pha thêm những chất liệu phụ gia như cát, bã thực vật.
Số lượng gốm này phần được chế tác bằng kỹ thuật bàn xoay, một số bằng khuôn
tay. Mảng trang trí cũng như tạo dáng cũng rất phong phú: Như nồi đất giả đồng có
nhiều kích cỡ hoa văn vạch vòng chung quanh khác nhau. Sưu tập bình gốm có nhiều
kiểu hoa văn, tạo dáng cách điệu, khác biệt, nhiều hình nhiều vẻ. Riêng sưu tập bình
vôi từ lớn đến nhỏ có loại tráng men, có loại không với những kiểu tay cầm đa dạng.
Bình thì được trang trí bởi những hoa dây lá cách điệu, bình thì chạm nổi những con

16.5 Page 155

▲back to top
ve... rất đa dạng.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: Sưu tập gốm cổ dưới sông Đồng Nai là sưu
tập đa văn hóa. Chúng mang những truyền thống văn hóa xuất xứ từ những vùng đất
khác nhau. Đó là truyền thống tiền Angkor - Angkor, truyền thống gốm Nam bộ;
gốm Duyên Hải, Hoa Nam; gốm Đại Việt và truyền thống gốm thô. Niên đại của bộ
sưu tập gốm cũng khá phức tạp. Từng loại kiểu của chúng làm vào những khoảng
thời gian khác nhau. Nhìn chung, niên đại toàn bộ sưu tập gốm cổ này kéo dài từ thế
kỷ thứ Vi cho đến thế ký thứ XIX. Điều đặc biệt là chúng hội tụ đến bất ngờ trên
vùng sông Đồng Nai đoạn chảy qua Biên Hòa. Và đây cũng là một câu hỏi mà các
nhà nghiên cứu đang dày công giải đáp về sự hiện diện của bộ sưu tập gốm đa dạng,
phong phú này trên khúc sông được định vị này. Trên vùng đất Đồng Nai qua các
cuộc khai quật, người ta đã phát hiện sự có mặt của gốm trong các địa tầng văn hóa.
Những hiện vật gốm có niên đại hàng nghìn năm trong các di chỉ khảo cổ học cho
thấy sự ra đời rất sớm của nghề gốm trên vùng Đồng Nai. Trong dòng chảy lịch sử,
vùng đất trù phú này đón nhận nhiều thế hệ các lớp cư dân từ khắp nơi đến khai
khẩn, tạo dựng. Vùng đất vốn có nhiều đất sét này là một trong những điều kiện
thuận lợi cho nghề gốm phát triển. Trong quá trình cộng cư này đã diễn ra sự hội
nhập các tộc người Việt, Hoa, Chăm, Khmer... mà dấu tích còn lưu lại cho đến ngày
nay.
Bộ sưu tập gốm cổ được phát hiện dưới sông Đồng Nai ngoài tính bản địa của
chúng còn có những hiện vật từ các miền đất khác du nhập vào. Từ phong cách, kỹ
thuật của bộ sưu tập gốm cho thấy sự đa dạng, phong phú không chỉ về chủng loại
mà còn ở xuất xứ, nguồn gốc.
Vì nguyên cớ nào những loại sản phẩm này có mặt trên vùng đất Biên Hòa -
Đồng Nai? Không chỉ riêng bộ sưu tập hiện vật đã được phát hiện này mà trong các
đợt điều tra trên sông Đồng Nai tại các địa điểm Cù Lao Phố, cù lao Rùa, vùng Bến
Cỗ. Các nhà chuyên môn đã xác định được các lò gốm cổ và những đoạn sông còn
ẩn chứa vô số đồ gốm mà chúng ta chưa có điều kiện thu thập.
Phải chăng từ bộ sưu tập gốm cổ này với nhiều khung niên đại gợi lên cho

16.6 Page 156

▲back to top
chúng ta về một trung tâm thương mại cổ xưa từng phát triển mạnh ở Biên Hòa. Tính
chất cảng thị và sự giao lưu buôn bán đã bắt đầu trong khoảng 10 thế kỷ đầu Công
nguyên. Và đó cũng chính là những tiền đề cho vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai phát
triển với thương cảng Nông Nại Đại Phố với quy mô tầm cỡ ở khu vực Nam Bộ được
sử sách nhắc đến vào thế kỷ XVII - XVIII cho đến khi bị triệt hạ hoàn toàn. Địa danh
thương cảng này được xác định là vùng Cù Lao Phố, xã Hiệp Hoà, thành phố Biên
Hoà ngày nay với địa thế thuận lợi cho việc thông thương đường thuỷ khi nó nằm
giữa hai nhánh rộng của sông Đồng Nai.
Lòng sông Đồng Nai vẫn còn chứa đựng nhiều điều bí ẩn. Sự phát hiện bộ sưu
tập gốm cổ cũng như các cổ vật khác từ nhiều chất liệu khác sẽ là một nguồn tư liệu
quý giá giúp cho việc nghiên cứu về vùng đất Đồng Nai - Gia Định trong suốt tiến
trình lịch sử đã qua. Hy vọng qua những kết quả phát hiện, điều tra liên ngành trong
thời gian qua và những kế hoạch trong tương lai, sẽ là những cơ sở để làm sáng tỏ
được quá trình hội nhập, giao thoa của nhiều nền văn hoá cổ, của các tộc người trong
từng thời kỳ lịch sử đã từng sống trên vùng đất phương Nam của Tổ quốc.
Ths Phan Đình Dũng
Một số thắng cảnh Đồng Nai
Đồng Nai không có những đỉnh núi cao chót vót mây phủ quanh năm, không
có những cánh đồng bao la ngút ngàn cò bay mỏi cánh và sau khi chia tách Bà Rịa
cũng không còn cát trắng biển xanh sóng vỗ rạt rào. Cảnh quan Đồng Nai là cảnh
quan đặc thù của vùng trung du tiếp giáp với vùng trũng thấp phù sa ngập mặn cận
biển, có độ dốc thoải dần về phía nam.

16.7 Page 157

▲back to top
Chúng ta sẽ đến với Đồng Nai bằng chính con đường mà hơn 300 năm trước
cha ông chúng ta đã đến. Từ cửa Soài Rạp mênh mông hùng vĩ ngược lên “Bè nước
chảy chia hai” với những sông ngòi, kênh, rạch, tắc, xẻo chằng chịt chia cắt tấm
thảm xanh thành trăm ngàn hòn đảo thiên hình vạn trạng, với một hệ sinh thái đặc
trưng của một tiểu vùng địa lý phong phú đặc sắc mà màu xanh của nước, của trời và
của diệp lục dễ làm say lòng người, đặc biệt đối với những ai đến đây từ những thành
phố công nghiệp phồn vinh, tiện nghi, mỹ lệ, những nơi đầy khói bụi ồn ào và bất
trắc.
Rừng Sác không hoàn toàn bí ẩn và đáng sợ như buổi đầu mới biết. Hệ sinh
thái rừng Sác đã ban tặng cho con người rất nhiều, thứ nhất phải kể đến lượng oxy từ
thảm rừng gần như vô tận này thải ra cho bầu khí quyển, kế đến là tiềm năng lâm sản,
thủy hải sản cực kỳ phong phú. Có thể nói chỉ cần có nước ngọt và lửa là con người
có thể trụ lại trên mảnh đất này. Khảo cổ học cho biết con người hiện diện ở rừng Sác
khá sớm. Cách nay trên dưới 3.000 năm, vào thời đại đồng. Dấu vết những nhà sàn,
con thuyền độc mộc, công cụ sản xuất, sinh hoạt, vũ khí, đồ trang sức... bằng gỗ, đá,
đất nung, đồng... được tìm thấy trên vài chục địa điểm ở hầu hết những cửa sông,
rạch, các cù lao có nguồn nước ngọt như Cái Vạn, Cái Lăng, rạch Lá, vàm Mặt
Trăng, Mặt Trời... Tầng văn hóa dày, phân bố rộng và đồng nhất chứng tỏ cư dân tiền
sử ở rừng Sác đã tồn tại khá lâu và rộng khắp trên vùng sinh thái này.
Với địa thế hiểm trở, rừng Sác đã “…che bộ đội, vây quân thù” với đầy đủ ý
nghĩa của khái niệm này. Còn đó một sông Ngã Bảy (Thất Giang), nơi đội chiến
thuyền của Nguyễn Huệ thoắt ẩn thoắt hiện, lợi dụng thủy triều nhận chìm đoàn
thuyền chiến của Nguyễn Ánh, giết chết Cai cơ Manuel (Mạn Hòe). Còn đó rạch Bà
Nghĩa, rạch Thiềng Liềng, rồi sông Lòng Tàu, Nhà Bè, bao nhiêu chiến hạm, tàu vận
tải của Pháp, Mỹ đã đành phận chôn vùi để làm mồi, làm ổ cho cá tôm rừng Sác.
Chắc chắn ngày ấy, những người con tiên phong khai phá vùng đất Đồng Nai
không đi một mạch từ Soài Rạp đến Cù Lao Phố và con đường đến miền đất hứa này
phải mất một thời gian dài bằng cả đời người với bao thử thách hy sinh nghiệt ngã
khôn lường.

16.8 Page 158

▲back to top
Để nhận thức được toàn diện cảnh quan xứ Đồng Nai, xin mời lữ khách cùng
nhau đến với Đồng Nai theo chiều ngược lại. Dòng sông vẫn chảy như đã chảy xuyên
qua cả thời gian và không gian dằng dặc đủ để phủ lên mặt đất này lớp phù sa văn
hóa màu mỡ.
Là một con sông lớn mang yếu tố hoàn toàn nội sinh duy nhất trên nước ta, từ
độ cao hơn 1.500m so với mặt biển Hà Tiên, hai dòng sông nhỏ hiền hòa Dah Nhim
và Dah Dung gặp nhau và hòa dòng chảy, chỗ gặp nhau ấy cũng là nơi phát nguyên
của một dòng sông lớn: sông Đồng Nai. Một món quà vô giá mà tạo hóa đã ưu ái và
hào phóng ban tặng cho mọi sinh vật sống ở đôi bờ nơi nó chảy qua.
Hơn 500 km với chín bậc thềm địa chất, dòng nước ngọt ngào tinh khiết triền
miên chảy và liên tục đổi dòng qua các cánh rừng, hẻm núi, thung lũng, đầm lầy, có
lúc quay ngược 1800 như ngập ngừng lưu luyến để rồi sau đó lại tìm đường trực chỉ
phương Nam, nơi biển Thái Bình đang vẫy gọi. Trên đường, nó tiếp nhận thêm lượng
nước của hàng trăm sông suối mà Dah Uế, Dah Rượu (La Ngà), Dah Nung và Đồng
Môn là phụ lưu chính.
Dòng sông từ biệt cao nguyên Lang Biang bao la ở bậc thềm thứ 9: hàn Trị An
để đổ nước vào những vùng bình nguyên châu thổ bát ngát mênh mông. Như cô sơn
nữ từ non cao bầu bạn cùng gió núi mây ngàn vô tư uốn lượn, nhảy nhót, trườn mình
trên các ghềnh đá ngày đêm cười vui tung bọt trắng, giờ đã hóa thân thành bà mẹ
trầm tư, hiền hòa, sâu lắng hòa nhập với thủy triều dâng hai con nước mỗi ngày xuôi
êm ra biển cả.
Trên đây là đôi nét chấm phá về vẻ tráng lệ, hùng vĩ và bình dị của dòng sông
Đồng Nai. Có thể nói rằng, dòng sông Đồng Nai là một thắng cảnh hoàn chỉnh.
Trên đường xuôi về biển, dòng sông để lại phía sau không biết bao nhiêu
ghềnh, thác, hồ chứa và cù lao Từ thác Dah Nhim đến Trị An còn có hàng trăm thác
khác có tên và không có tên, mỗi thác mỗi vẻ đẹp riêng.
Thác Trị An là thác cuối cùng của dòng chảy Đồng Nai. Dòng thác trước đây
ngày đêm âm vang vào cuối rừng như quyện vào tiếng khóc than cho một chuyện
tình cảm động được nhắc đến trong truyền thuyết về nó. Ngày nay, dòng thác được

16.9 Page 159

▲back to top
con người ngăn chặn lại để tạo dựng một công trình thủy điện mang tầm vóc quốc tế,
cung cấp nguồn điện cho các tỉnh phía Nam của Tổ quốc. Hồ Trị An rộng hơn 35.000
héc ta với 42 hòn đảo lớn nhỏ mênh mông sông nước cũng là một trong những tuyến
du lịch hấp dẫn.
Các phụ lưu sông Đồng Nai phát tích từ nội địa trong dòng chảy của mình
cùng tạo nên những cảnh thác đẹp hùng vĩ và thơ mộng. Trên sông La Ngà, bắt
nguồn từ phía nam cao nguyên Lang Biang đến khi hòa vào dòng nước con sông lớn
Đồng Nai đã để lại một cảnh thác thiên nhiên đẹp đẽ: thác Xuân Mai. Thác Xuân Mai
- người Châu Mạ gọi là Liêng Dục là một thắng cảnh kỳ vĩ thuộc địa phận Tân Phú.
Trải dài trên đoạn sông hơn 4 cây số, dòng thác như con rồng đang uốn mình đùa
giỡn với dòng nước. Một quần thể đá tạo dáng với bao hình thù kỳ thú nối dài, trải
rộng ra hai bên bờ và kết nối giữa dòng nước. Nhiều cụm đá liên hoàn, nhấp nhô đã
tạo nên những vách ngăn của nước, lúc tung, lúc hứng dưới ánh nắng trông thật kỳ
ảo. Nhiều hang động với các hòn đá chông chênh vào nhau tạo cho cảnh thác thêm
hoang sơ, huyền bí. Hai bên bờ cây cối bạt ngàn, những cây cổ thụ bóng xòe che mát
ven sông. Đặc biệt, vào mùa xuân, hai bên sông tím màu bằng lăng và màu vàng của
hoa mai - những gốc mai cổ thụ, quí hiếm. Thác Xuân Mai là một điểm du lịch hấp
dẫn về sinh thái. Trong tương lai, khi được qui hoạch, tuyến du lịch thác Xuân Mai
nối liền nơi in dấu bần tay của người khổng lồ - một chuyện tình của người Châu Mạ
liên quan đến cụm Đá Bàn hiện hữu trong lâm trường Tân Phú, với hồ nước khoáng
vừa được phát hiện sẽ đưa vào hoạt động khai thác, phục vụ khách tham quan.
Thác Ba Giọt: sông Đồng Nai khi chảy qua địa bàn xã Phú Vinh, huyện Định
Quán đã tạo nên một cảnh thác quyến rũ. Một cồn đá lớn dài hình vòng cung như
chặn ngang qua dòng chảy của sông, để phía dưới hụp sâu xuống hình thành nên thác
Ba Giọt.
Tuy không có được vẻ đẹp hùng vĩ như một số thác ở vùng cao nguyên như
Dambri, Pren hay Cam Ly, nhưng thác Ba Giọt hơn hẳn về quy mô. Nhìn từ phía nam
của bờ sông, dải đá dài như ngăn dòng nước đang ào xuống để chia thành hàng trăm
vòi rồng đủ kiểu, nước tung trắng xóa từ trên cao xuống hồ phía dưới, tiếng reo vang

16.10 Page 160

▲back to top
vọng tận núi rừng. Hồ nước dưới thác rộng hơn 3 hecta với nước xanh và trong mát.
Nhiều bãi cát bồi, thoai thoải tạo cho hồ trở thành một bãi tắm tuyệt vời.
Với vẻ đẹp hữu tình, sông rộng, hồ sâu, thác nước ngày đêm reo vang..., lại
giữa cảnh thiên nhiên, chưa được bàn tay con người khai thác, dòng thác có một môi
trường trong lành là điểm du lịch hấp dẫn. Đến với thác Ba Giọt, con người được
chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên nhiên và thỏa chí chinh phục để rồi hòa mình vào với
chúng. Từ trên cao, những hàng cây xanh mọc hai bờ sông và trên những cồn đá như
gợi cho con người mong muốn khám phá thám hiểm để rồi khi hòa vào cảnh đẹp phía
dưới, cảm thấy được thanh thản, sảng khoái trước sự ưu ái của thiên nhiên. Tương lai,
toàn thể khu vực thác Ba Giọt sẽ được qui hoạch thành khu du lịch rộng 25 hecta.
Nơi đây sẽ hình thành những khu du thuyền, bãi tắm, hồ bơi, dịch vụ, giải trí với
nhiều loại hình phong phú. Với một tiềm năng sẵn có, thác Ba Giọt cùng với thác
Xuân Mai, danh thắng Đá Chồng sẽ tạo nên một tuyến du lịch xanh hấp dẫn và quyến
rũ.
Tô điểm cho mọi cảnh quan ở đôi bờ là những đồi thông, những cánh rừng
nguyên sinh, những đỉnh núi cao và những đồi thấp, cả những buôn làng thấp thoáng
giữa hoang sơ, giữa quần thể thực vật và động vật vô cùng phong phú của rừng già
nhiệt đới, giữa những cây cổ thụ cao vút và rừng dương xỉ ven đầm lầy sông suối.
Cảnh quan liên tục đổi thay và không lặp lại. Không biết có phải vì những cánh
đồng, trảng cỏ, bồn trũng thú sinh thấp thoáng bóng đàn nai gặm cỏ mà dòng sông
được mang tên Đồng Nai không?.
Các Cù lao trên sông khá nhiều, đó là những viên ngọc bích mà dòng sông đã
dày công gọt dũa tô điểm ngàn đời. Cù lao Mỹ Quới, cù lao Thành Hội (cù lao Rùa),
cù lao Tân Triều, Cù Lao Phố, đến cù lao Ông Còn xứng đáng là những thắng cảnh
tuyệt vời. Nối liền với dòng chảy của sông Đồng Nai là các cù lao yên ả này. Những
cù lao rộng, trải dài hàng mấy cây số như điểm xuyết cho dòng chảy hiền hòa Đồng
Nai thêm xanh đẹp. Trên những vùng cù lao là những vườn cây trái sum suê và danh
tiếng với các loại sản vật: bưởi, trầu ở cù lao Tân Triều; dâu, mía ở cù lao Tân
Chánh. Cù lao Rùa (Thành Hội) có hình dáng như một con rùa (qui dự) được miêu tả

17 Pages 161-170

▲back to top

17.1 Page 161

▲back to top
trong Gia Định Thành thông chí “ngoài có trường giang bao bọc, ghe thuyền ra
vào, sóng vỗ khói bay, ẩn hiện hình như con thần qui giỡn song”. Cù Lao Phố (còn
gọi là bãi Đại Phố) là “địa thế khuất khúc chạy tới hình như con Hoa cù (tức của
rồng có sừng) uốn khúc giỡn nước”. Trước đây, Cù Lao Phố là một thương cảng sầm
uất thu hút nhiều khách buôn quốc tế. Qua bể dâu thời cuộc, thời kỳ hoàng kim của
Cù Lao Phố đã lui vào dĩ vãng, hoàn thành sứ mạng của một đô thị cổ, một cảng
sông sầm uất nhất Đàng Trong suất thế ký XVIII. Ngày nay, là một vùng quê nằm
trong thành phố, vốn mang trên mình những chứng tích của lịch sử: những ngôi đình,
chùa mái ngói rêu phong cổ kính, những chuyện kể xưa về bao lớp người mở cõi…
Cù Lao Phố vẫn xứng đáng là một quần thể di tích điểm du lịch cho hoạt động văn
hóa về nguồn, du lịch xanh hấp dẫn. Với lớp phù sa trẻ phủ trên lớp phù sa cổ màu
mỡ ấm nước quanh năm, đất sống lý tưởng của những ruộng lúa và các vườn cây ăn
trái, của cuộc sống bình yên, thanh thản, trên nền xanh ngút ngàn điểm xuyến những
mái đình cổ ẩn mình dưới bóng những cây dầu, sao cổ thụ, những mái lá vương khói
lam chiều và những con thuyền dập dềnh trên sóng nước.
Cảnh đẹp đặc trưng Đồng Nai còn là những cánh rừng nguyên sinh, rừng thứ
sinh và rừng trồng mới. Vườn quốc gia Nam Cát Tiên ở thượng nguồn sông Đồng
Nai như một bảo tàng thiên nhiên phong phú - một khu rừng nguyên sinh rộng hơn
35.000 hecta. Những truyền thuyết, chuyện kể được lưu truyền với nhiều chi tiết
huyền bí, hoang sơ đã tạo thêm cho Nam Cát Tiên sức hấp dẫn thu hút bên cạnh sự
đa dạng vốn có của tự nhiên.
Hàng chục ngàn hecta rừng với nhiều thảm thực vật, Nam Cát Tiên xứng đáng
với tên gọi là một bảo tàng thiên nhiên của cả nước. Hàng trăm loại thực vật từ
những họ nhỏ có nhiều loài đến những loại gỗ quí như: gõ, cẩm lai, giáng hương..
Trong rừng, có những vùng cây cổ thụ sừng sững in bóng hàng bao thế kỷ. Trải dài
trên vùng đất rộng với địa hình và sinh cảnh khác nhau, Nam Cát Tiên quy tụ khá
nhiều động vật các loài. Thật khó có thể thống kê tất cả các loài thú từ những loài
quý hiếm như: hổ, tê giác, bò bàn teng, rùa mai vàng... cho đến các loài nhỏ hơn vô
cùng phong phú. Từ lâu, sự giàu có của giới động vật Nam Cát Tiên gắn liền với bao
cái tên như: suối Chồn, bàu Sấu, hốc Kên Kên, trảng Công. Ngày nay, Nam Cát Tiên

17.2 Page 162

▲back to top
được bảo vệ theo tiêu chuẩn quốc gia. Điều này đáng mừng, nhưng cũng gợi lên lời
sám hối của con người về một thế kỷ cuồng sát rừng không thương tiếc. Là một khu
danh thắng nổi tiếng, Nam Cát Tiên là đối tượng nghiên cứu về môi trường, đa dạng
sinh học để phát huy những tiềm năng vốn có tự nhiên.
Khi biển lùi xa, khi lớp nham thạch tuôn trào từ hàng trăm miệng núi lứa đã tắt
nguội từ lâu trên lớp ba-zan tươi đỏ và cả lớp phù sa xám thiên nhiên đã thiết lập một
hệ sinh thái đặc trưng của một vùng bán đảo gió mùa cận nhiệt đới. Khó hình dung
những cánh rừng đại ngàn ngày ấy vì vườn quốc gia Nam Cát Tiên chỉ là một vườn
cảnh con con còn lại.
Rừng trồng ở Đồng Nai trước hết phải nói đến cao su. Từ những cây cao su thí
nghiệm do người Pháp trồng thử từ đầu thế kỷ XX đến nay đã được nhân lên ngàn
vạn lần. Ngoài lợi ích kinh tế kỹ thuật, rừng cao su còn nhận thêm sứ mạng phủ xanh
mặt đất, chống phong hóa xói mòn và tạo nên cảnh quan tuyệt đẹp. Nhìn những cánh
rừng cao su qua cánh bay hoặc ngồi trên xe chạy tốc độ vừa phải qua các hàng cây
xanh um thẳng hàng đến nghiêm túc, thấy lòng yên ổn thanh thản lạ thường.
Theo Quốc lộ 20 từ Đồng Nai đi Đà Lạt, ta bắt gặp một thị trấn nho nhỏ nằm
nép dưới chân những gộp đá granit khổng lồ chồng chất lên nhau, hai chồng, rồi ba
chồng, tưởng chông chênh nhưng thực sự nó đã tồn tại như thế bền vững từ hơn 100
triệu năm, mưa gió đã bào mòn để tạo hình, thành những tượng đài kỳ vĩ dòng sông
La Ngà lượn qua đây trước khi hòa vào sông Đồng Nai và hồ Trị An.
Quần thể Đá Chồng ở Định Quán là một danh thắng ở huyện Định Quán được
Nhà nước xếp hạng di tích. Khu danh thắng nằm giữa khu dân cư sầm uất, ngay bên
Quốc lộ 20 - huyết mạch nối liền cao nguyên Bảo Lộc, Lâm Đồng với đồng bằng
Nam Bộ.
Quần thể Đá Chồng Định Quán gồm những cụm tiêu biểu: hòn Ba Chồng, núi
Đá Voi, hòn Dĩa và ngôi chùa Thiện Chơn được tạo dáng đẹp đẽ, hài hòa cho khu
danh thắng.
Được bàn tay thiên nhiên tạo dáng và sự chăm chút của con người, quần thể Đá

17.3 Page 163

▲back to top
Chồng Định Quán đã làm say mê không biết bao nhiêu du khách đến đây. Mặc cho
sự tàn phá khắc nghiệt của thời gian, những cụm tượng đá hoa cương vẫn đứng sừng
sững như thi gan, vươn mình kiêu hãnh với mưa nắng, như tô điểm thêm sức sống
mãnh liệt, chất phong trần của đá.
Đứng trên đá chồng, mở tầm nhìn về tứ phía, ta không thể không sững sờ về
hình sông thế núi mỹ lệ, hùng vĩ. Từ những miệng núi lửa cổ xưa hiền hòa nghiêng
nghiêng cái miệng hình elip in hình dòng dung nham cổ giờ đã thành ốc đảo xanh
tươi với các vườn cây ăn quả, một cây cầu mảnh dẻ vắt qua sông, những con đường
lượn vòng theo bình độ mất hút sau hẻm núi rồi lại hiện ra, những buôn làng Mạ lúp
xúp dưới thung lũng và xa xa, hồ thủy điện Trị An lấp lánh ánh tà dương…
Vùng đất ba-zan Long Khánh được biết đến là nơi có những vườn cây ăn trái:
chôm chôm, sầu riêng, cà phê; những rừng cao su bạt ngàn, còn có một di tích kiến
trúc cổ được Nhà nước xếp hạng di tích, là điểm thu hút nhiều khách tham quan trong
và ngoài nước. Đó là ngôi mộ cổ Hàng Gòn (còn có tên là mộ cự thạch, hay mả ông
Đá) thuộc địa phận Nông trường Cao su Hàng Gòn, thị xã Long Khánh. Di tích là
một kiến trúc đá khá độc đáo trong lòng đất. Ngôi mộ được phát hiện năm 1927 và
được trùng tu vào năm 1992. Kiến trúc của ngôi mộ gồm những tảng đá hoa cương
dài, lắp ghép theo hình hộp chữ nhật. Những trụ đá cao, dài, đầu khoét lõm hình yên
ngựa nằm ngổn ngang chung quanh mộ như chứng tỏ kỳ tích một thời của lớp cư dân
cổ trên đất Đồng Nai. Loại đá được dùng làm mộ với kích cỡ, trọng lượng lớn tại đây
không có mặt trong vùng đất Đồng Nai. Và kết cấu của mộ trông đơn giản nhưng
vững chắc chứng minh hùng hồn về sức mạnh, sự sáng tạo của chủ nhân của nó.
Hơn nửa thế kỷ kể từ khi được phát hiện cho đến nay, di tích Mộ cự thạch
Hàng Gòn được biết đến trên nhiều phương tiện thông tin trong và ngoài nước. Giá
trị văn hóa của di tích đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu và khách tham
quan. Để hiểu rõ về di tích, nhiều người muốn đi tìm về sự bí ẩn của nó, muốn giải
mã về sự hiện diện của nó trong đời sống của con người xưa cách đây hơn 2.000
năm. Thế nhưng, đi tìm sự bí ẩn của quá khứ, nhiều người lại càng bắt gặp những bí
ẩn khác chưa giải thích được. Và chính điều đó đã trở thành điểm thu hút hấp dẫn để

17.4 Page 164

▲back to top
mọi người từ ngạc nhiên đến thán phục khi chiêm ngưỡng kiến trúc kỳ bí của nó.
Khu Suối Tre ở Long Khánh lung linh giữa những cánh rừng cao su như một
Đà Lạt thu nhỏ mang đậm phong cách Pháp được xây dựng từ đầu thế kỷ là một mô
hình du lịch lịch lãm mà bàn tay con người biết trân trọng hòa nhập với thiên nhiên.
Suối Tre nằm trên địa hình vùng đồi núi ba-zan ở Đồng Nai, được kiến tạo bởi những
quả đồi, với triền đồi thoai thoải đầy ngoạn mục.
Suối Tre được hình thành từ những năm đầu thế kỷ XX, khi các tư bản người
Pháp sang Việt Nam lập đồn điền cao su. Nơi này có khí hậu ôn hòa, địa hình lạ,
thiên nhiên ưu đãi, đã giữ chân những người Pháp đầu tiên ở lại đây họ tập trung khai
thác và lập thành một khu nghỉ ngơi giải trí rất đặc biệt.
Cả khu vực này rộng trên chục hecta, với nhiều đồi cỏ nhấp nhô, bao bọc con
suối quanh co bên những bờ tre xanh ngắt. Trước đây, trên mỗi đỉnh đồi đều được
xây dựng những ngôi biệt thự (kiến trúc Pháp) rất khang trang đầy đủ tiện nghi, tạo
thành một khu liên gia cư dành riêng cho các ông chủ của các đồn điền cao su. Xung
quanh những ngôi biệt thự là bạt ngàn những hàng dương, lúc nào cũng rì rào tỏa
bóng mát, và nhiều cây cao cổ thụ.
Khu trung tâm là một vùng đất bằng phẳng có hồ tắm, nhà ăn, dancing, sân
tenis và nhiều trò chơi giải trí. Đây là một công viên văn hóa đẹp như một bản giao
hưởng gồm những đồi thấp trồng cỏ, những cây cổ thụ trăm tuổi những biệt thự
gothique với dòng suối uốn quanh tạo cảm giác thoát tục khi đến đây. Gần đây ở
Cẩm Mỹ cũng xuất hiện một công viên kiểu này: Khu du lịch - Nông trường Cao su
Cẩm Mỹ - được hình thành từ năm 1994, mau chóng trở thành một thắng cảnh lý
tưởng, thu hút đông đảo mọi tầng lớp nhân dân lao động ở khắp mọi nơi đến tham
quan, giải trí.
Đây là một công trình văn hóa giá trị, là thành quả lao động sáng tạo của tập
thể cán bộ, công nhân viên Nông trường Cao su Cẩm Mỹ. Nơi đây không được thiên
nhiên ưu đãi, từ một khu đất trống là vườn ươm cây cao su, qua bàn tay lao động
sáng tạo của người công nhân cao su trong xã hội mới, ban đầu đã xây dựng một hòn
non bộ cao 18 mét, bên trong có nhiều hang động khá kỳ thú, xung quanh hòn non bộ

17.5 Page 165

▲back to top
được bao bọc bởi hồ thiên nga, du thuyền, uốn lượn bên những đồi cỏ nhấp nhô, dưới
rặng liễu đìu hiu và nhiều dị thảo kỳ hoa khác... Du khách ở các nơi bắt đầu tìm đến
đây như một sự thôi thúc bởi lòng hiếu kỳ, nhưng thực tế họ đã cảm nhận được một
không khí trong lành, một phong cảnh đẹp, một nơi giải trí lý tưởng, nghỉ ngơi thoải
mái. Còn công nhân cao su ở đây càng tự hào về ý chí và công sức lao động của mình
và sung sướng khi tận mắt chứng kiến một khu du lịch văn hóa đang thu hút khách ở
tại địa phương mình.
Khu du lịch Cẩm Mỹ ngày càng được nâng cấp, tạo nên nhiều mô hình giải trí
mới để đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu tinh thần của đông đảo mọi người. Hiện
nay, đồi Sơn Thủy đã tạm hoàn chỉnh với các hạng mục như: vườn thú - với nhiều
loại thú quý hiếm, hoang dã; vườn hoa lưu niệm; khu vườn cổ tích, sân rồng, khủng
long, đồi hươu cao cổ, chùa một cột, sân khấu ngoài trời, nhà hàng, hồ bơi, sân tenis,
khu vui chơi thiếu nhi, nhà banh, du thuyền, xe lửa tham quan dài 20 mét, ngựa
quay, phi cơ đảo...
Hàng năm, trong các ngày nghỉ, các dịp lễ tết ở đây đã thu hút hàng chục ngàn
lượt du khách đến tham quan, giải trí, góp phần nâng cao đời sống văn hóa ở một
vùng nông thôn mới. Cái khác nhau lớn nhất có lẽ là vì chủ nhân của những công
viên này ngày nay là người công nhân cao su Việt Nam.
Vùng địa lý miệt hạ sông Đồng Nai khá bằng phóng với những đồng bằng, cù
lao xanh mượt, những mảng rừng ngập nước nối nhau. Vì vậy, trên toàn vùng này, sự
hiện diện của những quả đồi (có thể gọi là núi) do sự kiến tạo của thiên nhiên trở
thành những nơi hấp dẫn con người. Vốn những nơi đồi, núi đó trở thành của hiếm lạ
nơi vùng hạ lưu sông Đồng Nai và sự tôn tạo xây dựng những cơ sở kiến trúc, đặc
biệt là kiến trúc tín ngưỡng trong những giai đoạn lịch sử trước đã tạo thêm cho địa
thế vùng núi, đồi trở thành điểm du lịch cho con người trong sinh hoạt đời thường
hay các dịp hội, hè, đình đám.
Sách Gia Đình thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (tập thượng) trong mục
ghi chép về núi sông Biên Hòa có nói đến những ngọn núi như. “Núi Long Ẩn, ở phía
tây trấn bốn dặm rưỡi: đất đá nguy nga, cây cối tươi tốt, làm bình phong sau cho

17.6 Page 166

▲back to top
Văn miếu, thế núi quanh co hùng vĩ, dưới lại có thủy tinh” hay núi Bửu Phong được
miêu tả “cây cối sum suê, khói mây man mác” hoặc núi Bạch Thạch với đồi núi
quanh co, suối khe róc rách, những loài thú như tê tượng, hươu, nai sống thành bầy;
núi Đàn Cũng (còn gọi là núi Cò Gốm) cỏ cây đá chập chồng, gần sông nước lao xao,
cảnh trí u nhã; núi Châu Thới với cây cối lâu đời rậm tốt, hình núi cao thấp khuất
khúc trên núi có hang hố, khe nước và là chỗ tu hành, lên trên núi như “tiêu dao ra
ngoài cõi tục” (địa danh này ngày nay thuộc tỉnh Bình Dương)...
Ngày nay, những ngọn núi đó vẫn còn, nhưng nhiều cảnh vật đã đổi thay qua
những biến cố của lịch sử cùng với sự khắc nghiệt của thiên nhiên và có cả sự tàn
phá của con người. Trong số những ngọn núi được kể tên trong sách xưa, có Long
Ẩn và Bửu Phong là may mắn. Núi Long Ẩn và Bửu phong không còn như ghi chép
trước đây nhưng cùng với những cụm kiến trúc được con người tôn tạo trở thành một
điểm du lịch - không ngoa mà nói là “đệ nhất thắng cảnh” của Biên Hòa .
Danh thắng Bửu Long với quần thể núi non, sông hồ, hang động, chùa chiền
được bảo vệ, trùng tu, tôn tạo như một khu di tích quốc gia. Danh thắng Bửu Long
rộng 84 hecta, có độ cao trung bình luôn so với mực nước biển. Sách sử xưa cho biết:
đây là nơi sơn thủy hữu tình, núi cao, hồ rộng, không khí trong lành, mát mẻ, với
“Văn nhơn nghiêng bầu vịnh giai tiết, mỹ nữ nối gót đến hành hương” . Khu danh
thắng có hai cụm chính: cụm núi Bình Điện (tên gọi khác của núi Bửu Phong) và
Long Sơn thạch động. Trên ngọn núi Bình Điện có ngôi chùa Bửu Phong được khai
sơn rất sớm với lối kiến trúc chạm trổ, trang trí hoa văn tinh tế. Từ chân núi muốn đi
đến chùa phải trải qua một dãy tam cấp gần 100 bậc. Xung quanh chùa có những bảo
tháp cổ và nhiều hòn đá tạo hình kỳ thú trông hoang sơ, huyền bí. Cụm Long Sơn
thạch động (còn gọi là chùa Hang) tọa lạc trên núi Long Ẩn. Trên núi có ngôi chùa
dẫn vào thạch động với miệng từ ngoài rộng và hẹp dần vào bên trong trông như một
hàm ếch. Trong vách nhiều nhũ đá với hình thù kỳ lạ rủ xuống trông kỳ ảo, lung linh
dưới những ánh đèn trang trí. Trên núi Long Ẩn hiện có nhiều kiến trúc tín ngưỡng:
chùa, am của các phái Phật giáo. Chúng làm phong phú cho những lễ hội hành hương
ở đây, nếu có sự quy hoạch hợp lý.

17.7 Page 167

▲back to top
Ngoài hai cụm núi trên với những kiến trúc chùa cổ, khu danh thắng Bửu Long
còn được biết đến với khu hồ Long Ẩn. Đây là hồ nước do nhân dân trong vùng khai
thác đá từ hàng thế kỷ nay tạo thành. Hồ rộng gần 20.000m2, nước trong xanh với
những cụm đá còn lại tạo nên những hòn đảo giữa biển nước mênh mông. Từ những
hòn đảo này, bàn tay con người đã tạo dáng thêm làm cho chúng thành những cảnh
đẹp ẩn, hiện giữa sóng nhấp nhô, giữa những con đường ngoằn ngoèo xung quanh
khu vực như một bức tranh kỳ ảo. Một khu du lịch xanh với những vườn cây, cụm
núi thú thời tiền sử đã tô điểm thêm cho toàn bộ khu danh thắng. Có núi, có hồ, có
sông và những chương trình hoạt động du lịch hấp dẫn, Bửu Long đã, đang trở thành
điểm du lịch, thu hút hoạt động văn hóa lành mạnh.
Trong tương lai, khu du lịch Bửu Long sẽ được quy hoạch phát triển thành một
trong những tuyến du lịch của Đồng Nai với nhiều ưu thế: cảnh đẹp thiên nhiên sẵn
có, có làng nghề làm đá Bửu Long, có khu Văn miếu được tái tạo.
Hồ Biên Hòa, người Pháp gọi là “Lac Biên Hòa” là quãng sông rộng hơn
1.000m ở khu vực trung lưu sông Đồng Nai nằm giữa Biên Hòa đã cho thành phố
này một cảnh quan đặc sắc, điều hòa bầu không khí và nuôi sống khu dân cư sầm uất
của đô thị này.
Mọi con đường đều dẫn đến thủ phủ Biên Hòa và các huyện lân cận Thống
Nhất, Vĩnh Cửu, Long Thành, Nhơn Trạch, trung tâm của vùng động lực phát triển
kinh tế xã hội, có tốc độ công nghiệp hóa sôi động nhất với những khu công nghiệp,
bến cảng, sân bay, đường cao tốc, khu đô thị .
Những nhà chiến lược ở Trung ương và địa phương sớm thấy những hệ lụy về
môi trường trên đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã có một số đối sách hợp lý về
việc bảo vệ môi trường, bảo vệ cảnh quan, bảo vệ màu xanh cho xứ sở.
Đồng Nai - Biên Hòa bước vào thế kỷ XXI, vào thiên niên kỷ thứ III với nhịp
độ hối hả, khẩn trương nhưng chắc chắn không vì thế mà làm xúc phạm hoặc phá hủy
cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, hài hòa mà tạo hóa đã ban tặng.
Ths. Phan Đình Dũng và cộng tác viên

17.8 Page 168

▲back to top
Bước đầu tìm hiểu cộng đồng người Hoa ở vùng đất Biên Hòa –
Đồng Nai
1. Vài nét về người Hoa ở Đồng Nai
Do nhiều biến động của xã hội, nhiều dân tộc từ các nơi khác đã tìm đến vùng
đất Đồng Nai sinh sống trong nhiều thời kỳ lịch sử. Sự cộng cư nhiều thành phần dân
tộc nói chung, trong đó có cộng đồng người Hoa nói riêng đã góp phần làm đa dạng
sắc thái tộc người, sự phong phú về văn hóa của Đồng Nai.
Tại Đồng Nai, sự có mặt của người Hoa từ thế kỷ XVII cụ thể được định vị
vào năm 1679. Sự kiện này được ghi chép trong Đại Nam thực lục tiền biên và một
số sử sách của triều Nguyễn. Vào mùa xuân, tháng Giêng, năm 1679 (Kỷ Mùi), Tổng
binh trấn thủ các địa phương thủy lục ở Long Môn tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) là
Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tiến, cùng Tổng binh trấn thủ các châu Cao,
Lôi, Liêm là Trần Thắng Tài (Trần Thượng Xuyên) và phó tướng Trần An Bình đem
hơn 3000 quân và hơn 50 chiến thuyền đến các cửa biển Tư Dung và Đà Nẵng xin
chúa Nguyễn cho ty nạn trên đất Việt. Đây là nhóm người Hoa trung thành với nhà
Minh, không chịu thần phục nhà Thanh nên đã nổi dậy phất cờ “Bài Thanh phục
Minh” nhưng bất thành. Thấy họ lâm vào cảnh thế cùng lực kiệt, chúa Nguyễn cho
phép họ nhập cư. Chúa Nguyễn tiếp đãi nhóm người Hoa này và sai các tướng Vân
Trình, Văn Chiêu hướng dẫn cho họ vào đất Đông Phố để mở mang, sinh sống. Binh
thuyền tướng sĩ của Dương Ngạn Địch theo cửa Lôi Lạp, cửa Đại, cửa Tiểu đến định
cư ở Mỹ Tho; binh lính tướng sĩ Cao, Lôi, Liêm của Trần Thượng Xuyên theo cửa
biển Cần Giờ đến định cư ở Bàn Lân xứ Đồng Nai (tức Biên Hòa ngày nay).
Bắt đầu từ cuối thế kỷ XVII cho đến những năm cuối thập niên 70, thế kỷ XX,
số lượng người Hoa đến vùng Biên Hòa - Đồng Nai nói riêng ngày càng tăng qua
nhiều đợt di dân mỗi khi Trung Quốc hay các vùng người Hoa sinh sống có nhiều
biến động về xã hội. Trong đó, có những mốc đáng ghi nhận là từ sau năm 1954 và
sau năm 1975. Từ sau năm 1975, có 3.331 hộ gồm 17.647 khẩu đến định cư tại Đồng

17.9 Page 169

▲back to top
Nai.
Theo thống kê dân số (1/4/1999) thì tổng số người Hoa ở Đồng Nai là 102.331
người. Người Hoa có mặt hầu hết ở các đơn vị phường, xã, thị trấn của các huyện,
thành phố thuộc địa bàn Đồng Nai.
Tại các huyện, số người Hoa cư trú phần lớn là cộng đồng người Hoa đến từ
sau năm 1954. Huyện Định Quán có số người Hoa đông nhất tỉnh với 32.435 người,
tập trung nhiều ở các khu vực: xã Phú Lợi (10.824 người), xã Phú Vinh (9.259
người), xã Phú lân (5.394 người), xã Thanh Sơn (2.536 người), xã Phú Túc (l.131
người)...
Huyện Thống Nhất đứng hàng thứ hai với 21.514 người, các xã có số lượng
người Hoa trên con số ngàn gồm: xã Bàu Hàm (6.640 người), xã Sông Thao (3.825
người), xã Cây Gáo (3.245 người), xã Thanh Bình (3.168 người), xã Sông Trầu
(l.771 người)...
Huyện Xuân Lộc có 19.205 người, tập trung tại các xã: Bảo Bình (6.460
người), Xuân Tây (4.164 người), Lang Minh (l.889 người), Xuân Bảo (l.748 người)...
Huyện Long Khánh cũ có 10.499 người, trong số này có một bộ phận đến cư trú vào
trước năm 1954. Các địa bàn tập trung đông đảo là: thị trấn Xuân Lộc (4.071 người),
xã Bình Lộc (1.508 người), xã Nhân Nghĩa (1.069 người)...
Huyện Tân Phú có 8.827 người, các địa bàn tập trung đông đảo người Hoa là:
thị trấn Tân Phú (3.871 người), xã Phú Bình ( 1.490 người), xã Phú Lộc (1.325
người)...
Thành phố Biên Hòa có 6.097 người Hoa. Trong số này, nhóm người Hoa đến
trước năm 1954 chiếm đa số và có mặt hầu hết tại địa bàn xã, phường và mỗi bang
đều có cư sở tín ngưỡng chung cũng là hội quán của cộng đồng. Nhóm cộng đồng
người Hoa đến sau năm 1954 cư trú chủ yếu tại địa bàn phường Tân Phong (1.029
người) và Bình Đa (590 người)...
Ba huyện Long Thành, Vĩnh Cửu, Nhơn Trạch có số lượng người Hoa thấp
trong tỉnh, trong đó huyện Nhơn Trạch thấp nhất (371 người). Huyện Long Thành có

17.10 Page 170

▲back to top
1.761 người, huyện Vĩnh Cửu có 1.622 người. Tại địa bàn Vĩnh Cửu không có cơ sở
tín ngưỡng mang tính cộng đồng của người Hoa.
Trên toàn tỉnh Đồng Nai, hai xã không có người Hoa cư trú là: xã Gia Tân I
(huyện Thống Nhất) và xã Bình Hòa (huyện Vĩnh Cửu).
Qua khảo sát và căn cứ từ nhiều cứ liệu cho thấy nổi lên các giai đoạn chính
trong quá trình hội nhập của người Hoa trên địa bàn Biên Hòa.
- Giai đoạn từ cuối thế kỷ XVII cho đến trước năm 1954: Đây là giai đoạn mà
các nhóm cộng đồng người Hoa từ Trung Quốc sang với nhiều đợt rải rác. Hầu hết,
số người Hoa này từ các tỉnh vùng Hoa Nam, Trung Quốc đến Nam Bộ bằng đường
biển, sau đó định cư nhiều nơi, trong đó có địa bàn tỉnh Biên Hòa. Của đoạn từ những
năm cuối thập niên 50 đến năm 1975, thế kỷ XX: Đây là giai đoạn mà cộng đồng
người hoa di dân với quy mô lớn. Họ có nguồn gốc từ các tỉnh giáp biên giới phía
Bắc Việt Nam, đã đến địa bàn Hải Ninh, tỉnh Quảng Ninh của Việt Nam sinh sống.
Từ năm 1954, họ di cư vào miền Nam đến định cư tại vùng Sông Mao (nay thuộc xã
Hải Ninh, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận) từ giữa thập niên 50, thế kỷ XX, dưới
chế độ Ngô Đình Diệm. Do nhiều biến động xã hội, thời cuộc, từ vùng Sông Mao,
một số người Hoa bằng đường bộ, nhiều đợt đến định cư tại các địa bàn thuộc tỉnh
Biên Hòa.
- Giai đoạn từ sau ngày đất nước thống nhất (năm 1975), có thêm một số cộng
đồng người Hoa từ các tỉnh ở miền Bắc Việt Nam và các địa phương khác trong
miền Nam di dân đến địa bàn tỉnh Đồng Nai. Những người Hoa từ các tỉnh miền Bắc
di dân theo thể tự do. Một bộ phận người Hoa từ Thành phố Hồ Chí Minh di dân
theo chính sách phát triển kinh tế mới.
Tín ngưỡng cộng đồng của người Hoa ở Đồng Nai cũng rất phong phú. Tùy
theo đặc điểm mỗi bang, hội hay dòng họ mà người Hoa xây dựng những cơ sở thờ tự
để cộng đồng thờ bái, cúng viếng. Cộng đồng người Hoa sinh hoạt theo tổ chức bang
thì hệ thống thần linh thờ chính là Quan Thánh Đế quân, Thiên Hậu, Quảng Trạch
vương. Người Hoa sinh hoạt theo tổ chức hội miếu thì hệ thống thần linh chủ yếu là
Thổ thần, Quan Âm. Ngoài các đối tượng thờ chính thường tùng tự nhiều vị nhân

18 Pages 171-180

▲back to top

18.1 Page 171

▲back to top
thần khác. Hơn ba thế kỷ kể từ khi đợt di dân đầu tiên đến Đồng Nai từ cuối thế kỷ
thứ XVII, cộng đồng người Hoa đã có những đóng góp đáng kể trên vùng đất mới mà
họ chọn làm nơi sinh sống, cư trú. Mặc dù đã trải qua bao thăng trầm, biến động của
xã hội, những thế hệ người Hoa đã kề vai sát cánh với các dân tộc cộng cư trên đất
Đồng Nai ra sức xây dựng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
2. Vài nét về tín ngưỡng, lễ hội dân gian của người Hoa
Cho đến nay, dù chưa biết đích xác những lưu dân Việt đặt chân lên xứ Đồng
Nai vào thời điểm nào, nhưng chắc chắn rằng, họ đã có mặt trước năm 1623, khi chúa
Nguyễn lập đồn thu thuế tại Preikor (tức thuộc địa phận Thành phố Hồ Chí Minh
hiện nay). Còn sự có mặt của người Hoa thì được sử sách chép với mốc thời gian
định vị rõ ràng. Theo Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức cho biết: Tháng
4 năm Kỷ Mùi (1679), Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Dịch, bầy tôi nhà Minh,
không phục nhà Thanh đã dẫn 3.000 người với 50 chiếc thuyền nhập cửa biển Tư
Dung, xin định cư ở nước ta. Chúa Nguyễn chấp thuận và sai các tướng Vân Trình,
Văn Chiêu hướng dẫn cho vào đất Đông Phố. Nhóm Long Môn của Dương Ngạn
Địch theo cửa Đại, cửa Tiểu đến định cư tại Mỹ Tho. Nhóm Cao, Lôi, Liêm của Trần
Thượng Xuyên theo cửa biển Cần Giờ đến sinh sống ở xứ Bàn Lân (tức Biên Hòa
ngày nay).
Ba trăm năm có lẻ, kể từ khi đặt chân đến “Đồng Nai xứ sở lạ lùng, con chim
kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh”, nhóm người Hoa đầu tiên bắt đầu tạo lập cuộc
sống trên vùng đất mới. Họ cùng với lưu dân người Việt, số lưu dân đến định cư
trước, cần mẫn khai khẩn mưu cầu một cuộc sống ấm no hơn, hạnh phúc hơn nơi mà
họ đã ra đi dù trước mắt còn nhiều chông gai trắc trở. Bao thế hệ người Hoa từ đoàn
di dân buổi đầu tiên đến những đợt di cư do nhiều biến cố xã hội sau này (trong đó có
cộng đồng người Hoa trước đây sinh sống tại các tỉnh phía Bắc Việt Nam, đến Đồng
Nai từ cuối thập niên 50, đầu thập niên 60, thế kỷ XX ) đã cùng nhau khẩn khai, xây
dựng vùng “tị địa” trước xa lạ trở thành “quê hương” thân quen, bao dung họ .
Hành trang đến với vùng đất phương Nam của nhóm lưu dân người Hoa ngoài
sự cần cù, nhẫn nại, khéo léo trong buôn bán để mưu cầu cuộc sống no ấm, họ còn

18.2 Page 172

▲back to top
mang trong tâm thức mình hình ảnh của tổ tiên, thần thánh, tập tục tín ngưỡng. Do
vậy, khi đã ổn định và thành công trong cuộc sống, người Hoa xây dựng nhiều ngôi
chùa, đền miếu để tỏ lòng thành, ghi nhớ công lao với tổ tiên, phúc thần mà chính họ
quan niệm rằng đã giúp đỡ, chở che cho cộng đồng người Hoa trong suốt chặng hành
trình đầy hiểm nguy và con đường lập nghiệp nơi vùng đất mới. Tín ngưỡng thờ Ông/
Quan Thánh Đế Thánh quân/ với nhiều tên gọi khác để chỉ về nhân vật lịch sử thời
Tam quốc: Quan Vân Trường (một con người được tôn thánh bởi lòng trung nghĩa,
tài đức vẹn toàn) được cụ thể hóa bằng các đền, chùa khá phổ biến trên vùng Đồng
Nai. Nói một cách khác có thể xem sự tồn tại hoặc tàn tích của những ngôi miếu chùa
thờ Quan Công là nhận diện được vùng này có cộng đồng người Hoa sinh sống trong
lịch sử hơn 300 năm của xứ Đồng Nai - Gia Định. Ở Đồng Nai, tồn tại nhiều ngôi
chùa ông mà điển hình là các địa điểm: Phước Thiền, Bến Gỗ, Cù Lao Phố, Bến Cá.
Hiện nay, kiến trúc hiện tồn của chùa Ông chỉ còn ở Phước Thiền, Bến Gỗ và Cù Lao
Phố. Chùa Ông ở Cù Lao Phố là một công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo là cơ sở
văn hóa tín ngưỡng được xây dựng sớm và có quy mô lớn của người Hoa. Bên cạnh
tín ngưỡng thờ Ông qua đền, chùa, cộng đồng người Hoa còn thờ các vị nhân thần
khác có gốc tích từ quê nhà. Di tích Phụng Sơn tự ở thành phố Biên Hòa là một điển
hình về thờ tự của người Hoa bang Phúc Kiến. Họ tôn thờ Quảng Trạch tôn vương -
một con người xuất thân từ tầng lớp nghèo khổ nhưng có chí hướng ở vùng Phụng
Sơn, Nam An. Sống giúp dân dẹp loạn, chết oai linh hiển hách bảo vệ dân làng nên
người Hoa Phúc Kiến suy tôn ông lên bực thánh minh, gọi họ làm danh xưng Quảng
Trạch vương.
Đồng thời với tín ngưỡng thờ ông, cộng đồng người Hoa còn có tín ngưỡng thờ
Bà - mà nhân vật được tôn thờ là bà Thiên Hậu. Hầu hết các di tích tín ngưỡng của
người Hoa ở Đồng Nai đều có miếu thờ Bà ở bên cạnh. Nguyên ủy bà Thiên Hậu là
một nhân vật tài năng nhưng chết trẻ và thường hiển linh cứu độ người dân đi biển
khi gặp bão dông, tai ương. Có lẽ, cảm ứng trước sự linh ứng, lòng trắc ẩn và cũng có
thể quan niệm chính bà Thiên Hậu đã độ trì giúp cho họ trong chuyến vượt biển tìm
đến nước Nam mà cộng đồng người Hoa ở vùng đất Đồng Nai đã không quên lập
miếu tôn thờ. Ở Đồng Nai miếu/ chùa thờ bà Thiên Hậu khá phổ biến. Nhưng có lẽ di

18.3 Page 173

▲back to top
tích tiêu biểu và quy mô phải kể đến Thiên Hậu cổ miếu ở phường Bửu Long, thành
phố Biên Hòa. Nơi đây, vốn là một ngôi miếu nhỏ của những người Hoa bang Hẹ làm
nghề đá tạo dựng để thờ Tổ sư Ngũ Đăng. Sự linh ứng của bà Thiên Hậu thu hút
nhiều người tôn thờ nên người Hẹ đã rước Bà vào phối tự tại di tích. Đây là một công
trình kiến trúc khá độc đáo được phối hợp bởi nhiều thành tố xây dựng nhưng chủ
yếu vẫn là kiến trúc đá, được thể hiện tinh xảo bởi các nghệ nhân của người Hoa
bang Hẹ. Bên cạnh đó, một số di tích của người Hoa trong quá trình giao lưu văn hóa
Việt đã có tính chất Việt hóa như đình Tân Lân, miếu Thiên Hậu, miếu Cây Quăn,
miếu Bà Thánh trên địa bàn thành phố Biên Hòa.
Cộng đồng người Hoa trước đây sinh sống tại các tỉnh phía Bắc Việt Nam, dấn
Đồng Nai từ cuối thập niên 50, đầu thập niên 60, thế kỷ XX đã xây dựng cho mình
những cơ sở tín ngưỡng chủ yếu là các miếu, thờ các vị thần chính như Quan Âm,
Quan Thánh, Án Thủ công công, những bài vị định danh nhiều vị thần. Trong các bài
vị có Phục Ba tướng quân - nhân vật đã đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng trong
lịch sử chống xâm lăng của dân tộc Việt Nam. Yếu tố này cần xem xét một cách thận
trọng. Các cơ sở tín ngưỡng với đối tượng thờ Quan Âm của nhóm cộng đồng người
Hoa thường có quy mô kiến trúc lớn, tập trung ở những địa bàn mà người Hoa cư trú
đông đảo. Ngoài ra, các cơ sở tín ngưỡng thờ các vị thần khác có quy mô vừa và nhỏ.
Với hệ thống cơ sở tín ngưỡng phong phú, cộng đồng người Hoa bày tỏ lòng
thành của mình với thần, thánh, Phật, tổ một cách trang nghiêm qua những nghi thức
của lễ hội. Họ kính trọng và tôn thờ và luôn cầu mong những điều tốt đẹp của thần
thánh ban cho cộng đồng, cho bản thân trong sự tồn tại của chu kỳ đời người. Đó là
những khát vọng đẹp đẽ và đáng trân trọng. Những nghi lễ được dung hợp của nhiều
quan niệm tín ngưỡng trong các lễ hội đã làm nên sự đa dạng của đời sống tinh thần
trong cộng đồng người Hoa.
Tùy thuộc vào đối tượng thờ và phối thờ tại từng cơ sở tín ngưỡng mà ở đó tổ
chức những ngày lễ cúng. Các cơ sở thờ thần chung chung thì chọn các ngày trong
tháng (thường các ngày cúng được chọn rơi vào các ngày đầu tháng theo định kỳ).
Loại hình miếu rẫy, miếu thờ thần tại khu vực cộng đồng sinh sống thường có các

18.4 Page 174

▲back to top
ngày cúng theo tiết, mùa trong năm như: xuân, hạ, thu, đông và lễ tạ ơn cuối năm.
Các lễ cúng diễn ra trong thời gian ngắn, thường giới hạn trong một ngày. Những cơ
sở có đối tượng thờ được xác định thường chọn các ngày lễ trọng liên quan đến đối
tượng thờ như: ngày sanh, ngày đắc đạo, hiển thánh hoặc ngày mất.
Về lễ hội có tính chất quy mô, điển hình ở một số cơ sở tín ngưỡng sau, thời
gian tính theo âm lịch:
- Thiên Hậu cổ miếu/ phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa theo lệ 3 năm 1
lần, tổ chức lễ lớn vào các ngày 10 đến 13 tháng 6.
- Thiên Hậu tự, đình Tân Lân/ phường Hòa Bình, thành phố Biên Hòa với lễ
Kỳ yên và Địa nàng Bóng rỗi (tính chất Việt hóa).
- Nghĩa từ Phúc Kiến/ xã Hóa An; Nghĩa từ Phúc Kiến/ phường Bửu Long,
thành phố Biên Hòa với lễ chạy đàn cầu siêu (đáo lệ 3 năm) vào trung tuần tháng 7.
- Miếu Quan Đế / Thất Phủ cổ miếu xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa vía
Quan Công hiển thánh ngày 24 tháng 6.
- Các miếu Quan âm thường diễn ra lễ hội vào ngày 18,19 tháng 2/ vía sanh
Quan Âm; có tục đấu giá phúc pháo, đèn.
- Lễ Tả Tài Phán do các miếu Quan Âm tổ chức, kéo dài trong nhiều ngày,
không ấn định thời gian cụ thể (thường đáo lệ 5 hay 10 năm, khi miếu có điều kiện về
tài chánh).
Đặc điểm chung là mục đích của lễ hội thường là những điều cầu an, cầu phúc,
cầu siêu. Ngoài ra, còn có những lễ hội như Tả Tài Phán có thêm tính chất thụ phong
cho lực lượng thầy cúng. Một số lễ hội như. Vía Quan Âm, vía Quan Đế, Tả Tài Phán
có những hoạt động mang tính chất hội đã cuốn hút nhiều người tham gia, tham dự có
tính xã hội cao như đấu giá đèn lồng. Điểm đáng trân trọng từ các nghi hội này là
nguồn quỹ thu được đã có những đóng góp vào hoạt động phúc lợi xã hội đem lại
nhiều hiệu quả tích cực.
Bên cạnh những yếu tố có tính ưu việt đó, cũng cần phải khẳng định rằng: một
số lễ hội có những tập tục gây lãng phí nhiều tiền của như tục đốt hàng mã, thời gian

18.5 Page 175

▲back to top
kéo dài nhiều ngày. Một số cơ sở tín ngưỡng trong lễ hội còn duy trì, phục hồi những
hoạt động mê tín dị đoan như coi bói, xem quẻ. Trong một số lễ hội, đặc biệt là lễ Tả
Tài Phán thường có những Mạnh Thường quân là người nước ngoài nên có yếu tố vi
phạm về công tác quản lý hành chánh. Những yếu tố được nêu trên cho thấy công tác
tổ chức một số lễ hội đã vi phạm vào một số quy định trong Quy chế về Lễ hội được
Nhà nước ban hành. Nếu những yếu tố này sớm khắc phục thì lễ hội của cộng đồng
người Hoa ngày càng thể hiện nét văn minh, lành mạnh trong đời sống xã hội và thực
hiện đúng trong kỷ cương pháp luật Nhà nước. Để thực hiện tốt những điều này, trách
nhiệm không chỉ của cộng đồng người Hoa trong công tác tổ chức lễ hội mà còn là
trách nhiệm của những cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa, của chính quyền địa
phương các cấp.
Trải qua bao biến cố lịch sử, lúc thăng, lúc trầm, trong suất quá trình di cư và
định cư ở Đồng Nai, người Hoa đã có nhiều đóng góp quan trọng trong công cuộc
khai phá, xây dựng vùng đất này. Nhóm cộng đồng người Hoa đã để lại những dấu ấn
của mình trong diễn trình lịch sử của Đồng Nai.
Qua những dấu tích kiến trúc, văn hóa vật chất hiện tồn và cả những nét sinh
hoạt văn hoá thông qua các tập tục, tín ngưỡng, ngành nghề, lễ hội… cộng đồng
người Hoa đã tạo nên một sức sống mãnh liệt trong dòng chảy lịch sử xứ Đồng Nai.
Những dấu tích, kiến trúc các cơ sở tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa đã góp
phần làm phong phú, đa dạng thêm bản sắc văn hóa của vùng đất Biên Hòa - Đồng
Nai vốn giàu truyền thống và bao dung.
Ths Phan Đình Dũng

18.6 Page 176

▲back to top
Bước đầu khảo một số cơ sở tín ngưỡng người Hoa ở Đồng Nai
Trên địa bàn Đồng Nai, các tín ngưỡng người Hoa rất đa dạng và có mặt hầu
hết ở các địa bàn hành chánh cấp huyện, thành phố. Những cơ sở tín ngưỡng được
chúng tôi thống kê, khảo sát, phản ánh đủ loại hình cơ sở tín ngưỡng nhưng chưa đầy
đủ về số lượng cụ thể, hiện có trên địa bàn toàn tỉnh bởi có những cơ sở có tính đồng
dạng, phổ biến. Trong đó, loại hình miếu thờ Thổ địa chiếm số lượng nhiều và và khó
có thể thống kê đầy đủ. Đặc biệt loại hình cơ sở tín ngưỡng này tập trung ở những địa
bàn cộng đồng người Hoa canh tác vườn, rẫy (hầu hết ở các huyện, thị Long Khánh,
Long Thành, Xuân Lộc, Thống Nhất, Tân Phú). Thành phố Biên Hòa là nơi tập trung
nhiều cơ sở tín ngưỡng, trong số này, có cơ sở của cộng đồng người Hoa tại Thành
phố Hồ Chí Minh (Nghĩa từ Phúc Kiến tại địa bàn xã Hóa An).
Số liệu cơ sở tín ngưỡng người Hoa được khảo sát, phân bố như sau: Biên Hòa
(16), Định Quán (8), Long Khánh (5), Long Thành (3), Nhơn Trạch (2), Tân Phú (5),
Thống Nhất (13), Vĩnh Cửu (0), Xuân Lộc (7). (Quá trình khảo sát diễn ra trước
tháng 10 năm 2003/ tức một số địa bàn huyện chưa được chia tách lại).
1. Tên gọi cơ sở tín ngưỡng
Cơ sở tín ngưỡng người Hoa có nhiều tên gọi như miếu, cung đền, tự nghĩa,
từ... trong đó, tên gọi miếu chiếm đa số: miếu với cách gọi chung như miếu thần hay
miếu được định danh cụ thể (miếu Quan Đế, miếu Thiên Hậu, miếu Đại Vương, miếu
Uy Linh, miếu Án Thủ, miếu Quan Âm, miếu Địa Mẫu, miếu Sơn Lâm bà bà, miếu
ông Bổn/ Ông Công...). Tên gọi miếu Quan Âm theo kiểu gọi tắt, đầy đủ là Quan Âm
Hộ Quốc miếu. Thông thường, tên gọi của cơ sở tín ngưỡng gắn liền với đối tượng
thờ chính hay đặc điểm của địa danh hoặc tính dung hợp trong phối thờ nên chúng có
nhiều tên gọi. Một số điển hình:
- Miếu Thiên Lương/ miếu Cây Đa ở địa bàn xã Bàu Hàm, huyện Thống Nhất.
- Miếu Quan Âm/ miếu Cầu Sập ở địa bàn ấp Suối Cát, huyện Xuân Lộc.
- Miếu Quan Đế/ Thất Phủ cổ miếu/ chùa Ông ở địa bàn xã Hiệp Hòa, thành

18.7 Page 177

▲back to top
phố Biên Hòa.
- Miếu Quan Âm/ chùa Tư Nguyên ở địa bàn phường Bình Đa, thành phố Biên
Hòa.
2. Thời gian xây dựng
Qua khảo sát điều tra, cho thấy cơ sở tín ngưỡng người Hoa ở Đồng Nai được
xây dựng trong nhiều thời điểm khác nhau, bắt đầu từ cuối thế kỷ XVII đến nay. Có
thể tạm chia ra hai giai đoạn tương ứng với những đợt người Hoa đến Đồng Nai sinh
sống, đó là từ cuối thế kỷ XVII đến trước 1954 và từ sau năm 1954 đến nay. Cộng
đồng người Hoa đến trong giai đoạn trước đến Việt Nam bằng đường thủy, giai đoạn
sau bằng đường bộ.
Một số cơ sở tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa đến trong giai đoạn trước
được xây dựng khá sớm như: miếu Quan Đế/ xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch;
miếu Quan Đế/ xã An Hòa, huyện Long Thành; miếu Quan Đế/ xã Hiệp Hòa và
Thiên hậu cổ miếu/ phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa. Thời gian khởi lập các
cơ sở này kể từ khi cộng đồng người Hoa đến định cư từ cuối thế kỷ XVII (tính từ
năm 1679) và xây dựng kiên cố từ thế kỷ XIX.
Hầu hết, các cơ sở tín ngưỡng này đều trải qua nhiều lần trùng tu, trùng kiến,
nhiều bộ phận kiến trúc không đồng nhất nhưng trong đó vẫn còn bảo lưu những
thành tổ kiến trúc cổ. Đặc biệt, trong khoảng thời gian từ năm 1894-1895, các cơ sở
này trải qua một đợt trùng tu lớn mà vật liệu chủ yếu là đá xanh, gỗ. Hầu hết các cơ
sở tín ngưỡng còn lại đều được khởi lập, xây dựng trong thế kỷ XX. Các cơ sở tín
ngưỡng của cộng đồng người Hoa đến sau năm 1954 được tạo dựng trong thập niên
60, thế kỷ XX và một trong những số đó được mở rộng, xây kiên cố sau này.
3. Đối tượng thờ cúng
Đối tượng thờ cúng trong cơ sở tín ngưỡng người Hoa rất phong phú. Tùy
thuộc vào đặc điểm của từng nhóm cộng đồng mà người Hoa thỉnh thờ trong cơ sở tín
ngưỡng.
Đối tượng thờ cúng chính trong cơ sở tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa

18.8 Page 178

▲back to top
đến Đồng Nai từ cuối thế kỷ XVII đến trước năm 1954 chủ yếu là: những người đã
chết, bà Thiên Hậu, Quan Đế và một số nhân thần. Đối tượng thờ cúng chính trong
cơ sở tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa đến Đồng Nai từ sau năm 1954 chủ yếu
là: Quan Âm, Quan Đế, Án Thủ công công và một số vị phối thờ khác.
Qua số liệu khảo sát cho thấy, trong cơ sở tín ngưỡng người Hoa có rất nhiều
đối tượng được thờ, phối thờ được định danh rõ ràng và cả không rõ nguồn gốc hoặc
mang tính danh chung chung. Một số đối tượng thờ điển hình sau:
w Những người đã chết: thể hiện bằng linh vị đặt tại gian thờ chính trong các
nghĩa từ của bang hội. Địa bàn Biên Hòa tập trung nhiều nghĩa từ của các bang hội
như Phúc Kiến, Quảng Đông / phường Bửu Long, Triều Châu / phường Bưu Hòa.
Ngoài ra, còn có hai cơ sở nghĩa từ tại xã Hóa An của bang hội người Hoa Phúc
Kiến, Sùng Chính ở Thành phố Hồ Chí Minh.
v Ông Bổn: ông Bổn có nghĩa là “ông Tổ”, “Bổn” có nghĩa là gốc. Ông Bổn
là một biểu tượng, không phải là một nhân vật cụ thể. Phần lớn người Hoa quan niệm
ông Bổn là Phước Đức chính thần/ thần Thổ địa/ Tam bảo Thái giám Trịnh Hòa/
Huyền Thiên thượng đế. Trên địa bàn Đồng Nai có một số miếu thờ thần của người
Hoa có tên gọi là miếu Ông Bổn hay Ông Công.
v Thổ thần: Hầu hết các cơ sở tín ngưỡng người Hoa đều thờ Thổ thần. Trong
các cơ sở thờ các đối tượng khác thì Thổ thần thường được thờ ở một am, miếu riêng
hoặc dưới các bàn thiêng. Thổ thần được thờ chính trong các cơ sở tín ngưỡng người
Hoa làm vườn rẫy. Số lượng miếu thờ Thổ thần dạng này rất nhiều, tập trung ở các
khu vực nông thôn mà người Hoa sinh sống, sản xuất nông nghiệp. Điển hình như
các miếu ở địa bàn xã Núi Tượng, huyện Tân Phú; xã Phú Tân, huyện Định Quán; xã
lộ 25, xã Sông Thao, Bàu Hàm, huyện Thống Nhất.
v Bà Thiên Hậu: Nguyên ủy bà là người con gái họ Lâm, tên Lâm Mặc, sống
vào đời Tống, ở huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Tương truyền, bà là
một người thông minh, có hiếu và thương người. Bà đã tu luyện thành thần tiên tại
thế và hay giúp đỡ mọi người. Năm 987, bà mất, thọ 28 tuổi. Sau khi chết bà thường
hiển linh, báo ứng cứu người, đặc biệt với với cư dân đi biển. Người Hoa tôn thờ bà

18.9 Page 179

▲back to top
lên bậc Thánh Mẫu. Cộng đồng người Hoa đến Việt Nam bằng đường biển quan
niệm, chính bà Thiên Hậu đã độ từ, giúp họ vượt qua bao cơn dông bão, tai ương trên
chuyến hành trình vượt biển tìm đất sống. Vì vậy, khi đến vùng đất mới sinh sống,
cộng đồng người Hoa không quên lập miếu thờ bà. Nhóm cộng đồng người Hoa dòng
họ Lâm ở huyện Định Quán thờ bà là Cô Tổ.
Bà Thiên Hậu vốn được thờ chính hoặc phối thờ trong một số cơ sở tín ngưỡng
của cộng đồng người Hoa ở địa bàn thành phố Biên Hòa (Thiên Hậu cổ miếu/
phường Bửu Long; Thiên Hậu cung, Thiên Hậu tự/ phường Hòa Bình; miếu Thiên
Hậu trong Phụng Sơn tự/ phường Quyết Thắng; miếu Quan Đế/ xã Hiệp Hòa) và
miếu Quan Đế ở thị trấn Xuân Lộc, huyện Long Khánh cũ; xã Hiệp Phước, huyện
Nhơn Trạch và Đền thờ họ Lâm ở xã Phú Lợi, huyện Định Quán.
v Phật Bà Quan Âm: Quan âm là “Vị thần linh nhìn xuống” chúng sinh với
lòng từ bi, là một trong những vị Bồ tát quen thuộc của Phật giáo, tông phái Đại thừa.
Ngài là vị Bồ tát tùy tùng của phật A Di Đà ở thế giới cực lạc Tây phương, được mọi
người tôn kính như là biểu hiện của sự từ bi, nhẫn nhục cứu độ con người. Đối với
cộng đồng người Hoa, vị Quan Âm đã được dân gian hóa thành vị nữ thần phù hộ
cho những ai cầu khẩn đến người, hay nghe tiếng kêu của chúng sanh. Tượng thờ
Quan Âm trong các cơ sở tín ngưỡng người Hoa ở Đồng Nai thường ở tư thế tọa trên
đài sen, đầu đội mão, toàn thân phủ áo trắng, thêu nhiều kim tuyến. Trước các miếu
Quan Âm thường có hồ phóng sanh, trên đó có tượng Quan Âm Nam Hải đứng trên
đài sen hoặc con rồng dâng dạ kim châu, hai bên có Thiện Tài Long nữ và Huệ Ngạn
Hành giả. Hầu hết, tại các địa bàn tập trung cộng đồng người Hoa đông đảo (đến
Đồng Nai sau năm 1954) thường có miếu thờ Quan Âm Hộ Quốc miếu.
v Bà Thánh: đây là một trường hợp cá biệt. Thường danh xưng bà Thánh là
một trong những cách gọi chung cho các vị nữ được thờ. Tại khu du lịch Bửu Long,
thành phố Biên Hòa có miếu Nương Tơ tiên/ Tiên cô nương. Người Hoa tại địa
phương cho rằng đối tượng thờ cúng chính trong miếu là một là một phụ nữ người Hẹ
từ Trung Hoa qua Việt Nam sinh sống, lập nghiệp tại Biên Hòa từ thế kỷ XVIII. Bà
là một phụ nữ bình thường, khi qua đời, hiển thánh và được dân chúng tôn thờ. Mộ

18.10 Page 180

▲back to top
của bà sau khi chôn (tương truyền ở phía sau miếu hiện nay) một thời gian, phần nấm
mộ bị tụt xuống, làm cho các vách hòm lộ thiên. Nhiều người dân trong vùng mắc
những bệnh hiểm nghèo đã đến cầu xin và lấy gỗ từ vách hòm về làm thuốc, chữa
được bệnh. Tin vào sự giúp đỡ thần bí của Bà nên dân chúng đã lấp lại phần mộ
chỉnh trang và xây miếu thờ.
v Quan Đế (Quan Công, Quan Thánh, Quan Thánh Đế quân): Tên thật của
ông là Quan Vũ (Võ) tự Vân Trường, người quê Giải Châu, tỉnh Sơn Tây, sống vào
thời Tam quốc ở Trung Quốc. Ông là vị tướng tài vừa là bạn đồng sinh tử, đóng góp
nhiều công sức cho Hán đế Lưu Huyền Đức. Ông sinh năm 162, bị kẻ thù giết chết
năm 219, thọ 58 tuổi. Người Hoa thờ ông làm biểu tượng cho tín nghĩa, trí dũng,
cương trực, lắm mưu lược nhưng đầy lòng nhân ái.
Ông là đối tượng thờ khá phổ biến trong nhiều cơ sở tín ngưỡng của người Hoa
ở Đồng Nai. Thờ chính ở các cơ sở sau: miếu Quan Đế/ phường Thanh Bình; Thất
Phủ cổ miếu/ xã Hiệp Hòa; miếu Quan Thánh (chùa Ông)/ xã Hiệp Phước, xã Long
Thọ, huyện Nhơn Trạch; miếu Quan Công/ xã Thanh Bình, xã Bàu Hàm 2 và miếu
Quan Đế/ xã Sông Thao, huyện Thống Nhất; miếu Quan Đế/ thị trấn Xuân Lộc,
huyện Long Khánh (cũ). Hầu hết các cơ sở tín ngưỡng thờ Thiên Hậu, Quan Âm đều
có phối thờ Quan Đế. Khi thờ Quan Đế, phần lớn tại các cơ sở tín ngưỡng phối thờ
bên cạnh ông hai vị Quan Bình, Châu Xương (Quan Bình là con nuôi của Quan
Công, bị địch giết chung với cha, Châu Xương là tùy tướng, đã tử tiết khi hay tin
Quan Công bị sát hại).
v Đức Quảng Trạch: Nhân vật xuất thân từ tầng lớp nghèo khổ nhưng có chí
hướng ở vùng Phụng Sơn, huyện Nam An, tỉnh phúc Kiến, Trung Quốc vào đời nhà
Tống. Bình sinh, ông giúp dân dẹp loạn, sau khi chết ông hiển linh bảo vệ dân làng
nên người Hoa ở Phúc Kiến suy tôn ông làm bậc thánh minh, gọi họ làm danh xưng
là Quách Thánh vương (còn cách gọi khác là Quảng Trạch vương), thành tâm thờ
cúng.
v Đức Ông Trần Thượng Xuyên: Trần Thượng Xuyên tự là Trần Thắng Tài,
người huyện Ngô Xuyên, phủ Cao Châu, tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc, nguyên

19 Pages 181-190

▲back to top

19.1 Page 181

▲back to top
là Tổng binh ba châu: Cao, Lôi, Liêm dưới triều nhà Minh sụp đổ, ông không thần
phục triều Thanh nên đã phất cờ “Kháng (bài) Thanh phục Minh” nhưng không
thành. Năm 1679, Trần Thượng Xuyên đem 3.000 quân và gia quyến tị nạn. Chúa
Nguyễn Phúc Tần chấp thuận, cho vào xứ Đồng Nai khai khẩn. Ông là người có công
lớn trong việc xây dựng thương cảng Cù Lao Phố một thời sầm uất và giữ an bờ cõi
phương Nam của Đại Việt Ngày 23 tháng 10 năm 1720 (Canh Tý), ông mất và được
an táng phía bắc dinh Trấn Biên. Ghi nhớ công lao của Trần Thượng Xuyên, chúa
Nguyễn ban danh hiệu “Nguyễn vi vương, Trần vi tướng, đại đại công thần bất
tuyệt”. Các vua Minh Mạng, Thiệu Trị phong ông là “Thượng đẳng thần”. Tại Đồng
Nai, Trần Thượng Xuyên được tôn là phúc thần của làng xã, được thờ tại đình Tân
Lân phường Hòa Bình.
v Địa Mẫu: hình tượng địa Mẫu là một phụ nữ tóc bới cao, vận áo đen, đứng
trên quả địa cầu, giơ hai tay cứu độ. Theo Địa Mẫu chơn kinh thì vào ngày 9 tiết
tháng Giêng năm Quang Tự thứ 9, đời nhà Thanh ở Trung Quốc, tại phủ Hớn Trung,
huyện Thành Cố, tỉnh Thiểm Tây có Phật Địa Mẫu ngự chim loan xuống giáng cơ
bút truyền kinh. Tục thờ Địa Mẫu là một dạng tín ngưỡng cứu thế, xuất hiện ở Trung
Quốc vào thế kỷ XIX, du nhập vào nước ta khoảng một thế kỷ nay và phổ biến ở
miền Nam từ sau năm 1975.
Địa Mẫu được thờ chính tại miếu Địa Mẫu xã Phú Vinh, huyện Định Quán.
Địa Mẫu được phối thờ với Kim Mẫu, Hoàng Mẫu - đây là những vị Thánh mẫu theo
quan niệm là ban phúc lộc cho con người. Một số cơ sở tín ngưỡng có phối thờ Địa
Mẫu như: Quan Âm các trong miếu Quan Đế/ xã Sông Thao; miếu Sơn Lâm bà bà/
xã Lộ 25, huyện Thống Nhất; miếu Quan âm/ xã Lang Minh, xã Suối Cát thuộc
huyện Xuân Lộc.
v Địa Tạng: là một vị Bồ tát, danh hiệu Địa Tạng có nghĩa là an nhẫn, bất
động như đại địa, tư duy sâu xa kín đáo như kho tàng bí mật. Tiền thân của người là
con gái của dòng họ Bà la môn đầy đủ phước đức, được mọi người cung kính (thời
tượng pháp của Đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương). Biểu tướng của ngài là
người xuất gia, đầu tròn, mặc áo cà sa, tay phải cầm tích trượng có mười hai khoen,

19.2 Page 182

▲back to top
tay trái cầm hạt minh châu, hiện thân là một người Tỳ kheo. Bản nguyện của Ngài là
cứu thoát chúng sinh khỏi kiếp trầm luân của địa ngục. Một số cơ sở tín ngưỡng của
người Hoa phối thờ Địa Tạng như: miếu Quan Đế / xã Hiệp Phước, huyện Nhơn
Trạch; miếu Quan Âm/ xã Lang Minh, huyện Xuân Lộc; các nghĩa từ thường dành
gian cuối thờ Địa Tạng như nghĩa từ Phúc Kiến/ xã Hóa An.
v Án Thủ công công: Đây là một đối tượng thờ khá phổ biến trong các cơ sở
tín ngưỡng của công đồng người Hoa đến sinh sống tại Đồng Nai sau năm 1954.
Tượng thờ thể hiện hình ảnh người đàn ông ngồi trên ngai, đầu đội mũ cánh chuồn
với tư thế như đang xử án. Nhiều người Hoa cao tuổi cho biết, họ chỉ thờ theo truyền
thống cha ông chứ không biết rõ lai lịch của ông Án Thủ. Có nhiều giả thiết chung
quanh đối tượng này: đây là nhân vật có công đi mở đất cho cộng đồng người Hoa
thời kỳ đầu đến các tỉnh phía Bắc Việt Nam sinh sống; đây là nhân vật mà những
người Hoa đi lính thường thờ vì ông hay hiển linh, báo trước những hiểm họa. Một ý
kiến nêu cả tên tuổi của ông, cho rằng: Án Thủ công công là danh gọi một người có
tên là Phan Thắng. ông là người Hoa, làm việc cho Pháp những năm cuối thế kỷ XIX,
có chức cao, được người Pháp trọng dụng. Trong thời gian phục vụ cho quân đội
Pháp, ông thể hiện lòng yêu nước bằng cách giúp đỡ nhiều vũ khí, lương thực cho
người Hoa. Quân Pháp phát hiện và đem ra xử án ông. Án Thủ là cách gọi người
đứng đầu của bản án. Cộng đồng người hoa sinh sống ở một số tỉnh phía Bắc trước
đây thờ Phục Ba tướng quân (tức Mã Viện kẻ đàn áp phong trào khởi nghĩa của Hai
Bà Trưng) với quan niệm về tinh thần chống xâm lăng, bảo vệ đất nước. Khi sinh
sống ở miền Bắc Việt Nam, để tránh sự va chạm, tranh thủ thiện cảm với người Việt,
một thủ lĩnh người Hoa đã vận động cộng đồng người Hoa thỉnh thờ vị Án Thủ cũng
biểu trưng được tinh thần ái quốc, dân tộc. Khi thờ vị Án Thủ, có tượng trên ngai án,
thì bao giờ người Hoa cũng bày bài vị phía sau nêu danh Phục Ba tướng quân với
tinh thần vọng tưởng. Nêu lên những ý kiến này có tính chất tham khảo vì không có
tư liệu để kiểm chứng.
Trên địa bàn Đồng Nai, có hai cơ sở định danh cụ thể là miếu Án Thủ, một ở
phường Bình Đa, thành phố Biên Hòa (có tượng thờ) và một xã ở xã Bàu Hàm 2,
huyện Thống Nhất (không có tượng). Hầu hết, các miếu Quan Âm đều có phối thờ

19.3 Page 183

▲back to top
Án Thủ công công.
w Tổ họ Lâm: người Hoa dòng họ Lâm thờ ba vị Tổ là Bị Quận Công, Kiến
Công và Lộc Công. Bên cạnh đó, họ còn thờ bà Thiên Hậu với quan niệm là bà cô
Tổ. Đền thờ họ Lâm ở địa bàn xã Phú Lợi, huyện Định Quán.
v Các vị Tổ nghề: Có ba vị Tổ nghề được thờ trong cơ sở tín ngưỡng người
Hoa ở Thiên Hậu cổ miếu/ phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa. Đó là các vị:
Ngũ Đinh - tổ nghề đá, Lỗ Ban - tổ nghề mộc, Quốc Từ - tổ nghề sắt. Ông tổ nghề
mộc tên thật là Công Thâu Ban, người nước Lỗ. Ông từng làm tới chức Thượng thư
bộ Công, có tài xây dựng, được người đời thán phục, tôn làm tổ sư ngành xây dựng.
Lỗ Ban tiên sinh từng viết sách Lỗ Ban chơn kinh truyền bá kinh nghiệm nghề xây
dựng. Sau khi ông mất, được truy phong Trí Huệ đại sư, đầu đời Minh được truy
phong Bắc Thành hầu.
v Thái Tuế: Là vị thần coi về năm tháng tuổi tác đời người. Mỗi năm, Thái
Tuế sẽ chọn một vị thần ứng với con giáp năm đó để ngư trị, ban phát tuổi tác, sức
khỏe cho mọi người.
Ngoài các đối tượng thờ cúng chính, trong nhiều cơ sở tín ngưỡng người Hoa
có nhiều đối tượng khác xin lược nêu danh xưng như sau: Không Tử (551-479 trước
CN), Cửu Thiên Huyền nữ (nữ thần tiên cai quản chín tầng trời là: Quân Thiên,
Thượng Thiên, Biến Thiên, Huyền Thiên, U Thiên, Hiệu Thiên, Chu Thiên, Viêm
Thiên, Dương Thiên), Kim Huê, Thánh mẫu và bà Mẹ Sanh (là những nữ thần chủ
quan việc sinh đẻ và bảo dưỡng trẻ em), Mã Đầu tướng quân (người giữ ngựa cho
Quan Công), Thái Thượng lão quân và một số thân vị của Phật (nhưng không đáng
kể).
Trong nhiều cơ sở tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa đến Đồng Nai sau
năm 1945, thường có bài vị bằng chữ Hán nêu danh các vị được thờ (tùy theo từng cơ
sở mà bài vị nêu nhiều hay ít) như sau: Thần Nông Hoàng đế, Lý Xã Đại vương, Hộ
Thôn Hộ Quốc Đại vương, Cao Sơn Đại vương Địa Bầu Đại Vương, Thủy Khẩu Đại
vương, Ô Lôi Đại vương, Diệp Thắng Đại vương, Đặng Thông Đại vương, Bàn Cổ
Đại vương, Trương Chân Đại vương, Bổn Cảnh Phước Chủ Đại vương, Hoa Quang

19.4 Page 184

▲back to top
Đại đế, Lê Thánh Lão gia, Hồng Cảnh Lão gia, Phục Hổ Lão gia, Tam Thánh công
công, Tam Vị bà bà, Phục Ba tướng quân, Mãnh Dũng tướng quân, Nguyễn Đại Nhất
lang, Hà Địa Nhị lang, Trần Đại Tam lang, Trần Công Minh, Trần Công Hầu, Trần
Công Thánh, Phạm Pháp Long.
4. Quy mô kiến trúc của cơ sở tín ngưỡng
Qua tổng hợp số liệu thống kê, khảo sát chúng tôi tạm chia các cơ sở tín
ngưỡng người Hoa trên địa bàn Đồng Nai làm ba dạng: nhỏ, vừa và lớn. Lối kiến
trúc hầu hết ở các cơ sở theo một trong các lối kiểu chữ sau: chữ nhất, chữ công, chữ
tam, chữ khẩu.
Các cơ sở có quy mô nhỏ có số lượng nhiều, thuộc vào loại hình miếu thờ Thổ
thần (miếu rẫy), kiến trúc không đáng kể, tập trung ở các vùng người Hoa canh tác
sản xuất thuộc các huyện, thị Xuân Lộc, Long Khánh, Tân Phú, Định Quán, Thống
Nhất.
Các cơ sở có quy mô vừa tập trung ở các địa bàn có đông dân cư người Hoa
(đến Đồng Nai sau 1954) sinh sống. Kiến trúc cơ sở xây chủ yếu theo lối chữ nhất,
chữ khẩu, bằng vật liệu kiên cố, thờ thần thể hiện bằng bài vị chữ Hán. Hầu hết, ở
địa bàn huyện, thành phố đều có loại hình cơ sở tín ngưỡng này, tập trung trong cộng
đồng người Hoa đến Đồng Nai sau 1954.
Các kiến trúc có quy mô lớn tập trung vào các cơ sở tín ngưỡng của cộng đồng
người Hoa sinh hoạt theo bang hội như. Thiên Hậu cổ miếu/ phường Bửu Long;
miếu Quan Đế/ xã Hiệp Hòa; Phụng Sơn tư/ phường Quyết Thắng (thành phố Biên
Hòa); miếu Quan Đế/ xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch; miếu Quan Đế/ xã An
Hòa, huyện Long Thành; miếu Quan Đế/ thị xã Long Khánh... và của nhóm cộng
đồng người Hoa đến sau năm 1954 như: miếu Quan Âm ở Bảo Bình, Xuân Tây,
Lang Minh, Xuân Bảo... huyện Xuân Lộc; miếu Quan Đế xã Cây Gáo, Bàu Hàm,
Thanh Bình... huyện Thống Nhất; miếu Quan Âm thị trấn Định Quán; miếu Quan
Âm ở thị trấn Tân Phú; miếu Quan Âm ở xã Bình Lộc và ở Long Khánh. Những cơ
sở miếu Quan Âm có quy mô lớn thường được xây theo lối chữ nhất. Kiến trúc trong
nội điện thường được chia làm ba gian tương ứng với các đối tượng thờ và tùng tự.

19.5 Page 185

▲back to top
Trên nóc miếu thường được trang trí hình ảnh lưỡng long triều nhật và có long, lân
chầu hay ngư long, phụng nghinh (cá biệt có trường hợp như miếu Quan Âm/ xã Bảo
Bình, huyện Xuân Lộc trang trí đôi phụng triều nhật). Mái miếu thường được xây hai
tầng, tạo kiểu lầu trống thông thiên.
Trong số các cơ sở tín ngưỡng có quy mô lớn, mang đặc trưng kiến trúc Hoa
gồm: Thiên Hậu cổ miếu/ phường Bửu Long; miếu Quan Đế/ xã Hiệp Hòa; Phụng
Sơn tự/ phường Quyết Thắng và một số các nghĩa từ... trên địa bàn thành phố Biên
Hòa; miếu Quan Đế/ xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch; miếu Quan Đế/ xã Cây
Gáo, huyện Thống Nhất. Các cơ sở tín ngưỡng này thường xây theo lối chữ công (là
hai kiến trúc song song, nối liền ở giữa) hay chữ quốc (lối chữ công thường có tường
bao bọc hình tứ giác, tạo nên kiểu “nội công ngoại quốc”). Đặc điểm chung của các
cơ sở này là các bàn thờ và điện thờ được bố trí thứ tự từ thấp lên cao theo chiều dọc.
Cấu trúc các gian miếu theo chiều ngang, nhưng xét theo trục dọc có ba gian: tiền
điện, trung điện và chánh điện. Từ tiền điện đến các phần sau thường phải qua một
khoảng sân trống (gọi là thiên tỉnh hay giếng trời). Nét độc đáo của các kiến trúc này
còn ở hình dáng và lối trang trí bên ngoài như mái được đúc, được lợp loại ngói ống,
diềm mái là loại ngói có tráng men xanh. Các đầu bờ mái được tạo dáng cong vuốt
lên, tầng mái gian giữa cao hơn các gian khác. Hai bên mặt tiền trên mái thường có
tượng thể hiện ông Nhật, bà Nguyệt. Trên bờ nóc mái được trang trí bởi các mảng,
tượng, phù điêu gốm, đá rất độc đáo. Những cơ sở tín ngưỡng như Thiên Hậu cổ
miếu/ phường Bửu Long; miếu Quan Đế/ xã Hiệp Hòa; đình Tân Lân/ phường Hòa
Bình thuộc địa bàn thành phố Biên Hòa được trang trí những mảng phù điêu gốm.
Đó là những tập thành có giá trị nghệ thuật cao. Mặt tiền các cơ sở thờ Bà thường có
cặp lân, thờ các võ thần thì có đôi sư tử. Các ngạch cửa, khung cửa và bậc cửa
thường sử dụng chất liệu đá. Những phần kiến trúc hai bên thường được dùng vào
hoạt động chung của bang hội: hội họp, tiếp khách, chuẩn bị các nghi lễ.
5. Tịch cộng đồng và mối liên hệ
Các cơ sở tín ngưỡng phản ánh mối liên hệ tính cộng đồng của người Hoa.
Trong cộng động người Hoa đến Đồng Nai trước năm 1954, chúng ta dễ dàng

19.6 Page 186

▲back to top
nhận thấy được mỗi bang hội đều có cơ sở tín ngưỡng riêng và đồng thời cũng là hội
quán. Cụ thể như trên địa bàn thành phố Biên Hòa: bang hội Phúc Kiến với cơ sở
Phụng Sơn tự/ phường Quyết Thắng; bang hội Sùng Chính và Triều Châu với cơ sở
Thiên Hậu cung phường Hòa Bình; bang hội Quảng Đông với cơ sở miếu Quan Đế/
phường Thanh Bình; bang Hẹ ở địa bàn với cơ sở Thiên Hậu cổ miếu/ phường Bửu
Long. Trên địa bàn huyện Long Khánh (cũ) có cơ sở miếu Quan Đế/ thị trấn Xuân
Lộc của người Quảng Đông. Từng bang hội thường tổ chức bầu ban quản lý cơ sở
tín ngưỡng đồng thời cũng là ban đại diện của bang hội theo nhiệm kỳ, số lượng
được thống nhất chung. Các ban quản lý tại các cơ sở tín ngưỡng kiêm quản lý nghĩa
từ của bang hội. Trên địa bàn Biên Hòa, cơ sở tín ngưỡng miếu Quan Đế/ xã Hiệp
Hòa là cơ sở, hội quán chung của cộng đồng người Hoa bốn bang Triều Châu,
Quảng Đông, Phúc Kiến, Sùng Chính ở thành phố Biên Hòa. Mỗi bang hội cử ba đại
diện tham gia vào ban quản lý chung theo những quy định được các bang thống nhất.
Trong nhiệm kỳ một năm, ban đại diện của từng bang chịu trách nhiệm trông quản
các mặt hoạt động tại miếu.
Trong cộng đồng người Hoa đến Đồng Nai sau năm 1954, các cơ sở tín
ngưỡng phản ánh từng nhóm cộng đồng tham gia. Loại hình miếu thờ Thổ địa/ miếu
rẫy có quy mô nhỏ thường do một nhóm người Hoa cùng canh tác, sản xuất trên một
khu vực tham gia (thậm chí chỉ một hộ gia đình). Loại hình này mang tính chất tự
quản. Loại hình miếu thờ Thần, có quy mô kiến trúc vừa thường do cộng đồng người
Hoa cùng sinh sống trên một khu vực (thường của một đơn vị hành chánh ấp) tạo
dựng và tham gia. Quản lý các cơ sở tín ngưỡng này, người Hoa cử ban quản lý. Loại
hình miếu thờ Quan Âm/ Hộ Quốc miếu của người Hoa đều có mối quan hệ nhau.
Đặc biệt, các miếu quan âm của người Hoa trên địa bàn Đồng Nai khi khởi công xây
dựng, cộng đồng người hoa thường tổ chức lễ rước chân nhang từ miếu Quan Âm ở
Sông Mao, xã Hải Ninh, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận hoặc tại phường 19, quận
Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Hai cơ sở tín ngưỡng này được xem như điểm
gốc của miếu Quan Âm của người Hoa theo thứ tự sau: miếu Quan Âm ở tỉnh Quảng
Ninh, đến miếu ở Sông Mao rồi mới đến miếu ở Tân Bình. Khi người Hoa ở địa bàn
nào muốn lập miếu Quan Âm thì có thể rước chân nhang ở các miếu này. Ngoài ra,

19.7 Page 187

▲back to top
trên địa bàn Đồng Nai, cá biệt có cơ sở tín ngưỡng của một dòng họ Lâm ở xã Phú
Vinh, huyện Định Quán.
Các cơ sở tín ngưỡng người Hoa trên địa bàn Đồng Nai (chủ yếu là các cơ sở
có quy mô kiến trúc lớn, cộng đồng tham gia đông đảo), đều có tục xin xăm. Một số
cơ sở tín ngưỡng người Hoa có tính dung hợp, trở thành cơ sở tín ngưỡng chung của
cộng đồng dân cư tại chỗ; một số cơ sở có tính chất Việt hóa mạnh mẽ như: đình Tân
Lân, Thiên Hậu tự, miếu Cây Quăn, miếu Bà Thánh thuộc địa bàn thành phố Biên
Hòa.
6. Di sản chữ Hán tại các cơ sở tín ngưỡng tiêu biểu
Trong số các cơ sở tín ngưỡng cộng đồng của người Hoa trên địa bàn Đồng
Nai, có hai cơ sở được xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật. Đó là di tích
đình Tân Lân/ đền thờ Trần Thượng Xuyên, phường Hòa Bình và miếu Quan Đế/
Thất Phủ cổ miếu/ chùa Ông, xã Hiệp Hòa thuộc địa bàn thành phố Biên Hòa. Hiện
nay, cơ sở tín ngưỡng Thiên Hậu cổ miếu/ miếu Tiên sư, phường Bửu Long, thành
phố Biên Hòa đang được cơ quan chuyên môn lập hồ sơ khoa học để trình duyệt xếp
hạng di tích.
Chúng tôi giới thiệu một số di sản chữ Hán tại ba cơ sở tín ngưỡng này theo tài
liệu: Di sản chữ Hán trong các đình, chùa., miếu mạo, từ đường ở Biên Hòa - Đồng
Nai của ủy ban nhân dân Thành phố Biên Hòa chủ biên, giáo sư Huỳnh Minh Đức và
các Cộng tác viên thực hiện năm 1998 và một số tài liệu khác để tham khảo.
Tại các di tích này, phần lớn các liễn đối, hoành phi đại tự bằng chữ Hán đều
ca ngợi công đức tài năng, sự uy linh, phò trợ, giúp người của các đối tượng được
thờ chính và tùng tự, sự tôn nghiêm của chốn thờ tự và những ước vọng của người
dân. Ngoài ra còn phản ánh về sự gắn kết cộng đồng người Hoa với nhau, với vùng
đất Biên Hòa - Đồng Nai và cộng đồng người Việt.
6.1. Ca ngợi về đối tượng được thờ
w Tại đình Tân Lân, một số hoành phi, liễn đối ca ngợi Trần Thượng Xuyên, vị
phúc thần của làng xã như sau:

19.8 Page 188

▲back to top
- “Đức tham thiên”: Cái đức của thần linh xứng đáng tham với trời.
- “Thần ân quảng bị”: Ơn của thần đã đầy đủ.
- “Công vĩ tích”: Công lao của thần linh thật bao la.
- “Thần ân tý hựu”: Thần ân che chở và bảo hộ cho dân.
- “Thần quang phổ chiếu”: ánh sáng của thần linh soi sáng khắp nơi.
- “Thánh đức dương dương nghiễm thượng chân phò chân hữu đức/ Thân ân
trạc trạc phổ quang chứng chiếu thị vô tư”: Cái đức của bậc thánh thật cao vời vợi
bên trên, phò hộ người dân, thật sự là có đức/ Cái ơn của thần linh sáng chói và linh
hiển tuyệt vời, soi sáng khắp nơi, chúng chiếu vạn dân, đó là lòng vô tư.
- “Linh sảng đồng thiên chiêu nhật nguyệt/ Ân ba tự thủy bái san hà”: Sự
khoáng đạt sáng sủa của thần linh ví với mặt trời mặt trăng/ Cái ơn của thần linh như
nguồn nước chảy tràn ngập núi sông.
- “Thánh đức hiển thiên niên dân thọ tài phong tứ hải đồng xưng Thuấn nhựt/
Thần quang linh vạn tải quốc long phú thanh cửu châu cộng ngưỡng Nghiêu thiên”:
Cái đức của bậc thánh hiển linh ngàn năm, người dân được sống lâu, của cải được
dồi dào, khắp bốn biển cùng nhau ca tụng đây là thời kỳ của vua Thuấn/ Cái ánh
sáng của thần linh chiếu rạng muôn đời, đất nước hưng long, giàu có, khắp chín châu
đều ngưỡng mộ như thời vua Nghiêu.
w Miếu Quan Đế/ Thất Phủ cổ miếu ca ngợi công lao, nghĩa khí Quan Vũ như:
- “Trung nghĩa thiên thư”: Trung nghĩa ngàn năm.
- “Thiên cổ nhất nhân”: Ngàn xưa chỉ có một người/ anh hùng như Quan Đế,
từ xưa đến nay chỉ có một người.
- “Uy chấn Hoa Hạ”: Oai chấn khắp cả Trung Hoa...
- “Xích Thố mã Thanh Long đao phò Hán an Lưu tinh trung chiêu nhật nguyệt/
Đọc Xuân Thu duy xã tắc phá Ngô phạt Ngụy nghĩa khí tráng sơn hà”: Nói về ngài
Quan Vũ với con ngựa Xích Thố, Thanh Long đao đã theo phò nhà Hán, giúp cho
dòng họ Lưu được bình an, lòng tính trung của ngài thật ví sáng với mặt trời mặt

19.9 Page 189

▲back to top
trăng/ Ngài với quyển Xuân Thu, đã duy trì xã tắc phá Ngô (Tôn Quyền), phạt Ngụy
(Tào Tháo), nghĩa khí của ngài đã trấn được núi sông.
- “Tướng mạo trượng Thanh long anh hùng đệ nhất/ Oai phong thừa Xích Thố
hậu kiệt hữu tam”: Với dáng mạo của tướng cầm Thanh long đao, (Quan Vũ) thật là
vị anh hùng đệ nhất/ Với uy phong của vị tướng cưỡi Xích Thố mã, (Quan Vũ) thật
là một trong ba vị hào kiệt sau này (cùng với Lưu Bị và Trương Phi).
- “Đại nghĩa trong thiên thu bảo tướng trang nghiêm huy hải quốc/ Sanh linh
khâm bách đại, đan tâm hao đảng tế càn khôn”: Đại nghĩa trong ngàn năm, tướng
quý trang nghiêm ngời hải quốc/ Sanh linh thờ trăm đời, lòng son rờ rỡ rạng trời đất.
- “Nhất mã trảm Nhan Lương Hà Bắc anh hùng giải tán đởm/ Đơn đao hội
Lão Túc, Giang Đông hào kiệt tận hàn tâm”: Một ngựa chém Nhan Lương, bọn anh
hùng Hà Bắc đều vỡ mật/ Một đao gặp Lỗ Túc, đám hào kiệt Giang Đông thảy đứng
tim.
- “Thiết trạch vi tâm, thị Hán thất kình thiên nhất tru/ Xuân Thu đắc lực, dữ Ni
sơn bạt địa lưỡng phong”: Lòng dạ như sắt đá, với nhà Hán chống trời duy một cột/
Công lực sánh Xuân Thu, cùng núi Ni vạch đất thành hai non.
w Miếu Thiên Hậu, miếu Tổ sư nghề đá, có một số câu đối ca ngợi Tổ sư Quan
Vũ và bà Thiên Hậu:
- “Sáng bá nghệ nguyên lưu tượng tâm độc vận/ Thùy thiên thu thằng mặc sư
thị hàm tôn”: Tổ sư đã sáng tạo ra trăm nghề, là cái nguồn cho những người thợ giỏi/
Tổ sư là những người dùng bút mực, đào tạo những bậc thầy từ ngàn năm qua, chúng
ta phải biết tôn trọng.
- “Tinh công diệu đạt quy củ chí kim vô song sĩ/ Mặc thằng xảo tạo tự cổ
truyền lưu đệ nhất nhân”: Tổ sư là người làm ra tác phẩm tinh xảo, đo đạc khéo léo,
mọi việc đều rất khuôn mẫu, cho đến ngày nay không có người thứ hai/ Tổ sư là
người sử dụng dây và mực để tạo ra tác phẩm tinh xảo từ xưa nay, được xem là người
giỏi nhất được lưu truyền.
- “Diệu thủ tu thành kim bưu diện/ Tinh công xảo tạo ngọc long lâu”: Bàn tay

19.10 Page 190

▲back to top
khéo léo của tổ sư đã xây dựng ngôi điện vàng ngọc/ Việc làm tinh xảo, xây dựng
khéo léo tạo nên ngôi lầu xinh đẹp như con rồng bằng ngọc.
- “Tận nghĩa tận nhân thị ni thất kình thiên nhất trụ/ Chí cương chí đại dữ thủy
sơn bạt địa tề phong”: (Quan Vũ) là người tận nghĩa, tận nhân, người quả thật là một
cây chống trời trong một ngôi nhà gìn giữ theo đạo Khổng/ (Quan Vũ) là người bẩm
thụ được khí hạo nhiên chí đại chí cương, là người đã đưa ngọn núi dưới lòng biển
lên ngang tầm núi lớn.
- “Vạn phái hồi lan y hậu đức/ Thiên thu trứ tự tụng từ hang”: Mọi người nhớ
ơn của Thiên Hậu đã chống đỡ làn sóng dữ và nguyện noi theo cái đức của bà/ Vì vậy
cho nên mọi người cùng xây nên đền thờ để ca ngợi chiếc bè từ của bà.
6.2 Ca ngợi nơi thờ tự (Miếu (đình) Tân Lân)
- “Tân nhật khai cơ thiên cổ tráng/ Lân trình thoại khí vạn đại hưng”: Miếu
Tân Lân đã có cái ngày bắt đầu xây dựng cái nền tảng của mình và sẽ hùng tráng mãi
ngàn năm/ Miếu Tân Lân biểu hiện được bầu khí lành làm cho nơi đây được hưng
thạnh muôn thuở.
- “Lộ tiền nhật chiếu thôn trung thạnh/ Thủy liễu trường lưu ấp nội hưng”:
Con đường trước Miếu Tân Lân đón ánh mặt trời làm cho xóm làng được thịnh
vượng/ Con sông quanh miếu Tân Lân lâu dài làm cho thôn ấp được hưng thịnh.
- “Miếu tiền đại tân cựu thôn trung quy mô thiên cố/ Vũ hậu nhân mục chiêu lý
nội bồi trúc vạn niên”: Thời kỳ trước, ngôi miếu từ cho đến cũ vẫn giữ nét mẫu mực
của mình cho đến ngàn năm.
Người đời sau trong thôn xóm vẫn giữ nét tôn ti trên dưới, tất cả đều lo việc
sửa sang tôn tạo cho ngôi miếu mãi đến vạn năm.
6.3. Sụ gắn kết của cộng đồng người Hoa với Biên Hòa – Đồng Nai nói riêng,
Việt Nam nói chung (miếu Tân Lân và miếu Quan Đế):
- “Quảng dự trứ dung môn đại tiểu tam ngươn thiên cổ trọng/ Triệu nhân sùng
Việt hải hinh hương tứ quỵ vạn niên xương”: Chúng ta hết lòng khen tặng và biểu
dương cánh cửa cao thượng của nước Việt Nam, vì thế suốt trong những ngày lễ lớn

20 Pages 191-200

▲back to top

20.1 Page 191

▲back to top
nhỏ: tam ngươn trong năm được xem trong ngàn năm. Chúng ta bắt đầu lo việc tế lễ
một cách trân trọng và tỏ ra sùng bái nước Việt Nam, vì thế mà bốn mùa đều lo việc
nhang khói mong cho được hưng thịnh muôn đời.
- “Hòa bình hữu tương thành năng cách/ Đại tạo vô tư đức thị thân”: Cuộc
sống chung hòa bình với kết quả rõ ràng, thành ý đó (của cả nhóm Hoa kiều và người
dân Việt Nam) có thể đáng ghi nhớ/ Sự xây dựng to lớn mang tính cách vô tư tạo
thành cái đức to lớn làm cho hai bên được thân nhau.
- “Nhạc tấu vân hà ca cảnh phước/ Năng xung ngọc chiếu vĩnh an khương”:
Khúc nhạc hòa điệu (giữa Việt Nam và nhóm Hoa kiều) bay vút tới trời xanh, mọi
người như muốn ca tụng cái cảnh hạnh phước/ Nếu có thể được, chúng ta hãy xem
đây như là viên ngọc quý chiếu sáng làm cho chúng ta mãi mãi yên lành và khỏe
mạnh.
- “Việt quốc kiến trung từ thiên tải danh lưu vĩnh thùy bất hủ/ Biên Hòa nguyên
thắng địa vạn dân chiêm ngưỡng thế đại hình hương”: (Người Trung Quốc) đã xây
dựng nên ngôi “Trung nghĩa từ” ở Việt Nam, nhằm lưu danh mãi mãi một cách bất
hủ/ Đất Biên Hòa nguyên là một nơi thắng địa, hàng vạn người dân cùng chiêm
ngưỡng và nhang khói qua bao thế đại.
Ths Phan Đình Dũng và các cộng tác viên
(Bài viết có tham khảo thột số tư liệu tại Bảo tàng Đồng Nai)
Tìm hiểu một số lễ hội của người Hoa
Đến định cư trên vùng đất Đồng Nai, cộng đồng người Hoa ngoài việc ổn định
cuộc sống, phát triển kinh tế họ vẫn không ngừng bảo lưu đời sống sinh hoạt văn hóa
tinh thần của dân tộc mình. Với một hệ thống cơ sở tín ngưỡng đa dạng, đối tượng
thờ phong phú, những hình thức nghi lễ trong việc thờ phụng của cộng đồng người
Hoa đã góp phần tạo thêm sự đa dạng về văn hóa lễ hội của văn hóa Đồng Nai.
1. Lê vía Quan Đế
1.1. Đối tượng thờ cúng

20.2 Page 192

▲back to top
Quan Đế là tên gọi dân gian có tính chất tôn kính đối với Quan Vân Trường
(Quan Vũ, Quan Công...), một nhân vật lịch sử nổi tiếng đời Tam Quốc, người làng
Giải Lương, đất Hà Đông (Hà Đông thuộc tỉnh Sơn Tây, phía Đông sông Hoàng Hà -
Trung Quốc). Ông sinh năm 162 và mất năm 219.
Quan Đế là vị thần được người Hoa ở Đồng Nai thờ trong hai trường hợp. Thờ
trong gia đình, Quan Đế là vị thần độn mạng cho người nam gia chủ; thờ trong đền
miếu là thần phù hộ cộng đồng.
Chung quanh cuộc đời Quan Đế có những truyền thuyết về sự linh hiển đã tạo
nên một tâm lý sùng bái ông, để rồi trải qua nhiều đời trở thành một tín ngưỡng dân
gian độc đáo. Quan Đế được người Hoa tôn thờ như một bậc thánh hiền với đầy đủ
các đức tính và nhân cách cao quí: lòng dũng cảm, đức độ, trọng danh dự, thủy
chung và sự tín nghĩa tuyệt đối.
Trong gia đình người Hoa ở Đồng Nai, bàn thờ Quan Đế được bài trí bên cạnh
bàn thờ Phật Bà Quan Âm. Bài vị của ông thường được vẽ trên kiếng với hình ảnh
một ông quan mặc triều phục màu xanh thẫm, mặt đỏ sậm, có năm chòm râu màu
đen dài đến ngực. Hai bên có Quan Bình (con nuôi Quan Đế) tay cầm hộp nhỏ đựng
ấn “Hán Thọ Đình Hầu”, bên trái có Châu Xương (người hầu thân cận Quan Đế) tay
cầm bảo đao “Thanh Long”. Phía trên bài vị của ông thường viết thêm bốn chữ Hán:
“Ngũ Công Vương Phật” và được kết một dây lụa màu đỏ có một bông hoa ở giữa,
hai góc có cắm lông công.
Tại các miếu Quan Đế, vị trí điện thờ Quan Đế được bố trí ở gian trung tâm
chánh điện. Tại các cơ sở tín ngưỡng phối thờ, điện thờ Quan Đế thường được bố trí
ở gian bên phải hoặc bên trái chánh điện.
Các tượng Quan Đế thờ tại các cơ sở tín ngưỡng được làm bằng nhiều chất liệu
khác nhau nhưng đều được tạo theo các quy ước tiêu chí truyền thống: khuôn mặt đỏ
sậm, mày ngài, mắt phượng, có năm chòm râu dài màu đen, mình khoác áo màu
xanh, tướng mạo uy phong. Bài trí hai bên Quan Đế là tượng Quan Bình và Châu
Xương. Phía trước có ngựa Xích Thố và Mã Đầu tướng quân.

20.3 Page 193

▲back to top
Một năm, Quan Đế có ba ngày lễ vía (thời gian theo âm lịch): ngày 13 tháng 1,
ngày 13 tháng 5 và ngày 24 tháng 6. Lễ vía ngày 24 tháng 6 là lễ vía được tổ chức
long trọng, kéo dài trong hai ngày.
l.2 Lễ vía Quan Đế hiển thánh
Trước đây, tại các miếu thờ Quan Đế là đối tượng chính tổ chức lễ rất long
trọng. Trong đó có nghi thỉnh Quan Đế đi khắp cung đường hoặc những nhà có đăng
cầu chúc an, phước, thọ, tài... của cộng đồng người Hoa sinh sống trong khu vực.
Hiện nay, những nghi này không còn được duy trì. Lễ vía Quan Đế chỉ diễn ra trong
phạm vi cơ sở tín ngưỡng.
Lễ được chuẩn bị trước nhiều ngày. Mọi công tác chuẩn bị từ các khâu lễ phải
hoàn thành trước trưa ngày 23 tháng 6. Bắt đầu từ đêm 23, thực hiện nghi cầu an. Tất
cả những lễ vật được thông đăng trên các bàn thờ trong miếu. Lễ vật có thể là heo, vịt
nhưng phải cử gà (con gà được xem là ân nhân cứu mạng của Quan Đế. Khi bị quân
giặc truy đuổi ông đã dùng huyết gà hóa trang khuôn mặt để không ai nhận ra). Đặc
biệt, trong lễ vật dâng Quan Đế có bộ áo, mũ, hài bằng hàng mã.
Lực lượng thầy cúng đảm nhiệm những nghi hành lễ tại miếu. Nghi cầu an cho
cộng đồng được tiến hành trước, sau đó mới đến nghi cầu an cho những gia chủ. Tất
cả các nghi đều thực hiện việc trình tấu lúc ban đầu và hỏa sớ khi kết thúc.
Ngày 24 tháng 6 bắt đầu lễ nghi khai quan điểm nhãn tượng Quan Đế. Ban Tổ
chức cử những người lớn tuổi, có uy tín, đạo đức thực hiện các nghi dâng hương
đăng, hoa quả và lễ vật. Sau đó, thầy cúng tấu sớ trình và tụng niệm kinh, chú khấn
những nội dung cầu an. Tiếp theo, những người tham dự có lòng thành, tâm nguyện
vào diện trước bàn thờ Quan Đế trình lễ, nêu sở cầu của bản thân.
Tại một số cơ sở, sau các phần nghi cúng có tổ chức đấu giá đèn hoặc cho bá
tánh cung thỉnh. Tùy mỗi cơ sở tín ngưỡng mà quy định số loại đèn lồng. Thông
thường, có 9 đèn lồng được đem ra đấu. Trước khi đấu, các đèn đều được các thầy
cúng làm phép, khai quang điểm nhãn để chứng sự thiêng ứng của Quan Đế. Những
đèn lồng đấu thường được đặt những thành ngữ có nội dung chúc phúc, lộc cho con
người. Một số tên được dùng cho đèn lồng đấu ứng với thứ tự như sau:

20.4 Page 194

▲back to top
- Nhát mã hội tề
- Tài phước thịnh vượng
- Phước lộc thọ toàn
- Tứ quí hưng thịnh
- Ngũ phúc lâm môn
- Lục mã phù trì
- Thất tình cao chiếu
- Bát tiên gia khánh
- Cửu long hiến thoại (hiến châu)
Những người theo sở cầu đấu thắng được đem về thờ. Nguồn kinh phí thu từ
đấu đèn được Ban Tổ chức chi cho lễ hội và các hoạt động cơ sở hay đóng góp vào
các công việc phúc lợi, cứu trợ cho cộng đồng. Nhiều nơi, nguồn kinh phí được dùng
trong việc phát tế cho người nghèo trong lễ hội.
Người Hoa suy tôn Quan Đế là bậc thánh hiền với những đức tính và nhân
cách cao quý. Ở Quan Đế, người Hoa học nhận về đức tính nhân nghĩa, khí tiết cao
trường, tín dũng vẹn toàn... Hình tượng Quan Đế được người Hoa xem là chuẩn mực
về nhân cách sống của một con người tài đức vẹn toàn, ân nghĩa phân minh để các thế
hệ noi theo. Thờ cúng và giữ lòng thành đến với lễ vía Quan Đế là một biểu hiện tình
cảm thiêng liêng của người Hoa nói riêng và mọi người đối với bậc minh quân, thánh
hiền.
2. Lễ vía Bà Thiên Hậu
2.l. Đối tượng thờ cúng
Bà Thiên Hậu được dùng với nhiều mỹ từ tôn kính như: Thiên Hậu Thánh
Mẫu, Thiên Hậu nương nương là đối tượng giàu thần tích và linh ứng trong tín
ngưỡng người Hoa. Truyền tụng, Bà Thiên Hậu có tên là Lâm Mặc, sinh ngày 23
tháng 3 (âm lịch) năm 960, tại huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc (đời nhà
Tống). Khi bà được sinh ra có đám mây ngũ sắc và hương thơm bao phủ khắp nhà.

20.5 Page 195

▲back to top
Từ khi còn nhỏ, Lâm Mặc đã có tài tiên đoán rất chính xác về thời tiết, giúp cho ngư
dân trong vùng tránh được nhiều tai ương trên nghề đi biển. Một hôm, Lâm Mặc
đang ngồi dệt lụa cùng với mẹ ở nhà, bỗng nhiên mắt nhắm nghiền lại, hai tay đưa ra
trước như cố níu kéo một vật gì. Một lát sau khi mở mắt ra, Lâm Mặc ứa nước mắt
nói với mẹ rằng cha và hai anh đang gặp nạn ngoài biển nhưng bà không cứu được
cha. Quả nhiên, mấy ngày sau, hai người anh sống sót trở về, còn người cha thì bặt
âm vô tín sau cơn bão biển.
Bà mất ngày 19 tháng 2 (âm lịch) năm 987. Sau khi mất, bà rất hiển linh.
Người dân đi biển truyền kể thường gặp bà khoác bộ y phục màu nâu, bay lượn trên
biển để cứu những thuyền bè lâm nạn. Bà cũng từng hiển hiện cứu được những đoàn
chiến thuyền và sứ thuyền của các hoàng đế Trung Hoa khi gặp nạn. Vì vậy, các đời
hoàng đế Trung Hoa đã phong tặng Bà nhiều danh hiệu cao quý. Đời nhà Nguyên, bà
được sắc phong là Thiên Phi nương nương; đến năm 1682, vua Khang Hy (nhà
Thanh) gia phong bà làm Thiên Hậu Thánh Mẫu, tôn thờ như bậc hiển thánh.
Tại Đồng Nai, Bà Thiên hậu được thờ chính và tùng tự trong nhiều cơ sở tín
ngưỡng của người Hoa. Tượng Bà Thiên Hậu được tạo hình từ nhiều chất liệu (13), tư
thế ngồi, nét mặt phúc hậu, lỗ tai có đeo bông lấp lánh. Tượng được khoác áo choàng
màu đỏ thêu kim tuyến, hoặc đính kim sa hình rồng phụng, đầu đội mão Cửu Long
có thêu hoa trang trí nhũ vàng và rèm châu rủ xuống trước trán, hai bên mão có hai
tua dài màu vàng rủ xuống qua vai.
2.2. Lễ vía ngày sanh Thiên Hậu
Ngày 23 tháng 3 (âm lịch) hàng năm là ngày vía chính của Bà Thiên hậu. Lễ
vía Bà Thiên Hậu thường chỉ diễn ra trong một ngày.
Trước ngày 23, tại bàn thờ bà được dọn dẹp sạch sẽ và được thông hương,
đăng, hoa quả. Các loại hoa chưng thường là hoa huệ, hoa cúc trắng, hoa cúc vạn thọ.
Vào ngày cúng chính, người ta dâng lễ vật cho bà. Lễ vật cúng thường là heo
quay được đặt nằm úp xuống mâm, 4 chân choãi ra hai bên, đầu quay về phía điện
13 Tượng gỗ tại Thiên Hậu tự (phường Hòa Bình), tượng gốm tại Thiên Hậu cổ miếu (phường Bửu Long), Biên Hòa.

20.6 Page 196

▲back to top
thờ, hai lỗ tai cắm hai bông giấy đỏ gà luộc chín cắm bông giấy đỏ (nếu không có đủ
con heo thì chỉ tượng trưng thủ vĩ / đầu heo). Ngày xưa lễ vía Bà Thiên Hậu thường
phải cúng đủ “tam sanh gồm heo, gà, dê làm thịt để sống. Nay tục lệ cũng như vật
dâng cúng bà được giản lược hơn (14).
Khoảng 8 giờ nghi thức cúng lễ bắt đầu. Ba người trong Ban Trị sự cơ sở tín
ngưỡng được cử làm Chánh tế.(15) Họ mặc áo dài thụng, đầu đội nón bánh tiêu, mỗi
người cầm 3 cây nhang lớn khấn niệm trước bàn thờ Thiên Hậu và các bàn thờ phối
tự. Nội dung khấn niệm hàm ý ca ngợi công đức của Bà Thiên Hậu và cầu bà gia ân
độ trì, cứu giúp tất cả mọi người.
Những người tham gia vào lễ vía cầm 1 cây nhang nhỏ khấn vái theo các vị
Chánh tế. Sau khi dâng 3 tuần trà và 3 tuần rượu, một Chánh tế thâu nhang các người
dự lễ đem cắm vào các bàn thờ Thiên hậu.
Tại Thiên Hậu cổ miếu (phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa), vào ngày vía
sanh Thiên Hậu, có mời thầy cúng chủ trì buổi lễ. Trước đây, còn có tục đốt pháo
mừng, dâng bộ xiêm mão (tượng trưng bằng giấy với kích cỡ lớn) cho bà.
Sau khi khai lễ xong, một hồi chuông trống được gióng lên. Đây là thời điểm
bắt đầu cho mọi người đến vía bà. Những người dâng lễ vật, cúng viếng Bà Thiên
Hậu rất đông. Từng cá nhân hay tập thể dâng lễ vật cho bà. Lễ vật dâng cúng không
có những âm định cụ thể mà tuỳ thuộc ở tấm lòng và điều kiện người đến cúng nhưng
phải có nhang đèn, tiền mã vàng bạc là không thể thiếu. Khi dâng lễ, người cúng thể
hiện lời cầu khấn của mình.
Lễ vật sau khi cúng, thân chủ giữ một phần đem về nhà với quan niệm để
“hưởng lộc thánh”. Trong khi cúng lễ, thân chủ có thể mua ngay tại miếu những
“vòng nhang cầu an” lớn. Tên của thân chủ được ghi trên tấm giấy đỏ đính kèm vòng
nhang, treo đốt bên tại miếu thờ.
Những người tham dự lễ vía bà thường thỉnh nhận các tấm giấy đỏ đóng triện
14 Lễ vật cúng Bà Thiên Hậu ngày 23/3 (âl) tại miếu Quan Đế (chùa Ông) xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch là đồ
chay, hình thức để giảm bớt thủ tục và chi phí cho lễ cúng.
15 Tại thiên Hậu cổ miếu phường Bửu Long, trước đây nghi thức lễ vía Bà Thiên Hậu thường do thấy cúng chính được
mời từ TP. Hồ Chí Minh về hành lễ. Hiện nay, ngày 23/3 (âl), nghi lễ do Ban Trị sự miếu làm chánh tế.

20.7 Page 197

▲back to top
son, nội dung chữ Hán: “Thánh Mẫu tọa trấn”, “Hợp gia bình an”, “Bảo hộ an
khang” với quan niệm “rước vía bà” về thờ tại nhà.
Sau các nghi cúng bà, tại miếu bắt đầu hội đấu giá đèn lồng. Số lượng thường
có 9 đèn lồng (người Hoa quan niệm số 9 là con số tốt). Thầy cúng cầm từng đèn
lồng thực hiện nghi thức cúng. Sau đó, từng đến được đặt tên, xướng lên câu thành
ngữ mang ý nghĩa theo số thứ tự để mọi người đấu theo sở cầu. Hội đấu đèn diễn ra
rất sôi nổi và hào hứng, cuốn hút nhiều người tham gia. Số tiền đấu giá đèn lồng
được Ban quản lý dùng vào công việc hoạt động miếu và các công tác xã hội.
2.3 Lễ cúng chay Bà Thiên Hậu
Lễ hội diễn ra tại cơ sở tín ngưỡng Thiên Hậu cổ miếu/ Miếu Tổ sư, phường
Bửu Long thành phố Biên Hòa. Đáo lệ 3 năm, lễ hội được tổ chức một lần; thời gian
kéo dài 4 ngày từ ngày 10 dấn 13 tháng 6 (âm lịch). Đây là lễ hội có tính chất đa hợp:
vía Bà Thiên Hậu, cúng Tổ nghề với mục đích cầu an, cầu siêu. Trong lễ cúng cầu
siêu do các pháp sư khoa nghi Đạo giáo cùng với giàn nhạc lễ chuyên trách thực hiện
một hệ thống tiết mục, nghi lễ độc đáo.
Ø Công tác chuẩn bị và cách bài trí khu vực hành lễ
Đây là một lễ hội lớn, cho nên công tác chuẩn .bị rất quan trọng. Vào năm định
kỳ, ngay từ lễ vía sanh Bà Thiên Hậu (23 tháng 3 âm lịch), Ban Quản trị miếu thông
báo tổ chức lễ và phân công những bộ phận phụ trách các phần việc liên quan.
Ban tổ chức được bầu và thực hiện ngay việc đăng ký danh sách những người
tham gia đóng góp kinh phí tổ chức lễ hội. Những người đăng ký có thể góp tiền
trước hoặc đăng ứng. Tất cả nguồn kinh phí được tổng kết trước ngày bắt đầu lễ (l0/3
- âm lịch). Mức đóng góp có tính chất tự nguyện, tùy điều kiện người đăng ký. Người
Hoa quan niệm càng bỏ nhiều tiền vào lễ làm chay, càng được nhiều phúc của bà và
các thần nên có nhiều người tham gia góp phần. Mức chi phí cho lễ hội rất cao, lên
tới hàng trăm triệu đồng.
Trước ngày lễ tiến hành, những bài trí trong khu vực hành lễ phải được hoàn
tất. Khắp nơi, từ trong miếu đến ngoài cổng nhiều đèn lồng, hoa kết, cờ lễ được treo
lên tạo một cảnh quan nhiều màu sắc độc đáo. Tại sân miếu, một cây phướng (phướn)

20.8 Page 198

▲back to top
được dựng lên. Cây phướng gồm ba cây tre cao thẳng (trên 10m), dựng thành một
hàng, ngọn hướng thẳng lên trời. Giữa ba cây tre có chín thanh ngang nối nhau vừa
giữ cho chúng đứng vững vừa tạo hình như một chiếc thang bắc lên cao.
Trên cây phướng treo 52 ngọn đèn lồng màu trắng, chữ Hán màu đỏ (mỗi đèn
có một chữ), treo thành 5 dây song song với nhau tượng trưng cho năm bậc thần
thánh, Tổ nghề được thờ trong miếu. Dây đèn lồng ở giữa treo cao hơn và dài nhất
(gồm 20 đèn), phía trên có biểu tượng cờ lệnh và mão, chữ đề “Cung chúc Ngũ Đăng
Tiên sư bửu đán”. Bốn dây còn lại đối xứng hai bên (mỗi dây 8 đèn) với các dòng
chữ “Quốc Trì Tiên sư”. “Lỗ Ban Tiên sư”, “Thiên - Hậu Thánh Mẫu” và “Quan
Thánh Đế quân”. Cây phướng là điểm báo cho các vị thần linh, Tổ nghề chứng giám
lễ cầu an cầu siêu.
Dưới cây phướng có bàn hương án. Đối diện bên phải có lều bày hương án và
hình nộm ông Tiêu phết màu sắc rực rỡ. ông Tiêu với hình dáng cao to, đầu đội mão,
hai tay cầm thẻ bài, cờ lệnh, mắt quắc uy nghi, lưỡi thè ra. Ông Tiêu được quan niệm
là một biến thể của Quan Âm để chiêu tập tất cả các loại cô hồn. Hai bên Ông Tiêu là
các hình nhân Thổ địa, Tướng quân và Thủy quân có chức năng hộ vệ .
Trong sân còn có dựng đàn có rạp che chắn bốn bên. Đây chính là đàn chay,
nơi các đạo sĩ thực hiện các nghi cúng tế. Trong rạp được trang trí bàn thờ, tranh ảnh,
cờ trướng, liễn đối, nhang đèn, hương hoa... như một điện thờ. Phía trên là bức tranh
vẽ Tam Thánh gồm: Thái Thượng Lão quân, Thông Thiên Giáo chủ và Hải Triều
Thánh nhân (những vị được xem là Giáo chủ của Đạo giáo do Lão Tử sáng lập). Phía
dưới Tam Thánh là một điện thờ phủ vải đỏ, nơi đặt các bài vị các vị Tổ, bài vị thỉnh
từ các miếu chùa và bài vị của trăm họ được thỉnh dự lễ. Dưới điện thờ là bàn hương
án và các đồ tế khí của đạo sĩ dùng cúng lễ. Hai bên rạp dán các bức mô tả Thập
Điện Diêm vương (l0 cửa ngực âm phủ). Bên cạnh, còn có lều che, bày bàn hương án
có hình nộm tượng Phán quan và các vị lính hầu đội mũ chóp nhọn màu vàng, xử án
ở địa phủ.
Trước cửa chùa, hai hình nộm quan Văn và quan Võ uy phong trấn giữ Thánh
môn. Trong chùa, cảnh trang trí với màu đỏ chủ đạo với hàng trăm đèn lồng treo

20.9 Page 199

▲back to top
khắp xà cột. Các bàn thờ, đồ cúng, kiệu rước, giá biểu, bài vị, đồ bát bửu sắp xếp
ngăn nắp. Tất cả trong tư thế sẵn sàng cho việc lễ khi tiến hành.
Ø Nội dung các nghi thức chính lễ hội
Ngày thứ nhất tổ chức lễ thỉnh sắc Bà Thiên Hậu. Lễ được bắt đầu vào giờ tốt
trong buổi sáng với chuông trống gióng lên báo hiệu.
Vị đạo sĩ chủ tế mặc áo choàng đỏ tay cầm nhạc khí vừa gõ vừa tụng kinh Thái
Thượng Lão quân mời Bà Thiên Hậu và các thần thánh cho phép, chứng giám lễ làm
chay. Những người được phân công phụ tế, giúp lễ mặc áo dài gấm, đội nón bánh
tiêu có lưỡi trai cầm nhang cung kính vái lạy theo đạo sĩ. Sau khi khấn đạo sĩ cầm
xấp kim phong bảng màu đỏ tụng kinh xin keo đi thỉnh sắc bà. (Kim phong bảng là
danh sách tên những người đóng góp kinh phí tổ chức lễ). Những người được chọn
hành lễ vía bà theo tiêu chí tuổi hợp, đạo đức, đóng góp công, của... mặc áo dài có
băng vải đỏ bắt chéo qua được phép phục vụ bà từ lúc khởi lễ cho đến chung cuộc.
Tham dự trong thành phần này là một niềm vinh dự cho nhiều người.
Khi xin keo được, một người đi thâu nhang thưng lên bàn thờ Tổ, một người
châm rượu và đốt giấy mã vàng bạc tạ ơn. Bài vị Tổ sư, Thiên Hậu Thánh Mẫu và
Quan Thánh Đế quân được rước ra kiệu. Kiệu bà được chạm khắc sắc sảo có hai tầng,
sơn đen thếp vàng và trang trí các dây băng đỏ rực rỡ. Trên kiệu, đặt bát nhang lớn và
hoa tươi, trái cây để thỉnh bài vị. Trước khi khởi kiệu, các đội lân, rồng múa nghinh
sân lễ và kiệu bà.
Đoàn rước thỉnh theo lộ trình từ Miếu Thiên Hậu đến miếu Cây Quăn (nơi thờ bà
trước đây - cách khoảng 1 km). Đi đầu là các đội lân rồng và đoàn người mang cờ
hội, cờ trướng, dàn nhạc ngũ âm. Tiếp sau là bàn hương án do 4 người khiêng, những
người cầm bát bửu(16) và 7 cặp biển bài vị “Tiêu Chinh”, “Quỳ Bí”, “Thiên Hậu
Nguyên quân”, “Lỗ Ban Tiên sư”, “Quốc Trì Cung”, “Ngũ Đinh Tiên sư” và “Hiệp
Thiên Thượng đế” (tức Quan Thánh Đế quân). Theo sau là đoàn 4 người hóa trang
thầy trò Tam Tạng thỉnh kinh rồi đến vị đạo sĩ chánh tế. Sau vị chánh tế là cặp lọng
16 Bát bửu là 8 món đồ khí tế trong chùa bằng đồng là: đàn, sáo, lẵng hoa, sách kiếm, bầu rượu, túi thơ, quạt vốn là đồ
dùng của các tầng lớp quý tộc trong các triều đình phong kiến xưa.

20.10 Page 200

▲back to top
đỏ kiệu bà, kiệu được khiêng cẩn trọng. Tiếp sau kiệu bà là đoàn người nhiều thành
phần đông đảo theo lễ rước.
Tại miếu Cây Quăn, khi xin keo thỉnh sắc xong, đoàn rước trở ra đi vào đến
thỉnh bài vị Tiên Cô nương nương (miếu Bà Thánh trong khu du lịch Bửu Long), bài
vị Thổ công (tại miếu thờ cổng khu du lịch) rồi trở về miếu. Tại các điểm thỉnh sắc,
Đạo sĩ chánh tế chủ trì và Ban tế tự thực hiện các nghi cúng trong khi đoàn rước chờ
bên ngoài.
Trên lộ trình đoàn rước đi qua, nhiều gia đình sắp sẵn lễ vật cúng nghênh đón
bà, sau đó hòa vào đoàn rước về miếu. Tất cả các bài vị thỉnh rước được đặt lên tầng
cao nhất của điện thờ. Sau đó vị chánh tế và thành viên Ban Tổ chức thực hiện việc
thỉnh bà từ Thiên Hậu cung (một cơ sở thờ Thiên Hậu của người Hoa bang Sùng
Chính, phường Hòa Bình, Biên Hòa) về miếu.
Sau khi cung thỉnh sắc hoàn tất, trước sân miếu, các đội võ thuật biểu diễn các
trò hội như múa đao, múa võ... tạo nên không khí vui nhộn. Sau đó, miếu bắt đầu đón
khách đến lễ bà. Số người tham dự viếng bà Thiên Hậu trong ngày đầu lễ rất đông
đảo.
Chiều tối, bắt đầu lễ khai đàn, khai quang điểm nhãn các tượng thờ và các đồ
vật cúng trong chùa. Lễ khai đàn do vị đạo sĩ chủ tế (17), và 6 phụ tế thực hiện tại đàn
chạy. Mỗi người cầm một nhạc khí như: trống, chập chõa, phèng la, kèn, mõ... phụ
họa theo lời tụng của chủ tế. Vị chủ tế cầm kim phong bảng và 3 cây nhang vừa tụng
kinh vừa làm phép nhiều lần. Sau hai tuần dâng rượu, vị chủ tế đốt giấy mã vàng bạc
và dùng đồ binh khí (18) nhúng vào chén rượu (trong có lá bưởi) để trấn đàn. Sau đó,
chủ tế dẫn đoàn người đi khắp khu vực hành lễ để thực hiện nghi tẩy uế và trở về đàn
chay làm phép cuối, đốt sớ.
Tại các bàn hương án, vị chủ tế và hai phụ tế (một người gõ trắng, một người đánh
chập chõa) tụng kinh bắt đầu nghi thức khai quang điểm nhãn. Chủ tế cầm con gà
17 Đạo sĩ làm chủ tế lúc này bận áo choàng thụng màu đỏ kim sa óng ánh, phía sau có hình âm dương bát quái, đấu đội
mão có chóp cao hình hoa sen.
18 Binh khí: con dao găm xung quanh có vòng sắt dùng để vẩy nước trừ tà.

21 Pages 201-210

▲back to top

21.1 Page 201

▲back to top
trống còn sống (19) nhấc lên cao, đầu gà chúc xuống trước bàn hương án, dùng móng
tay cấu vào mồng gà cho máu nhỏ vào chén rượu (hòa lẫn với thần sa có vài lá bưởi).
Vị chủ tế cầm cây cọ tàu cán dài nhúng vào chén rượu chấm các đồ vật, các tượng
trong khu vực hành lễ. Một đạo sĩ phụ tế cầm một cây nhang dài chấm vào các vị trí,
các đồ vật được chủ tế điểm nhãn. Sau khi khai quang điểm nhãn, vị chủ tế trở về bàn
hương án điểm nhãn và đốt ba con ngựa giấy (trên lưng có ba vị tướng quân mặc áo
màu vàng, đỏ và xanh) đại diện thiên binh, sứ giả mời các thần linh về dự lễ bà. Tại
đàn chay, các đạo sĩ tiến hành đọc kinh.
Ngày thứ hai tổ chức khai kinh cầu an(20). Từ sáng sớm, một bộ phận giúp lễ
và đội lân các gia đình rước các lễ vật cúng (mâm lễ, tháp giấy, bánh...) các gia đình
tham gia cúng về miếu. Chọn giờ tốt, vị chủ tế bắt đầu khai kinh cầu an tại đàn chay
và các bàn hương án dưới cây phướng, bàn thờ Ông Tiêu. Sau mỗi đoạn kinh, chủ tế
và cộng đoàn tham dự cầm nhang vái tạ và đốt giấy mã vàng bạc. Tiếp đến, đoàn
cúng lễ đến hương án ông Phán Quan tụng kinh Quan âm, Địa Tạng kinh và Văn
Sinh kinh để cầu siêu cho cô hồn. Chủ tế và cộng đoàn đến cúng tại các bàn thờ trong
miếu và sau đó trở lại đàn chay. Các đạo sĩ tiếp tục đọc kinh cầu an. Lúc này, những
người tham dự cầm bông huệ cung kính chầu nghinh cho đến khi đốt giấy mã, thắp
nhang kết thúc.
Chiều tối, các đạo sĩ nhập đàn, tụng các kinh Thái Thượng Lão quân, Thái
Nguyệt kinh, tiếp tục làm phép trấn đàn, tẩy uế. Từ đàn chay, các vị đạo sĩ đến bàn
hương án trước miếu làm lễ Ngũ môn chắc tướng. Sau một tuần trà, tuần rượu, các vị
đạo sĩ thay nhau làm nghi dâng sớ, múa cờ lệnh, tụng kinh, đăng hương. Tuần tự, các
vị thứ nhất (tượng trưng cho hành Mộc) cầm sớ và cờ lệnh màu xanh, vị thứ hai
(tượng trưng cho hành Hỏa), cầm sớ và cờ lệnh màu đỏ, vị thứ ba (tượng trưng cho
hành Kim) cầm sớ, cờ lệnh màu trắng, vị thứ tư (tượng trưng cho hành Thủy) cầm cờ
lệnh màu xanh dương, vị đạo sĩ chủ tế (tượng trưng cho hành Thổ) cầm kiếm lệnh và
cờ lệnh màu vàng thực hiện nghi đăng.
19 Gà trống to khoẻ, mào lớn, đỏ biểu hiện sự sung mãn và tốt lành.
20 Các loại kinh cầu an, cầu phúc, cầu nghề nghiệp thuận lợi… như kinh Tái Thượn Lão quân, Thái Nguyệt kinh, Quan
Âm kinh. Các loại kinh cầu siêu như Văn Sinh kinh, Địa Tạng kinh, Quan Âm kinh.

21.2 Page 202

▲back to top
Vị chủ tế tiếp tục làm nghi tẩy uế trước 4 con ngựa (có 4 vị tướng quân), múa
điệu bắt ấn, tụng kinh và đốt giấy mã. Một người rót lần lượt ba chung rượu lên 4 con
ngựa và bốn đạo sĩ làm động tác cưỡi ngựa đi vòng quanh bàn hương án 4 vòng theo
chiều ngược kim đồng hồ. Lần lượt, mỗi đạo sĩ cầm sớ tụng kinh và kết thúc vị chủ
tế dâng sớ báo với các thần thánh. Sau cùng, 4 đạo sĩ cầm 4 con ngựa đi theo chiều
kim đồng hồ vòng quanh bàn hương án 4 vòng ra cổng chùa hỏa mã.
Buổi chiều, tại các bàn hương án, bàn thờ và các vị trí quan trọng trong khu
vực hành lễ được các đạo sĩ tiếp tục đọc kinh cầu an cầu siêu. Buổi tối, các đạo sĩ đọc
kinh cầu an tại đàn chay lần thứ ba.
Ngày thứ ba là chính lễ với nhiều nghi thức lễ hội như khai Kim phong bảng,
đấu giá đèn lồng, phóng đăng, phóng sanh, hát bội, bắc cầu bà, lập đàn chay, cúng
thí...
Buổi sáng, các đạo sĩ thay phiên nhau tụng kinh cầu an khắp các nơi hành lễ.
Khu vực sân lễ, các đội lân múa hòa vào với dàn nhạc ngũ âm tạo nên một không khí
náo nhiệt, cuốn hút nhiều người.
Ngay từ ngày đầu khai lễ, Kim phong bảng được xếp lại thành 3 xấp (tượng
trưng cho phúc-lộc-thọ) luôn để trên khay trong các lễ cúng. Vào nghi khai mở (có
hàm ý cầu cho những người đậu tiền phụng cúng được phúc lộc thọ) đạo sĩ chủ tế
thắp ba cây nhang trường tụng kinh, và dán Kim phong bảng lên tường và tiến hành
nghi thức tẩy uế khai quang điểm nhãn. Sau đó vị chủ tế xướng tên và tụng kinh cầu
phúc cho những người trong Kim phong bảng. Kết thúc, những người trên dâng
nhang bái tạ ơn Thiên Hậu.
Sau lễ khai Kim phong bảng, tại miếu tổ chức hội đấu đèn lồng. Số lượng đấu
là chín đèn. Khi đấu, thầy cúng đọc những câu thành ngữ tương ứng với thứ tự đèn.
Bất kỳ ai thấy hợp với sở cầu thì đấu giá. Thông thường, đèn đầu tiên và cuối cùng
được nhiều người đấu giá cao. Mỗi đèn có khi giá đấu lên hàng chục triệu đồng.
Không khí đấu đèn rất sôi nổi, hào hứng. Những người tham gia hội vỗ tay, cổ
vũ nồng nhiệt mỗi khi giá đèn được nâng lên cao trong tiếng trống hội dồn dập. Ai

21.3 Page 203

▲back to top
đấu thắng thì chiếc đèn ngay lập tức được ghi tên chủ nhân. Tục đấu đèn lồng là một
trong những nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng trong tín ngưỡng của cộng đồng người
Hoa.
Tại Thiên Hậu cổ miếu, (kể từ lễ chay năm 1995 cho đến nay, Ban tổ chức
không còn tổ chức tục đấu đèn) vào hội chay, miếu sắm nhiều loại đèn lồng, cờ,
trướng treo sẵn. Sau lễ khai quang điểm nhãn thì mọi người đều có thể thỉnh tùy theo
mỗi loại. Hình thức này được mọi người tham dự lễ hưởng ứng đông đảo vì ai cũng
có khả năng “rước lộc” bà.
Buổi chiều, vào nghi xin keo tổ chức phóng đăng, phóng sanh cầu siêu cho
thập loại cô hồn. Vị pháp sư chính(21) (mặc áo choàng màu vàng, đội mão giống Địa
Tạng, có hai tua dài thả phía trước) tụng kinh, thắp nhang xin phép thần thánh khởi
hành đoàn rước kiệu đến bến sông tổ chức. Kiệu bà được trang trí rất nhiều dây băng
đỏ, hai bông vải tròn lớn, hai lọng đỏ, hai ngọn thủy đăng, hai đèn lồng trắng. Khi
khởi kiệu, đội lân múa chào khắp sân lễ. Đoàn rước gồm toán người cầm cờ lễ, đội
nhạc trống, bàn hương án, những người cầm bát bửu, pháp sư và 4 vị phụ tế (mặc áo
màu đỏ), đoàn kiệu bà và những người tham dự. Lộ trình của đoàn rước từ miếu tới
bến sông Tân Thành(22) (thuộc khu phố 3, phường Bưu Long Biên Hòa) - địa điểm
phóng đăng, phóng sanh.
Tại bến sông, bày một đàn chay, trên có hương án đầy đủ nhang, đèn cầy, bông cúc,
bông huệ tươi, trái cây, 3 chung rượu. Khi kiệu bà đến, người ta thỉnh bát nhang, các
bài vị đặt lên đàn. Trước đàn là một sân giấy mã và 360 bộ giấy áo trải tới bến sông.
Xen kẽ cắm những nén nhang, đặt 18 chén đồ chay cúng cô hồn (gồm 5 món: bún
gạo, tàu hũ, củ cải muối, đậu que xào đậu trắng - đây là 5 món bắt buộc) và một số
món chạy khác. Trước bàn hương án người ta đặt một con ngựa giấy màu vàng(23),
đèn hoa, chim cá để phóng sanh. Pháp sư thượng đàn, tung nắm nhang thẻ đang cháy
21 Pháp sư: cácjh gọi theo phân cấp của Phật giáo (từ sư phụ à Pháp sư à đại sư).
22 Bến sông Tân Thành còn gọi là địa điểm “99 cây tùng”, tương truyền hơn 300 năm trước khi một bộ phận người Hẹ
từ Cù Lao Phố ngược sông Đồng Nai đến lập nghiệp tại Bửu Long, rất nhiều người đã bỏ mạng tại vùng sông nước này.
Vì vậy, nơi đây được chọn làm địa điểm phóng đăng cầu siêu cho những cô hồn chết vì sông nước trong lễ hội làm
chay.
23 Ngựia giấy màu vàng tượng trưng cho sứ giả của thủy long(cõi âm), màu vàng và màu trăng tượng trưng cho sự tang
tóc, có ý nghĩa cúng tế cô hồn.

21.4 Page 204

▲back to top
khai hỏa bãi giấy mã, tụng kinh cầu siêu. Lễ phóng đăng đầu khi pháp sư niệm chú.
Ba mươi sáu chiếc đèn hoa được thả sông. Tiếp theo, pháp sư khai lễ phóng sanh,(24)
người trên bờ thả chim se sẻ, người xuống bến sông thả cá trê, cá lóc.
Khi bãi giấy cháy gần hết, người ta đốt con ngựa giấy. Vị pháp sư niệm chú,
tung gạo và bông cúng xuống đàn. Lúc này có nhiều người tranh nhau đồ vật cúng thí
với quan niệm những thứ này đã được bà chứng, phù hộ. Từ trên đàn, pháp sư rung
chuông kết thúc lễ và đoàn rước trở về miếu.
Buổi tối, bắt đầu nghi thức lập giàn chay và lễ bắc cầu cho bà. Người ta trải tấm vải
đỏ rộng, dài từ bàn hương án đàn chay vào tới điện thờ chính trong miếu. Các vị đạo
sĩ cầu kinh, những người phụ tế rắc đều bông vạn thọ, cánh bông huệ kín mặt cầu.
Bài vị trăm họ (còn được gọi là “Phúc lộc đình”) được thỉnh từ trên đàn chính đến
trước bàn hương án đàn chay để cầu phúc. Phúc lộc đình là thùng gỗ tròn, vừa được
sơn đỏ bên trong chứa gạo, trên cắm bài vị “Bản mạng nguyên thần”, ba mặt phất
giấy kiếng trắng, mái hình chóp. Bên cạnh, có bộ tam khí gồm: cây kiếm lệnh, cây
thước mộc và một chiếc gương tròn(25). Bàn hương án bày đủ các bộ lễ cúng từ cặp
đèn cầy lớn, cây đèn dầu Thất tinh bằng đồng, bình bông, mâm trái cây, lư nhang, ba
chung trà, ba chung rượu và Phúc lộc đình.
Sau 3 giờ tụng niệm, dâng ba tuần trà, ba tuần rượu, tẩy uế Phúc lộc đình, vị
đạo sĩ hành lễ nghi bắc cầu. Hai người lớn tuổi thắp bảy ngọn đèn trên cây Phúc lộc
đình. Mỗi người đứng một bên cầu thỉnh Phúc lộc đình vào trong điện thờ chính một
cách cẩn trọng, không cho ngọn đèn nào bị tắt (26). Việc rước Phúc lộc đình có ý
nghĩa rước phúc lộc đến với trăm họ. Sau khi Phúc lộc đình đi qua, hai người đi sau
từ từ cuốn cầu lại. Lúc này, người tham dự tranh nhau bông tươi rắc trên với ý niệm
hưởng lộc bà. Phúc lộc đình và vải cầu cuốn đặt trên điện thờ Tổ (đúng một tháng
24 Tục phóng sanh được sử dụng như một truyền thống trong lễ nghi Phật giáo (lễ Vu Lan, Têt, Sóc, Vọng…)
25 Cây thước mộc có chiếc gương tròn nhỏ trong lễ bắc cầu giải oan cho người chết đuối của người Việt gọi là Kim tích
trượng là cây gậy tượng trưng cho dấu hiệu của đức Địa Tạng vương Bồ tát, chiếc gương như vòng hào quang của chư
Phật. Đức Địa Tạng vương dùng Kim tích trượng làm rung động hoàng tuyền, bẻ rơi khóa ngục và ngăn cản mọi sự khổ
não. Tua vải tốt múi hình Phật ấn ở đầu Kim tích trượng giúp cho vong linh nạn nhân đi tới được đất Phật.
26 Những người già xưa truyền lại, ngày xưa một lần làm chay khi thỉnh Phúc lộc đình đón BÀ về, một trong bảy ngọn
đèn cầy đã tắt, tức thì trong làg bị nạn dịch làm chết rất nhiều người. Một tháng sau bà lên đồng yêu cầu phải làm chay
lại, bện một con rồng bằng rơm thắp nhang xung quanh rước đi khắp làng. Lúc đó một người lên đồng xưng là bà dùng
dao phát mía chọn điểm yếm khí gây dịch bệnh phóng vào cắm thẳng xuống đất trừ tà, lạ thay, cả đám đông người đi
theo đoàn rước nhưng không trúng bất kỳ ai. Quả nhiên, sau đó bệnh dịch trong làng không còn nữa.

21.5 Page 205

▲back to top
sau mới mở ra, lúc đó gạo và bông được phong vào những bao giấy đỏ để bá tánh
đến thỉnh lộc). Người thỉnh đem trộn với gạo ở nhà nấu cơm ăn, bông thì pha cùng
trà uống với quan niệm như thế sẽ được phúc của bà. Từ 2 giờ sáng ngày thứ tư, bắt
đầu khai lễ cúng thí, xô giàn. Một bàn hương án bày trước đàn chay. Trên có hai đài
cắm đèn cầy một bình bông, ba chung trà, ba chung rượu, một dĩa gạo, một dĩa muối,
một dĩa tàu hũ ki. Đặc biệt, có ba tháp đồ chay được làm bằng cải xanh, bánh bao
chay và xôi nếp trắng(27). Trên đầu mỗi tháp có ba vòng tròn nhỏ dần lên (tượng
trưng cho Tam thế Phật giáo) và Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng). Trên đỉnh mỗi tháp có
hình tượng bàn tay Phật bắt ấn.
Chọn giờ tốt, vị pháp sư (mặc áo choàng màu vàng, đội mão Địa Tạng) thượng
đàn tụng kinh cầu Pháp sư vừa tụng vừa múa hai tay bắt ấn, sau đó rung chuông
(thức tỉnh các cô hồn tề tựu về dự chay siêu thoát), tung giấy mã trong tiếng chuông,
trống, chập chõa... tấu lên. Sau ba tuần trà, ba tuần rượu, pháp sư ra ngoài cổng cúng
thí.
Giữa cây phướng và Ông Tiêu bày đầy giấy mã và 3.600 bộ giấy áo (gấp mười
lần ở bến sông phóng sanh)(28) Trên có nhiều đèn cầy bạch lạp, hoa tạo nên một cạnh
huyền ảo giữa lúc trời chưa sáng hẳn. Chung quanh bày nhiều tháp đồ chạy do các
gia đình đcm tới cúng thí. Khi bãi giấy mã được khai hỏa cũng là lúc nghi xô giàn
bắt đầu. Vị pháp sư vừa tụng kinh, làm phép đất 3.600 bộ giấy áo. Người ta lần lượt
đcm hình nộm ông Tiêu Phán quan và các hình nhân khác ra đất. Cây phương được
hạ xuống và đưa 52 chiếc đèn lồng ra đất. pháp sư quăng tháp bánh bao ra ngoài thí
cô hồn (hai tháp rau cải và xôi nếp tượng trưng tho Phật được giữ lại trả cho miếu).
Nghi xô giàn cuốn hút nhiều người tham gia, họ tranh nhau những đồ cúng thí, mảnh
vỡ từ hình nộm ông Tiêu, đèn lồng, tháp bánh trong cảnh náo nhiệt, vui nhộn.
Trở vào miếu, pháp sư vừa tụng kinh kết thúc lễ cầu siêu. Những đồ vật dùng
trong lễ như: Kim phong bảng, tranh, ảnh, liễn trang trí được đặt lên vị sứ giả cưỡi
27 Tháp xôi nếp trắng vẽ hình chân dung Phật Thích Ca, biểu tượng chữ “Vạn” và hoa sen.
28 Người Hoa quan niệm có 36 cô hồn (nếu là ít), 72 cô hồn (cúng lớn hơn chỉ số nhiều), 108 cô hồn (chỉ số đông, cúng
lớn hơn), 360 cô hồn (chỉ số đông hơn nữa, qui mô cúng rất lớn) và 3.600 cô hồn (chỉ con số rất đông đảo, qui mô cúng
là đại lễ)… Tất cả các con số trên đều là bội số của con số 9, đây chỉ là cách nói của người Trung Quốc trong việc coi
trọng con số 9 (cửu trù, cửu đỉnh) là con số may mắn.

21.6 Page 206

▲back to top
ngựa bằng giấy màu đỏ(29) đem ra sân khai hỏa.
Buổi sáng, bắt đầu cúng nhả mặn. Trong miếu soạn sẵn những mâm cúng mặn gồm:
một con dê đực làm thịt để sống cúng trước bàn thờ Quan Đê (30) một con heo làm
thịt để sống cúng trước bàn thờ Tổ và một con heo quay đỏ cúng trước bàn thờ Bà
Thiên Hậu. Trên các bàn thờ còn có gà luộc và các loại trái cây, nhang đèn. Trên bàn
thờ chính nơi thờ Tổ đặt Phúc lộc đình, cây đèn dầu Thất tinh (bảy ngọn), hai đài
nến, bông, nhang trường và chò trái cây. Năm vị thầy cúng tụng kinh, gõ nhạc khí
phụ họa lời cúng tạ ơn bà và các thần thánh. Sau đó, đoàn hành lễ rước đến đàn chay
khai lễ thỉnh an bài vị. Hình thức như ngày thỉnh sắc, đoàn rước theo lộ trình đưa bài
vị các vị thần an vị nơi mình được thờ trước khi về chứng lễ. Trong những đêm diễn
ra lễ hội, nhiều đoàn hát đến diễn những tuồng tích xưa, thu hút nhiều người xem.
Trở về miếu, các thầy cúng tụng kinh kết thúc cho toàn lễ chay.
Lễ hội Bà Thiên Hậu (phường Bửu Long), có tính đặc trưng cho tín ngưỡng
thờ Thiên Hậu của cộng đồng người Hoa ở Biên Hòa. Đây là lễ hội bà có quy mô lớn
nhất ở Đồng Nai và thu hút nhiều người dân tham dự.
Những nghi thức lễ cho thấy có sự dung hợp của Đạo giáo, Nho giáo và Phật
giáo; trong đó vai trò của Đạo giáo chủ đạo với lực lượng đạo sĩ hành lễ. Nghi lễ của
Đạo giáo được dùng trong lễ cầu an, cầu phúc; nghi lễ cầu siêu, cúng thí cô hồn thì
lại mang tính chất Phật giáo. Tính dung hợp nhiều lễ nghi trong hội lễ miếu Bà Thiên
Hậu là một hiện tượng khá độc đáo.
3. Lễ vía Bà Quan âm
3.1. Đối tượng thờ cúng
Nguyên ủy, trong hệ thống thần linh thờ phụng của Phật giáo, Quan Âm được
xem là “Vị thần linh nhìn xuống” chúng sinh với lòng từ bi, là một trong những vị
29 Ngựa đỏ: tượng trưng cho sứ giả báo công về Ngọc Hoàng vễ lễ hội kết thúc rất tốt đẹp. Màu đỏ tượng trưng cho sự
may mắn, tốt đẹp.
30 Con dê: theo bà con địa phương cho biết người Hẹ vốn tướng tinh con dê, còn người Phước Kiến tướng tinh con cọp
(?). Vì vậy, khi cúng nhả mặn chùa Bà Bửu Long thường phải cúng dê đực. Nhưng có lẽ cúng đủ lễ “tam sanh” gồm

21.7 Page 207

▲back to top
Bồ tát quen thuộc của tông phái Đại thừa. Ngài là vị Bồ tát tùy tùng của Phật A Di
Đà ở thế giới cực lạc Tây phương, được mọi người tôn kính như là biểu hiện của sự
từ bi, nhẫn nhục, cứu độ con người. Đối với cộng đồng người Hoa, vị Quan Âm đã
được dân gian hóa thành vị nữ thần phù hộ cho những ai cầu khẩn đến người, hay
nghe tiếng kêu của chúng sanh.
Đối với cộng đồng người Hoa đến Đồng Nai từ giai đoạn 1954 trở về trước, thì
Quan Âm được tùng tự trong các cơ sở tín ngưỡng. Đối tượng Quan Âm được thờ
trong các cơ sở tín ngưỡng này không giữ vai trò chủ đạo nên vị trí bài thờ cũng
không chiếm vị trí quan trọng.
Đối với cộng đồng người Hoa đến Đồng Nai từ năm 1954 trở về sau thì Quan
Âm là đối tượng thờ chính trong các cơ sở tín ngưỡng. Các cơ sở tín ngưỡng này có
quy mô kiến trúc khá bề thế tính cộng đồng cao. Tên gọi đầy đủ của cơ sở là “Quan
Âm Hộ Quốc miếu”, người dân hay gọi tắt là chùa/ miếu Quan Âm. Đối tượng Quan
Âm được bài trí chiếm vai trò trung tâm của cơ sở. Ngoài địa bàn huyện Vĩnh Cửu
các cơ sở tín ngưỡng dạng này có mặt hầu hết các địa bàn huyện, thành phố ở Đồng
Nai. (tham khảo thêm phần trước).
Một điểm chung trong các cơ sở tín ngưỡng người Hoa ở Đồng Nai là tượng
thờ Quan Âm được bài trí trong nội điện thường ở tư thế tọa trên đài sen, đầu đội
mão, toàn thân phủ áo trắng, thêu nhiều kim tuyến. Riêng ở trước các cơ sở Quan Âm
Hộ Quốc miếu thì có hồ phóng sanh, trên đó có tượng Quan Âm Nam Hải đứng trên
đài sen, hay chiếc thuyền lướt sóng hoặc con rồng dâng dạ kim châu, hai bên có
Thiện Tài Long nữ và Huệ Ngạn Hành giả cung chầu.
3.2.Những lễ cúng Quan Âm
Tại các cơ sở tín ngưỡng thờ Quan Âm của người Hoa, hằng năm có rất nhiều
lễ cúng vía. Đối tượng Quan Âm có các ngày cúng (có tính chu kỳ) như sau: vía ngày
sanh vào ngày 18 và 19 tháng 2, vía ngày nhập đạo vào ngày 18 và 19 tháng 6, vía
ngày đắc đạo ngày 18 và 19 tháng 9. Ngoài ra, nhiều nơi tổ chức cúng ngày kỷ niệm
heo, gà, dê làm thịt để sống là tục lệ cúng bà từ xưa, đến nay rất hiếm thấy, chỉ có trong những dịp cúng lễ trọng đại (vì
lễ vật cúng được giản lược nhiều).

21.8 Page 208

▲back to top
khánh thành cơ sở tín ngưỡng với mục đích cúng Quan Âm và cầu an. Thời gian tính
theo âm lịch. Ở các cơ sở tín ngưỡng mà Quan Âm được phối thờ thì không có tổ
chức lễ lớn. Những ngày cúng lớn tại cơ sở thì bàn thờ Quan Âm cũng thực hiện nghi
lễ dâng vật cúng (hầu hết là trái cây, bông hoa - đồ chay), dâng nhang. Riêng ở các
cơ sở tín ngưỡng mà Quan Âm là đối tượng thờ chính thì tổ chức lễ rất trang trọng,
thời gian trong hai ngày, thu hút nhiều người trong và ngoài địa phương đến tham dự.
Ban Quản lý (còn gọi là Ban Quản trị) cơ sở tín ngưỡng đảm nhận mọi công tác tổ
chức cho lễ cúng. Cũng cần nói thêm là Ban Quản lý có những thành viên được cộng
đồng người Hoa tại địa phương bầu, giữ trọng trách trong nhiệm kỳ cụ thể.
3.3. Lễ vía ngày sanh Quan Âm
Đây là lễ chính tại các miếu Quan Âm của cộng đồng người Hoa. Thời gian lễ
trong hai ngày 18 và 19 tháng 2 âm lịch. Tùy thuộc vào từng cơ sở tín ngưỡng mà
điểm khởi đầu cho buổi cúng khác nhau. Nhưng có điểm chung là giờ cúng thường
vào buổi tối (miếu Quan Âm / Bảo Bình, huyện Xuân Lộc bắt đầu từ 18 đến 20 giờ;
miếu Quan Âm / Bình Lộc, huyện Long Khánh bắt đầu từ 22 đến 24 giờ...). Những
công tác chuẩn bị cho lễ cúng được Ban Quản lý cơ sở lo chu tất từ những ngày
trước: dọn dẹp, bài trí, lễ vật cúng tiếp nhận đăng ký cầu an của các gia chủ...
Lễ vật trong các buổi lễ cúng Quan Âm có các đồ mặn và cả đồ chay. Bởi lẽ,
trong cơ sở tín ngưỡng có phối thờ Quan Thánh, Án Thủ công công và một số được
cho là tướng quân của lệnh bà. Lễ vật đồ mặn thường là gà, vịt, heo; lễ vật chay gồm
trái cây, các loại bánh, món chế biến từ thực vật. Bài trí các món theo quy định: bàn
thờ Quan Âm đồ chay, các bàn thờ khác là đồ mặn.
Ngày thứ nhất (ngày 18/2) bắt đầu lễ vào buổi tối. Các thầy cúng gồm nhiều
người (tùy theo mỗi cơ sở tín ngưỡng mời mà số lượng thầy cúng khác nhau; thông
thường mỗi lễ có ít nhất là 3 người trở lên) tựu trung trước bàn thờ Quan Âm đọc sớ
trình xin lễ và đọc kinh cầu an. Kinh cầu an ban đầu đọc trình xin cho cộng đồng
xong mới đọc kinh cầu an cho những gia chủ có đăng ký với Ban Quản lý. Nội dung
kinh cầu an cho cộng đồng có tính chất chung chung như mưa gió thuận hòa, quốc
thái dân an, mùa màng tốt tươi, làng xóm yên lành, không xảy ra dịch bệnh..., riêng

21.9 Page 209

▲back to top
các gia chủ thì theo nội dung yêu cầu cụ thể như sinh con như ý, buôn bán thạnh lợi,
phúc đức lâm gia, thọ an bất bệnh... Thời gian đọc kinh kéo dài hàng mấy tiếng đồng
hồ. Sau khi tiến hành nghi thức đọc kinh xong, các thầy cúng và Ban Quản lý tổ chức
đốt các sớ trình, xin cầu trong các “tụ bảo lư) được đặt trong cơ sở tín ngưỡng. Việc
thực hiện các nghi thức đốt sớ thể hiện ý niệm Quan âm đã được nghe và chấp nhận
những sớ trình, lời kinh trước tấm lòng thành kính của thầy cúng, của các gia chủ.
Sau phần cúng chay, đọc kinh cầu an là thời gian lễ cúng cho các tướng quân,
nhân thần phối thờ với Quan Âm. Lễ vật cúng mặn và được luộc chín. Lễ cúng này
cũng được các thầy cúng đọc kinh với lòng mong muốn sự chứng giám và giúp đỡ
của lực lượng này trong công việc chung đã thỉnh an Quan Âm trước đó. Cũng tùy
thuộc vào từng địa điểm mà thời gian kết thúc sớm hay trễ. Thông thường, các lễ
cúng trong đêm đầu kéo dài đến hoặc không quá giờ Tý (tức 12 giờ đêm).
Ngày thứ hai (ngày 19 / 2), lễ cúng bắt đầu vào buổi sáng. Thời gian từ 8 giờ.
Đây là thời gian dành cho mọi người trong cộng đồng có nhu cầu, thể hiện lòng
thành với Quan Âm đến dâng lễ vật, cầu khấn, cúng dường.
Từ 10 giờ trở đi, Ban Quản lý cơ sở tín ngưỡng tiến hành những nghi hội đấu
giá phúc pháo và thánh đăng hoặc thỉnh phước đăng. Phúc pháo hiểu theo nghĩa nôm
na là pháo đem đến những điều phước. Nguyên thủy, phúc pháo không bán mà tại lễ
Quan Âm được bắn lên không trung (pháo có tiếng nổ) và bay đi. Trong phúc pháo
có ghi những nội dung cầu chúc những điều tốt đẹp trong cuộc sống cho con người,
cho làng xóm. Phúc pháo bay đi và tự rơi xuống, nhiều người trong lễ hội canh
chừng khi phúc pháo được bắn lên, chạy theo, đón lấy tranh giành khi phúc pháo rơi.
Ai nhặt, tranh được phúc pháo đem về nhà treo thờ thì xem như đón được cái phúc
vào bản thân, gia đình hay cho làng xóm mình. Hiện nay, phúc pháo được đem đấu
giá.
Về thánh đăng (lồng đèn), trên ghi những điều tốt, được trưng trong các lễ
cúng Quan Âm. Người Hoa quan niệm đó là những thánh đăng có được sự linh
nghiệm, báo ứng do Quan Âm truyền vào. Những thánh đăng sẽ được đem đấu giá, ai
trả giá cao thì được bán. Người Hoa hoặc bất kỳ ai tham dự tùy thuộc vào ý muốn, sở

21.10 Page 210

▲back to top
cầu của mình mà đấu giá theo từng lời chúc được ghi trên thánh đăng. Trong các
thánh đăng, quan trọng nhất là Liên hoa bảo đăng. Đây là lồng đèn lớn nhất trong các
loại thánh đăng. Mỗi dịp cúng lễ chỉ có một Liên hoa bảo đăng. Giá cả đấu của Liên
hoa bảo đăng khá cao.
Phúc đăng là dạng lồng đèn nhỏ. Loại đèn lồng này được Ban Quản lý mua về
treo trong dịp lễ cúng, ai có nhu cầu thì thỉnh sau khi đóng góp một số tiền theo quy
định. Tuy vậy, cũng tùy theo mỗi dịp lễ, địa phương mà giá cả đấu các phúc pháo,
thánh đăng hoặc phúc đăng được Ban Quản lý định giá phù hợp và mọi người có thể
đấu, thỉnh.
Tùy thuộc vào từng cơ sở tín ngưỡng mà số phúc pháo, thánh đăng có số lượng
nhiều hay ít để đấu, thường thì không quá con số 12, số lượng mỗi năm cũng không
thống nhất. Ở miếu Quan Âm, xã Bình Lộc, thị xã Long Khánh trong mỗi dịp lễ tổ
chức đấu 1 Liên Hoa bảo đăng, 12 phúc pháo, 12 thánh đăng; miếu Quan Âm Lò
Than, thị xã Long Khánh tổ chức đấu 1 Liên hoa bảo đăng, 10 phúc pháo, 10 thánh
đăng. Cũng có nơi không dùng phúc pháo mà dùng Kim thân Phật Bà (hình Quan
Âm tranh kiếng). Ý nghĩa không khác phúc pháo. Cũng tùy thuộc vào mỗi cơ sở mà
thứ tự đấu các loại này theo trình tự khác nhau hoặc xen kẽ.
Ø Đấu Liên hoa bảo đăng: Ban Quản lý giới thiệu về Liên hoa bảo đăng, nêu
lên lịch sử của nó cũng như những lần đấu giá trước, những chủ nhân đã đạt được
những sở cầu qua những lần thắng đấu, giữ bảo đăng... Song cũng có nơi không cần
giới thiệu, chỉ nêu lên danh đăng, giá cả ban đầu để mọi người tham gia. Trong
những người tham dự, ai có nhu cầu và điều kiện tài chánh thì đấu. Có những Liên
hoa bảo đăng được đấu với giá cao chủ nhân sau đó nhận và đóng tiền. Cũng có
trường hợp đấu thắng nhưng sau này không đến nhận, hoặc nhận nhưng cho thiếu
một phần kinh phí.
Ø Đấu phúc pháo, thánh đăng: Tên gọi của những phúc pháo, thánh đăng rất
đa dạng. Có nơi đặt tên cho các loại này theo thứ tự như: đệ nhất phúc pháo, đệ nhất
thánh đăng... cứ thế cho đến cái cuối cùng. Hoặc cũng có nơi đặt tên cho các loại này
theo các thành ngữ có tên số thứ tự gắn với nội dung những điều lợi phúc, vinh, danh.

22 Pages 211-220

▲back to top

22.1 Page 211

▲back to top
Sau đây là một số tên gọi của phúc pháo, thánh đăng nhiều ý nghĩa:
w Tên gọi cái thứ nhất:
+ Nhất bổn vạn lợi (một đồng vốn thu hàng vạn đồng lời).
+ Nhất lộ thuận phong (thuận buồm xuôi gió)
+ Nhất định thành công (làm thì thành công).
w Tên gọi cái thứ hai:
+ Song hỷ lâm môn (Niềm vui cứ tiếp vào nhà)
+ Tài phước thịnh vượng (Nhiều phúc, giàu có).
w Tên gọi cái thứ ba:
+ Tam nguyên cập đệ (đỗ đạt cao trong thi cử ).
w Tên gọi cái thứ tư:
+ Tứ quý phong thu (bốn mùa bội thu - cầu mùa màng).
+ Tứ quý bình an (bốn mùa đều yên ổn).
+ Tứ quý hưng long (buôn bán bốn mùa phát đạt ).
w Tên gọi cái thứ năm:
+ Ngũ phúc lâm môn (năm cái phúc vào nhà).
w Tên gọi cái thứ sáu:
+ Lộc mã phù trì (sáu ngựa giúp sức).
+ Lục tục thuận cảnh (may mắn tiếp may mắn ).
w Tên gọi cái thứ bảy:
+ Thất tinh cao chiếu (bảy ngôi sao chiếu sáng).
w Tên gọi cái thứ tám:
+ Bát tiên tề chúc (tám vị tiên cùng chúc phúc ).
+ Bát diện oai phong (tám mặt oai phong).

22.2 Page 212

▲back to top
w Tên gọi cái thứ chín:
+ Cửu tử đăng khoa (đông – “chín” người con đều đỗ đạt).
+ Cửu long hiến thoại (chín rồng dâng châu).
w Tên gọi cái thứ mười:
+ Thập toàn thập mỹ (tất cả đều đẹp / vạn sự như ý).
Khi đấu, Ban tổ chức đọc câu thành ngữ có ý nghĩa tương ứng với số thứ tự
của phúc pháo, thánh đăng. Nếu cá nhân nào thấy phù hợp với ước vọng sở cầu của
mình thì bỏ tiền ra đấu giá.
Ø Thỉnh phúc đăng, Kim thân Phật Bà:
Phúc đăng, Kim thân Phật Bà thường không tổ chức đấu giá mà được những
người có nhu cầu đăng ký thỉnh với số tiền tự nguyện nộp vào quỹ từ thiện cho cơ sở
tín ngưỡng Miếu Quan Đế (xã Sông Thao, huyện Thống Nhất) dịp vía ngày sanh
Quan Âm, tổ chức thỉnh đèn với số lượng từ 9 đến 20 cái (tùy từng năm).
Trong thời gian đấu giá các loại phúc pháo, hoa đăng, thánh đăng diễn ra sôi
nổi, náo nhiệt. Giá từng loại đấu được nhiều người tham gia cứ tăng lên đến mức
trần, hoặc không ai đấu nữa thì Ban Quản lý công bố chủ nhân thắng cuộc. Đây là
thời gian lễ hội cuốn hút nhiều người tham gia, tham dự.
Sau nghi thức đấu phúc pháo, hoa đăng, thánh đăng, thỉnh đèn những người
tham dự lễ được dự tiệc liên hoan tại ngay cơ sở tín ngưỡng với ý niệm được hưởng
lộc của Quan Âm.
3.4.Lễ cúng Phật Bà Quan Âm nhập đạo, đắc đạo
Những tư liệu về khoảng thời gian định vị này liên quan đến sự kiện nhập đạo,
đắc đạo của Quan Âm qua khảo sát cho thấy, không có người Hoa nào giải thích
tường tận. Họ cho rằng, việc bảo lưu, duy trì các ngày cúng vía này theo sự truyền lại
của những người đi trước. Cho đến nay, cộng đồng người Hoa tổ chức hai lễ cúng
này trong thời gian: ngày 18 hoặc ngày 19 của tháng 6 và 9, tính theo âm lịch. Hình
thức, quy mô của hai lễ cúng này giống nhau.

22.3 Page 213

▲back to top
Cách bài trí trong ngày lễ cúng cũng đơn giản. Bàn thờ của Quan Âm với các
đối tượng tùng tự được bày trái cây, hoa quả. Bàn thờ Quan Âm có lễ vật chay, các
bàn thờ khác cùng đồ mặn. Tất cả được thắp đèn, nhang liên tục trong thời gian cúng.
Ban Quản lý dâng trình lễ vật cúng và trình bày lòng biết ơn đến đức Quan Âm.
Trong các lễ vía cúng này không có lực lượng thầy cúng. Sau đó, những cá nhân
trong cộng đồng có nhu cầu có thể tự đem lễ vật đến vía, cầu an.
Mục đích lễ cúng này là tỏ lòng biết ơn Quan Âm khi thực thi nhập và đắc đạo
để hy sinh, cứu độ chúng sinh. Qua đó, thể hiện tấm lòng tôn kính của cá nhân, cộng
đồng người Hoa đối với Quan Âm. Đồng thời, qua cúng vía trong các ngày này,
người Hoa cầu an cho gia bản thân, gia đình, dòng tộc hay cho cộng đồng theo lời
trình cầu của mình.
3.5. Lễ kỷ niệm ngày khánh thành cơ sở tín ngưỡng Quan Âm
Mỗi cơ sở tín ngưỡng của người Hoa thường tổ chức ngày lễ cúng kỷ niệm
ngày khánh thành cơ sở. Những miếu Quan Âm qua khảo sát cho thấy, hình thức tổ
chức khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm, tình hình kinh tế, quản lý tại chỗ . Nếu tổ
chức cúng thì đối tượng chính vẫn là Quan Âm, mục đích chính vẫn là cầu an.
Trong phần mục này, chúng tôi nêu lên lễ hội tại miếu Quan Âm, xã Láng
Minh, huyện Xuân Lộc. Tại cơ sở tín ngưỡng này, lễ cúng trong ngày kỷ niệm khánh
thành cơ sở vào ngày 8 và ngày 9 tháng 2 (âm lịch) là lễ chính, lớn nhất trong năm.
Những nghi thức lễ hội tại cơ sở này giống các lễ vía ngày sanh Quan Âm tại các
miếu khác: có đấu giá cung thỉnh các loại phúc pháo, thánh đăng.
Lễ vật cúng gồm: 1 con heo quay, 1 con gà, thịt heo (đồ cúng chín), trái cây,
bông hoa được bày trên các bàn thờ của miếu. Trước bàn thờ bà chỉ bày cúng trái cây
(đồ chay), các bàn thờ còn lại bày cúng đồ mặn. Đêm của ngày thứ nhất (tức ngày 8
tháng 2) lễ cúng bắt đầu vào lúc 20 giờ. Các thầy cúng thực hiện các nghi thức trình
sớ cho Quan âm và đọc kinh cầu an cho cộng đồng, gia chủ đã đăng ký.
Ngày thứ hai (tức ngày 9 tháng 2), lễ cúng bắt đầu vào lúc 8 giờ đến 10 giờ. Ban
Quản lý tổ chức lễ mộc dục (tắm và thay áo cho tượng Quan Âm). Sau đó, những ai
đến tham dự lễ lần lượt vào thắp nhang, cúng bái, cầu khấn Quan Âm.

22.4 Page 214

▲back to top
Từ 10 giờ bắt đầu vào hội đấu phúc pháo và hoa đăng (gồm Liên hoa bảo đăng,
thánh đăng và phúc đăng). Theo quan niệm của cộng đồng người Hoa tại địa phương
thì:
+ 1 Liên hoa bảo đăng: đèn của Phật Bà Quan Âm.
+ 10 phúc pháo: tượng trưng cho 10 vị tướng của Quan Thế Âm Bồ tát.
+ 12 thánh đăng.
+ 12 phúc đăng: chỉ tổ chức thỉnh chứ không đấu giá.
Ø Đấu giá Liên hoa bảo đăng: một người trong Ban Quản lý cơ sở sẽ giới
thiệu về chúng bằng hai ngôn ngữ Hoa - Việt.
Nội dung như sau: “Ngã cẩn hướng các vị giới thiệu Quan Âm nương nương
chi Liên hoa Bảo đăng hệ xuất y thiên hoa liên tọa chi thượng, Thánh hiện các
bảo kim đài trung, quang vọng vạn trượng triều diệu thiên cổ, quang thải diệu
mục, phổ chiếu y nhân gian, xử cửu khúc chi ba lăng, vĩnh lưu chi phước hải,
thời giáng cát tường, âm tý phúc đức chi gia, cố bất quý danh vi liên hoa bảo đăng
tức Tuyết liên đăng. Truyền thuyết hệ Quan Âm nương nương tọa tuyết liên, nhi
tọa hóa thành đạo dư Nam Hải chi trúc lâm trung, ký quảng tuyết Liên hoa hệ hy
hư thế chi bảo kỳ xuất mục hư miểu linh thánh, phàm nhân thực đắc nan kiến, cố
liên hoa bảo đăng, kỳ linh thánh bảo quý khả tri. Cẩn thỉnh các vị quý tân tiêu đầu
Liên hoa bảo đăng, đặc biệt dụng tâm, đặc biệt lưu ý”.
Lời dịch: “Tôi xin giới thiệu cùng quí vị đại biểu Liên hoa bảo đăng của Quan
Âm Bồ tát, soi sáng ngàn năm, muôn dặm sáng ngời, chiếu sáng cả mắt, chiếu sáng
khắp thế gian, thời giáng cát tường. Liên hoa bảo đăng danh trên hư không tức là
Tuyết liên đăng, truyền thuyết Quan Âm Bồ tát ngồi trên cao Tuyết liên hóa thành
đạo, vật này xuất hiện linh thánh, phàm người nhân gian khó thấy được. Vậy nên biết
Liên hoa bảo đăng linh thánh bảo quý. Kính mong quý vị đặc biệt lưu ý để thỉnh cho
được Liên hoa bảo đăng này”. (lời của ông Hồng Xín Pẩu).
Ø Đấu phức pháo: (10 phúc pháo)
10 phúc pháo được đặt tên theo số thứ tự. Khi đấu, Ban Quản lý đọc một câu

22.5 Page 215

▲back to top
thành ngữ tiêu biểu cho mỗi phúc pháo để bá tánh thấy phù hợp với việc cầu xin của
mình thì tham gia đấu giá đem phúc pháo về thờ.
Dưới đây là những nội dung được đặt phổ biến cho từng số thứ tự của phúc
pháo khi tiến hành đấu giá:
- Phúc pháo số 1: Nhất phàm phong thuật/ Bảo hữu đắc chủ/ Tứ quý hưng
long/ Nhất bổn vạn lợi/ Nhất kỷ thành danh/ Vạn phước tập nhất môn/ Phước lộc tự
thiên giáng.
- Phúc pháo số 2: Song hỷ lâm môn/ Tứ quý bảo hữu đắc chủ/ Bình an phát tà
/ Danh lợi song thu/ Nhân tài lưỡng thắng.
- Phúc pháo số 3: Tam đài củng chiếu/ Tứ quý bảo hữu đắc chủ/ Phú quý
trường thọ/ Quyền oai tam chúc/ Chính phụng nhân ứng thụy.
- Phúc pháo số 4: Tứ quý bảo hữu đắc chủ/ Tứ quý hưng long/ Tứ hải dương
danh/ Tứ phương bát diện/ Quý nhơn trùng phùng/ Tài lợi tứ phương.
- Phúc pháo số 5: Ngũ phước lâm môn/ Tứ quý vĩnh bảo đắc chủ/ Thêm đinh
phát tài/ Thêm hỷ, thêm phúc, thêm thọ/ Ngữ phước tề lai.
- Phúc pháo số 6: Lộc mã phù trì/ Lục tục thuận cảnh/ Tứ quý bảo hữu đắc
chủ/ Hồng đồ tài triển/ Tài lợi nhật long/ Hỷ sự trùng trùng/ Lục tục đảo lai/.
- Phúc pháo số 7: Thất tinh phổ chiếu/ Tứ quý bảo hữu đắc chủ/ Sự nghiệp
xương thuận/ Hữu như thất tinh bán nguyệt/ Quan vọng vạn lý/ Bình an phát tài/ Tài
nguyên cổn cổn nhi nhi.
- Phúc pháo số 8: Bát diện oai phong/ Tứ tự cát khánh/ Bát phong tài phú/
Tường thụy doanh môn/ Khai xuất thái vận/ Tài triển hồng đồ.
- Phúc pháo số 9: Cửu thiên giáng phúc/ Bảo hữu đắc chủ/ Trường trường cửu
cửu/ Bách sự dị thuận/ Tâm tưởng sự thành.
- Phúc pháo số 10: Thập toàn thập mỹ/ Phú quý vinh hoa/ Tứ quý bảo hữu đắc
chủ/ Thập túc về toàn.
- Đấu thánh đăng: (12 cái )

22.6 Page 216

▲back to top
Thánh đăng là đèn lồng bát giác xung quanh có vẽ cảnh trang trí và ghép
những câu thành ngữ có ý nghĩa ứng với mỗi số thứ tự của đèn. Những nội dung
thành ngữ được đặt cho các thánh đăng:
- Đèn số l: Nhất phàm phong thuận
- Đèn số 2: Đình tài lưỡng thắng
- Đèn số 3: Phước lộc thọ toàn
- Đèn số 4: Tứ quý hưng long
- Đèn số 5: Ngũ phưóc lâm môn
- Đèn số 6: Lộc mã phò tá
- Đèn số 7: Thất tinh báo hỷ
- Đèn số 8: Bát tiên khánh hạ
- Đèn số 9: Cửu như hiến thụy
- Đèn số lo: Thập túc thu thành
- Đèn số 11: Bộ bộ cao tăng
- Đèn số 12: Chư niên thuận cảnh.
Liên hoa bảo đăng và thánh đăng đấu giá xong, gia chủ có thể đem về nhà hoặc
để lại thờ tại miếu để lấy phước. Còn phúc pháo thì luôn luôn được gia chủ đưa về
thờ tại nhà. Về phúc đăng, Ban Quản lý trình sẵn trong lễ Quan Âm, ai có nhu cầu thì
bỏ ra một số tiền, theo quy định của miếu mà thỉnh về thờ.
Sau khi lễ hội đấu giá phúc pháo và thánh đăng kết thúc, những người tham dự
lễ hội dự tiệc liên hoan thọ lộc của Quan Âm và kết thúc lễ cúng.
Ngày 11 tháng 2 (âl), Ban Quản lý cơ sở đem xe chở các phúc pháo, đèn thánh,
đèn phúc tới nhà các gia chủ đã đấu được. Tới ngày 2 tháng 2 (âl) năm sau, Ban
Quản lý cơ sở Quan Âm sẽ đến từng nhà trúng đấu thầu năm trước thỉnh các phúc
pháo về miếu cho sửa sang lại để chuẩn bị cho lễ hội đấu giá tiếp tục.
***

22.7 Page 217

▲back to top
Trong các cơ sở tín ngưỡng mà Quan Âm là đối tượng thờ chính, chu kỳ trong
một năm có ba lễ cúng vía chính vào các ngày liên quan đến đối tượng như: ngày
sanh, nhập đạo, đắc đạo. Lễ lớn nhất là lễ vào ngày vía sanh (tức ngày 18, 19 tháng
2). Lễ thường được tổ chức trong hai ngày. Đêm của ngày thứ nhất dành mục đích
cầu an cho cộng đồng, những nghi thức cầu an do lực lượng thầy cúng đảm nhiệm.
Ngày thứ hai là ngày vía Quan Âm dành cho mọi người. Tính chất hội trong ngày
thứ hai thể hiện rõ nét. Đó là các hội từ việc đấu giá thỉnh các loại Liên hoa, phúc
pháo, thánh đăng, phúc đăng. Có trường hợp ngoại lệ là miếu Quan Âm tại xã Láng
Minh, huyện Xuân Lộc: lễ Quan Âm lớn nhất được tổ chức vào ngày kỷ niệm khánh
thành cơ sở. Đây là cơ có tín ngưỡng chung của cộng đồng các dân tộc như Hoa,
Tày, Núng, Mán...
Tại các cơ sở tín ngưỡng mà đối tượng Quan Âm được phối thờ thì các ngày lễ
liên quan đến đối tượng được tổ chức đơn giản. Nhưng dù ở cơ sở nào, chúng có
điểm chung là bàn thờ Quan Âm bao giờ cũng được cúng chay (trái cây và hoa quả).
Hầu hết những lễ cúng lớn tại các miếu thờ Quan Âm của cộng đồng người
Hoa đều có tục đấu giá phúc pháo và hoa đăng. Những hình thức trong việc đấu giá
thể hiện quan niệm của cộng đồng người Hoa đối với sự phù trợ của thần linh được
tôn thờ, đồng thời là nét sinh hoạt văn hóa độc đáo giàu tố chất văn hóa Trung Hoa
trong lễ hội. Kinh phí từ nguồn thu qua việc đấu giá được Ban Quản lý chỉ dùng
trong việc tổ chức, trùng tu cơ sở đồng thời đóng góp tích cực một phần quan trọng
trong công tác từ thiện, quỹ phúc lợi xã hội tại địa phương như: xã hội hóa giao
thông, giáo dục (đặc biệt các trường Hoa ngữ).
Đây là lễ hội tiêu biểu của cộng đồng người Hoa (đến Đồng Nai từ sau năm
1954) trong tín ngưỡng thờ Quan Âm ở Đồng Nai. Lễ hội góp phần tích cực vào việc
bảo tồn giá trị vật chất và tinh thần cho văn hóa cộng đồng người Hoa, làm phong
phú đa dạng sắc thái văn hóa Đồng Nai trong tính đa dạng, thống nhất.
4. Lễ Tả Tài Phán
4.1. Mục đích và ý nghĩa lễ hội
Đây là lễ hội của cộng đồng người Hoa đến Đồng Nai sinh sống từ sau năm

22.8 Page 218

▲back to top
1954. Tên gọi lễ Tả Tài Phán cho đến nay chưa thể dịch sát nghĩa qua tiếng Việt
nôm na có thể hiểu là lễ Đại Phan. Lễ hội này có tính chất cầu an và có nghi thức tấn
phong (lên chức) của thầy cúng ở các bậc Tài Phán Xí.
Những khu vực tập trung người Hoa cư trú thường có một miếu thờ Thổ thần
hay Quan Âm. Đây là cơ sở tín ngưỡng có tính cộng đồng quy mô, kiến trúc lớn của
người Hoa. Về miếu Quan Âm thường được đặt biển đề là “Quan âm Hộ Quốc
miếu”, người dân hay gọi tắt là miếu Quan Âm. Khi khởi dựng miếu Quan Âm đều
có một thủ tục là làm lễ Rước chân nhang. Một trong hai địa điểm để đến rước chân
nhang là miếu Quan Âm tại vùng Sông Mao, tỉnh Bình Thuận hoặc miếu Quan Âm ở
quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Như một quy định bất thành văn, nếu
những cơ sở nào khi xây dựng có tổ chức rước chân nhang tại hai địa điểm trên
(hoặc có điều kiện thì tổ chức rước ngoài vùng quê Quảng Ninh) thì mới được xem
là trong hệ thống chính thống hội của miếu thờ Quan Âm. Điều này cho thấy các cơ
sở tín ngưỡng miếu Quan Âm của người Hoa trên địa bàn Đồng Nai có một mối liên
hệ khá chặt chẽ hệ thống miếu Quan Âm của nhóm cộng đồng người Hoa. Và cũng
chính từ đó những lễ hội này đều có những nghi thức quy định, hay chí ít lúc ban
đầu, cũng chịu ảnh hưởng của lực lượng thầy cúng xuất phát từ hai địa điểm trên.
Mục đích của lễ hội Tả Tài Phán là cầu an, cầu siêu thể hiện qua các kinh cầu
do thầy cúng đảm nhiệm, thực hiện trong các nghi thức bắt buộc, thể hiện sự tấn
phong cho thầy cúng và những thứ bậc cho đệ tử qua công tác tổ chức và thực hiện
nghi lễ.
4.2. Công tác chuẩn bị cho một lễ hội
Đây là lễ hội thu hút đông đảo cộng đồng người Hoa tham dự, không chỉ ở
nhóm cộng đồng nơi cư trú, tổ chức lễ hội mà còn nhiều địa phương khác tham gia.
Kinh phí cho việc tổ chức lễ hội này rất lớn. Nguồn kinh phí này do nhiều nguồn:
một từ phía thầy cúng nhận thầu (thầy cúng trong lễ hội sẽ được phong chức Tài
Phán Xí), một phần do những người dân đóng góp khi gia đình, thân tộc có hữu sự,
liên quan mà phải cần cầu cúng trong dịp tổ chức lễ hội. Tùy thuộc vào sự đóng góp
kinh phí của lực lượng tham gia này mà Ban tổ chức cho được dự những phần việc

22.9 Page 219

▲back to top
theo các nghi thức, quy định cụ thể Ngoài ra, còn có những người không chủ đích
trước nhưng khi đến tham dự, tham gia lễ hội mới đóng góp tiền, vật để nhờ thỉnh
cầu. Tính chất đóng góp kinh phí với một cơ chế mở để ai cũng có thể tham gia,
không chỉ riêng trong cộng đồng người Hoa mà cho tất cả những ai muốn tham gia,
tham dự. Nguồn thu kinh phí đều tập trung cho lễ hội và do một Ban tổ chức quản lý,
điều hành một cách chặt chẽ.
Thời gian lễ hội không được quy định cụ thể mà nó phụ thuộc rất nhiều vào các
yếu tố. Có những nơi khi trong vùng gặp bệnh dịch hay mất mùa, nhiều người chết...
thì nhóm cộng đồng cùng cư trú đóng góp tiền để mời thầy cúng tổ chức lễ hội; cũng
có nơi khi có một nguồn kinh phí tài trợ hay thầy cúng có nhu cầu thăng bậc...thì
người Hoa tổ chức lễ Tả Tài Phán. Thông thường, thời gian các lễ Tả Tài Phán diễn
ra vào khoảng ba tháng cuối đến ba tháng đầu của một năm. Thời gian chuẩn bị cho
một lễ Tả Tài Phán rất chu đáo và thường trước đó ba tháng.
Bất kỳ một cộng đồng người Hoa cư trú nào cũng có thể tổ chức lễ Tả Tài
Phán khi hội đủ những yếu tố trên. Nhưng về mặt xã hội thì có những quy định bắt
buộc: Ban tổ chức phải là những người đại diện cho cộng đồng nơi cư trú, mà cụ thể
là các thành viên trong Ban Quản trị miếu Quan Âm, miếu Thần tại địa phương.
Chính những người này mới có tư cách pháp nhân để xin phép các cấp quản lý Nhà
nước theo luật định. Về mặt quản lý Nhà nước, một lễ hội như lễ Tả Tài Phán với quy
mô, kéo dài nhiều ngày thì chỉ được tổ chức khi có giấy chấp thuận của các cấp
ngành liên quan. Trên địa bàn Đồng Nai, thường là ba năm trở lên hoặc có thể nhiều
hơn nữa, vì còn tùy thuộc nhiều yếu tố mỗi vùng người Hoa sinh sống mới tổ thức lễ
Tả Tài Phán. Những công tác cho việc tổ chức lễ Tả Tài Phán rất chu đáo và cần có
nhiều thời gian. Khi hội đủ những yếu tố cho việc tổ chức lễ Tả Tài Phán thì người
Hoa thành lập một Ban tổ chức để điều hành. Người thầy cúng bậc cao nhất (Cam tù)
và người sẽ được phong là Tài Phán Xí sẽ lo khâu lực lượng thầy cúng. Cũng cần nói
rõ thêm về các cấp của thấy cúng: lực lượng này có nhiều cấp bậc với những quy
định cụ thể. Qua thông tin thu thập, mỗi địa phương có chia các thứ bậc như sau:
+ Cấp 1 là những người mới nhập môn, tìm một người thầy để học. Thông

22.10 Page 220

▲back to top
thường, những gia đình có người làm thầy cúng đều truyền nối nghề lại cho con trai.
Những người khác thì tự tìm đến xin thầy để nhập môn.
+ Cấp 2 gọi là Tích ấn. Thầy cúng có ấn riêng nhưng chưa được khắc tên trên
ấn. Cấp này chỉ được tham gia phụ cúng.
+ Cấp 3 gọi là Túc chức. Thầy cúng được khắc tên mình trên ấn. Cấp này được
chủ trì các lễ cúng có quy mô nhỏ như cúng mừng thọ, tang ma...
+ Cấp 4 gọi là Đô đốc. Được phong qua lễ Tài Phán Xí.
+ Cấp 5 gọi là Cam tù. Khi người thầy cấp Tài Phán Xí được mời chủ trì lễ Tả
Tài Phán.
Một lễ Tả Tài Phán thường cần đến một lực lượng thầy cúng từ 10 đến 20
người. Mỗi người đều được phân công phần việc cụ thể, gọi nôm na là giữ một bộ
môn trong lễ. Trong lễ hội, vị thầy cúng chủ trì là Cam tù. Mọi việc đều phải được
trình qua Cam tù và khi có ấn đóng của ông mới được thực hiện. Thầy cúng với chức
danh Tài Phán Xí lo mọi việc liên quan đến bên võ. Ngoài ra, còn có sự phân công cụ
thể với các chức phận như: Minh Chứng sư, Bảo Cử sư, Bình Chân sư, Tấu Cáo sư,
Tấu Điệp sư, Thông Dẫn sư, Đại Phán sư, Giám Độ sư. Theo phân công đó mà mỗi
thầy cúng cứ hành sự đã quy định và có trách nhiệm cao. Hầu hết những vị thầy cúng
đều biết chữ Hán, có ấn, cờ lệnh, phục trang (nhiều màu sắc theo quy định cấp bậc,
của giới và nhiệm vụ được giao) cùng sách cúng, kinh kệ, sớ tấu, các nhạc, khí lệnh
như thanh la, trống, sáo, nhị tù và để thực hiện những nghi thức liên quan. Chính từ
sự làm việc trách nhiệm cao và phối hợp chặt chẽ của lực lượng thầy cúng mới đảm
bảo cho một lễ Tả Tài Phán thành công.
4.3. Cách thưc tiến hành và bài trí khu vực hành lễ
Ø Chọn khu vực để hành lễ: Do thầy cúng và Ban tổ chức chọn. Khi đã đồng ý
thì tiến hành nghi thức niêm phong niêm yết tại khu vực đã chọn. Về niêm phong thì
thầy cúng tổ chức cúng nhỏ, tụng kinh đuổi tà ra khỏi ranh giới khu đất chọn, không
cho chúng xâm nhập vào cho đến khi tổ chức. Về niêm yết, người thầy cúng sẽ được
thụ phong trong lễ hội chọn một cây tre, trên có treo miếng vải đỏ viết những nội

23 Pages 221-230

▲back to top

23.1 Page 221

▲back to top
dung đến việc tổ chức lễ và sẽ thăng chức nhằm thông báo cho mọi người biết. Đây
cũng là “thông báo” có tính chất cho mọi người biết để đến đăng ký cầu cúng trong lễ
hội: nội dung cần cầu, khoản kinh phí đóng góp địa chỉ cụ thể để cho việc cung thỉnh
những nghi thức cần thiết tại nhà. Những địa điểm như miếu, suối, cung đường rước
thỉnh, cầu tế quanh khu vực dân cư sinh sống diễn ra trong lễ hội cũng được chọn
trước một cách cụ thể. Thời gian từ khi chọn khu vực hành lễ đến tổ chức lễ khoảng
ba tháng.
Ø Bài trí trong khu vực hành lễ: Công việc này chuẩn bị chu đáo và phải hoàn
tất trước một ngày khi tiến hành chính thức. Khu vực hành lễ được dọn sạch sẽ phân
định những nơi dựng các công trình phục vụ cho các nghi thức cúng, tế, cầu đăng…
Trên khu vực hành lễ có ba địa phần chính (tính từ cổng vào theo thứ tự) như
sau: khu vực cổng chào, khu vực cầu thí, khu vực thờ cúng.
Khu vực cổng chào gọi chung là cổng thành (còn gọi là Ngũ Nhạc lầu) Tùy
mỗi nơi tổ chức mà thể hiện cổng thành lớn hay nhỏ. Nhìn chung, cổng thành làm
theo lối ba cửa, gồm một cửa lớn chính giữa và hai cửa nhỏ hai bên. Phía trên cửa
chính thường dựng cao lên kiểu lầu từ hai đến ba tầng. Cổng thường được làm bằng
tre, trang trí giấy màu rực rỡ, dán những câu chữ Hán có nội dung định danh cửa và
chào mừng những người đến tham dự. Bắt đầu từ cổng vào được xem là nội thành.
Khu vực cầu thí cách cổng thành không xa, khoảng 10 m. Nơi đây có dựng một
lều che. Bên trong có hình Sơn Đại nhân với vóc hình cao to, nét mặt dữ tợn. Vị Sơn
Đại Nhân sẽ được thỉnh cung chiêu hồn trong khu vực dân cư sinh sống và đồng thời
cũng có trách nhiệm trấn giữ trong thành trong thời gian hành lễ. Hai bên tả, hữu của
lều Sơn Đại nhân là nơi dựng những cây nêu cầu thí của những gia chủ. Những cây
tre chừa ngọn, trên có tấm vải đỏ dài viết nội dung cầu tế, có đèn treo được dựng cao
lên. Hai hàng cây nêu hướng về phía khu thờ cúng chính là gian Chung Tổ đường.
Những mảnh vải đỏ tùy theo nội dung cầu tế mà khi hành lễ được kéo nối với các
gian thờ theo quy định. Nội dung cầu phúc thì nối vào Văn đàn, cầu thọ thì nối vào
Võ đàn.
Khu vực gian thờ chính gọi là Chung Tổ đường. Từ cổng thành vào Chung Tổ

23.2 Page 222

▲back to top
đường khoảng từ 30 đến 33 mét theo quy định chung. Nơi đây có ba gian thờ. Mặt
chính của Chúng Tổ đường nhìn ra phía cổng thành. Ở giữa là nơi thờ tổ tiên, nơi để
những bài vị, chân nhang của những người tổ chức, của các thí chủ tham dự và đăng
lĩnh. Bên phải là Võ đàn, nơi để bàn thờ Ngọc Hoàng và các vị thần linh, võ tướng
phối tự (có nơi cho là Võ đàn Tam Thanh: Thượng Thanh, Ngọc Thanh, Đại Thanh;
hoặc là Thái Thượng Lão quân). Bên trái là Văn đàn, bài trí thờ Tam bảo Phật mà
biểu trưng nhất là Quan Thế Âm. Phía bên trong mỗi gian thờ bài trí một bàn thờ,
trang trí nhiều giấy màu sặc sỡ, long mão gắn lông công, nhiều hình ảnh liên quan
đến những đối tượng cúng thờ trên. Có ba cửa chính ngang hàng, trên các cửa có
nhiều câu chữ Hán ca tụng công đức, sự hiển linh, báo đáp... của những đối tượng
được thờ.
Trong khu vực từ chỗ hàng nêu cầu thí đến Chung Tổ đường được dùng làm
đàn cho các thầy cúng hành lễ liên quan ngoài trời, bàn thờ tế, nơi dựng cây nêu lớn
(gọi là Cửu Lườn trúc), nơi tế sống vật tế (như bò, heo) và dựng đao cầu giải, hành
dẫn qua dãy than hồng… theo quy trình của lễ hội.
4.4. Nội dung các nghi thức chính của lễ hội
Bất kỳ cho một tiến trình, nghi thức nào liên quan trong lễ hội khi thực hiện
đều phải cúng trình dâng sớ, xin quẻ và được sự chấp thuận, đóng ấn của vị chủ trì
(Cam tù).
Trước ngày khai mạc, người nhận chức Tài Phán Xí vào dịp lễ này sẽ lập đàn
lên ngựa (thượng mã triều) tại gia đình. Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ buổi tối. Tham
dự lễ cúng này có vị Cam tù, Ban tổ chức, các môn đệ bà con dòng họ. Đây là một lễ
trọng đối với người chuẩn bị nhận chức bậc Tài Phán Xí. Lễ vật cúng gồm: heo, gà,
vịt (chín), nhang đèn... Khi làm lễ, cả hai vợ chồng người thầy cúng phải mặc lễ phục
để cúng. Họ phải trình cúng đến chư vị thần linh, tổ tiên và chuẩn bị lực lượng “binh
mã” cho một cuộc đến thành (nơi hành lễ), giữ nhận trách nhiệm quan trọng.
Vào ngày thứ nhất, buổi sáng, vị Cam tù chọn giờ tốt khai lễ. Thường vào
khoảng thời gian từ 8 đến 10 giờ sáng với các hoạt động múa lân mừng lễ tại miếu
Quan Âm và khu vực hành lễ.

23.3 Page 223

▲back to top
Tại gian Chung Tổ đương bày trang thờ làm lễ xin thánh chỉ Ngọc Hoàng cho
phép lập đàn chay. Các thầy cúng làm lễ rước bài vị, chân nhang nơi bàn thờ tổ tiên
của những người đăng cầu. Đoàn thầy cúng chia nhiều toán nhỏ, tiến hành những
nghi thức đọc kinh, xin quẻ, rước bài vị, chân nhang từ các gia chủ đến an vị trong
Chung Tổ đường. Trước khi bài vị, chân nhang an vị, đoàn thầy cúng thực hiện đi lại
3 vòng xung quanh khu vực hành lễ để kiểm tra, tiếp tục ấn pháp trai đàn. Mỗi bài vị,
chân nhang được an vị phải thông qua nghi thức phát sớ, gieo keo rồi trình, đốt sớ.
Buổi tối, một lễ cúng thí được thực hiện. Các đồ vật như tiền, mã, gạo, muối,
bánh, kẹo... được rải khắp khu lễ. Sau đó, thầy cúng làm lễ thỉnh mời các vị Tổ tiên,
Sư tổ, Phật tổ, thần thánh chứng giám cho cuộc lễ.
Ngày thứ hai tiến hành nghi dựng nêu bên Văn đàn và đăng đàn cho Tài Phán
Xí. Tại hương án trước Chung Tổ đường thỉnh lễ thần Công Tào (người có nhiệm vụ
trình tấu sớ - hình ảnh ngồi trên ngựa) lên Ngọc Hoàng và Phật tổ. Mỗi sớ trình của
các bên cầu an, cầu siêu và đăng tước thầy cúng đều thực hiện nghi trình và hỏa sớ.
Sau đó, các cây nêu bắt đầu dựng lên. Các thầy cúng hành lễ, khi đại diện cho
bên Phật (áo cà sa, mão Phật), bên Đạo gia (áo, mão hình âm dương), bên Thánh gia
(áo bào, mão bình thiên) làm lễ bên các cây nêu mà gia chủ có sở cầu. Trên các cây
nêu treo cuộn vải viết lời cầu, dưới gốc bày bát nhang và lễ vật cúng Thổ địa. Thầy
cúng vận phục như Tam Tạng cúng thí và tụng kinh Sám hối. Sau đó, các dây vải từ
cây nêu được kéo dài tới Văn đàn với ý niệm là chiếc cầu cho Thần, Phật đến dự,
chứng giám. Sau khi tụng kinh xong, thầy cúng làm lễ báo hoàn nghi trước đàn của
Sơn Đại nhân.
Nghi thức đăng đàn tước vị cho thầy cúng nhận chức Tài Phán Xí trước Võ
đàn. Các thầy cúng làm lễ trấn đàn với hình thức vừa đi vừa đập gậy tung giấy bùa.
Sau đó, trải tấm vải đen từ Võ đàn đến bàn hương án trước Chung Tổ đường. Trên
bàn hương án bày nhiều lễ vật và bằng chức sắc của Tài Phán Xí. Chúng được
khiêng diễu hành 7 vòng ở khu vực hành lễ trong tiếng nghinh tấu của nhiều loại
nhạc khí rồi dừng lại nơi cổng thành. Lúc này, 2 tướng quân vào quan sát lại chay
đàn. Khi báo mọi việc tốt đẹp, đoàn thầy cúng và các gia chủ do pháp sư dẫn đường

23.4 Page 224

▲back to top
tiến vào Võ đàn. Trên đường vào, các pháp sư vừa đi vừa làm động tác múa trừ tà,
trấn quỷ không cho chúng xâm phạm. Tiếp theo, lực lượng thầy cúng thực hiện
nhiều nghi bên các gian thờ trung tâm. Mỗi nghi cúng đều thực hiện đầy đủ lễ vật,
trình và hỏa sớ kết thúc.
Ngày thứ ba khai nghi dựng nêu bên Võ đàn và thỉnh Sơn Đại nhân chiêu vong
hồn. Các pháp sư hành nghi thức dựng nêu bên Võ đàn giống như bên Văn đàn. Bên
Võ đàn các cây nêu được dùng nhiều hơn và có treo đèn dầu trên mỗi cây. Đây là
những cây nêu mà gia chủ cầu lợi, cầu phước, cầu thọ, cầu tự… cho người sống.
Những sở cầu trên vải từ cây nêu được bắt cầu đến Võ đàn.
Sau đó, đoàn pháp sư thỉnh rước Sơn Đại nhân đi khắp những cung đường
trong thôn xóm tổ chức lễ để chiêu vong. Mỗi nơi Sơn Đại nhân được dừng lại thì
các pháp sư làm phép, tụng niệm pháp chu thu phục oan hồn. Đoàn thỉnh rước có
nhiều người dân đi theo dự.
Buổi chiều, thầy cúng hành lễ rước Thủy thần và cây nêu lớn (gọi là Cửu Lườn
trúc). Lễ rước Thủy thần tại bến sông, suối hoặc ao hồ đã được chọn trước. Nước
được rước về khu hành lễ được các thầy cúng làm phép để tẩy uế trừ tà trong các
nghi cúng. Cây nêu lớn được chọn từ trước. Đó là một cây tre với tiêu chí thẳng, cao,
không dây leo bám, có ngọn quay về hướng đông. Trước khi hạ cây, thầy cúng làm
phép cúng và người đóng kinh phí nhiều nhất cho lễ được khởi nhát chặt đầu tiên.
Khi hạ cây phải tuân thủ theo quy tắc một cách cẩn trọng: không cho thân cây chạm
đất để giữ tính thiêng. Khi rước về khu hành lễ đặt trên giàn đỡ chờ đến ngày làm
phép dựng. Nơi để Cửu Lườn trúc kiêng kỵ nhiều điều: Khi chưa dựng không ai
được chạm đến, hay đi ngang qua...
Bắt đầu từ đêm thứ ba của lễ những đoàn ca kịch diễn tuồng, hát bội tại sân
khấu trong khu hành lễ.
Ngày thứ tư, nhiều nghi hội lễ được thực hiện liên tục. Sau những nghi cúng
cầu an, cầu phúc, hai bên Văn đàn, Võ đàn những cầu vải được cuộn lại trên mỗi cây
nêu. Lễ trảm tế vật sống khai cuộc. Vật tế sinh là bò và heo được buộc chầu trên giá
cây. Các pháp sư dâng sớ trình và làm phép từ dao trảm. Những thầy cúng trong vai

23.5 Page 225

▲back to top
tướng quân thực hiện nghi trảm một cách nhanh gọn. Các tướng quân tay xách đầu
vật tế rải huyết trên hai hàng chén bày dọc sân lễ cùng gạo, mắm, muối, bánh... với
quan niệm cho các vong hồn dự hưởng.
Cây nêu lớn được khởi dựng. Vị Cam tù và Tài Phán Xí thực hiện nghi làm
phép cho Cửa Lườn trúc. Một dải vải đỏ dài được treo từ ngọn sau đó cuộn lại buộc
phía dưới gốc. Trên dải vải thưng lời cầu an, cầu siêu và đăng tước cho thầy cúng.
Tại Chung Tổ đường và bàn hương án, vị Cam tù tiến hành thăng chức cho thầy cúng
nhận chức Tài Phán Xí và các bậc thầy cúng cấp dưới. Tất cả các nghi đều trình sớ
tấu, gieo quẻ xin keo và trao bằng chức. Sau nghi nhận bằng, những hành thức trong
lễ hội về sau do Tài Phán Xí chính thức điều khiển.
Vị Tài Phán Xí cùng các pháp sư tụng niệm kinh chú và dựng Cửu Lườn trúc.
Dải vải đỏ được các pháp sư cầm giữ đi quanh cây Cửu Lườn Trúc trong khi nhiều
thầy cúng thực hiện những nghi khởi binh phá ngục đưa hồn siêu thoát. Những nghi
hành lễ này thu hút nhiều người tham dự với các kiểu làm phép, động tác mang tính
phép thuật, kỳ bí. Những gia chủ cầu siêu đưa bát nhang thông luồn những cửa ngục
trước đàn Sơn Đại nhân cho đến hồi từng ngục bị phá hỏa.
Nghi dựng Chủ Lườn trúc an vị theo quan niệm là một điềm lành cho các nghi
cúng cầu an, cầu siêu đăng tước. Nó chứng cho những sở cầu, chức phong của bá
tánh, thầy cúng được Thần, Phật chứng giám, công nhận.
Tiếp theo sau là hội đấu thánh đăng. Thánh đăng là những đèn lồng được Ban
tổ chức thỉnh cho cuộc lễ. Tùy theo từng nơi tổ chức lễ mà có số lượng được quy
định cụ thể. Thông thường có 10 thánh đăng được đấu giá, còn nhiều loại đăng khác
chỉ thỉnh mừng. Ai có sở cầu chọn lộc thì tùy theo số tiền mà thỉnh thờ.
Thời gian đấu giá thánh đăng diễn ra sôi nổi, náo nhiệt. Mỗi thánh đăng đều có
những thành ngữ ứng những điều chúc tốt lành. Ví dụ như:
- Thánh đăng thứ nhất: Nhất bổn vạn lợi.
- Thánh đăng thứ hai: Song hỷ lâm môn.
- Thánh đăng thứ ba: Tam đa đại kiết.

23.6 Page 226

▲back to top
- Thánh đăng thứ tư. Tứ quí hưng long.
- Thánh đăng thứ năm: Ngũ phúc lâm môn.
- Thánh đăng thứ sáu: Lục mã phú trì.
- Thánh đăng thứ bảy: Thất tinh cao chiếu.
- Thánh đăng thứ tám: Bát tiên chúc thọ.
- Thánh đăng thứ chín: Cửu tử đăng khoa.
- Thánh đăng thứ mười: Thập túc toàn diện.
Mỗi thánh đăng khi được giới thiệu, người nào có sở cầu tương ý thì đấu.
Người nào đấu thắng thì được thỉnh về thờ.
Buổi chiều, nghi thượng đao giải oan khai lễ. Hai cây gỗ to, chắc được làm
phép dựng lên song hành. Trên mỗi cây buộc 12 con dâo tạo thành bậc thang hai đầu
đều có phần lưỡi chìa ra. Một cây buộc dao ngửa, một bên buộc dao úp tượng trưng
cho âm dương hài hòa. Hai pháp sư trước khi leo lên cầm lắc lệnh và con gà sống làm
phép trấn cho thượng đao. Hai pháp sư thực hiện những động tác múa vặn cổ gà cho
huyết văng ra tẩy uế, đuổi tà nhập, lắc lệnh khua liên hồi với các điệu nhảy như lên
đồng. Hai pháp sư rửa chân và quỳ trên thang đao thứ nhất cho vị chủ trì đóng ấn vào
hai bàn chân trước khi thượng đao. Trên ngọn đao, hai pháp sư phun nước làm phép,
thổi tù và tựu thần linh, ma quỷ, tổ tiên về nghe lời kinh giải oan. Pháp sư thổi tù và
trước mỗi nội dung lời kinh được đọc lên. Kinh giải oan theo thứ tự: giải người chú
trời đất, chú Tổ Công thần, giải việc không biết quí trọng hương hỏa, giải kẻ nghịch
bất ân với cha, giải việc tiền công tô thuế, giải cho gia cầm lục súc, giải vợ chồng bất
thuận bất hòa, giải cho huynh đệ tương tranh, giải cho cửu tộc oan gia, giải cho
chúng sanh bất cập. Ngoài những kinh trên, nếu gia chủ nào có nhu cầu cần giải thì
đăng dung trên sớ đỏ thượng lên cho pháp sư cầu giải. Thông thường, số gia chủ cầu
giải rất nhiều. Lễ giải oan kéo dài hàng mấy giờ đồng hồ. Khi tụng kinh xong, các
pháp sư hạ dao. Khi rời khỏi bậc dao nào là phải gỡ dao đó xuống cho đến bậc dao
cuối cùng.
Vào buổi sớm sáng ngày thứ năm (khoảng 2 giờ), bắt đầu nghi thức đi qua dãy

23.7 Page 227

▲back to top
than hồng. Dãy than hồng dài 3m, được chuẩn bị và làm phép cúng, trấn trong đêm
khuya. Hai đầu dãy than hồng bày hai đàn và bàn thờ tả hữu. Tại đây, các pháp sư và
tướng quân thỉnh rước bốn vị giám lễ (tượng trưng bằng bốn tranh vẽ) thỉnh thượng.
Các pháp sư bưng bài vị Tổ và những người tham gia có sở cầu, chân nhang tại
Chung Tổ đường xin quẻ keo trước khi hành diễu. Khi keo ứng, những người thung
bát nhang được theo pháp sư làm lễ rửa chân, tẩy uế, được niệm ứng chú và nối bước
chậm rãi qua dãy than hồng. Khi đã qua khỏi dãy than phải bước qua chảo than nhỏ
và chờ xin keo thuận của Tổ. Nếu keo thuận thì bát nhang sẽ được đưa về an vị tại
Chung Tổ đường. Sau đó, nghi hành diễu qua than hồng dành cho những người tham
dự lễ có tâm niệm hướng cầu điều phúc, sở nguyện. Những nghi thức đều được pháp
sư tiến hành cẩn trọng. Nghi kết thúc khi các thầy cúng tay thưng những vật tế sống
đi ngược hướng người đi qua dãy than. Dãy than được tải ra rồi gom lại thành đống.
Buổi sáng thứ năm bắt đầu nghi cúng thí tiễn Thần, Phật, Tổ về nơi an vị trước
khi được thỉnh mời dự lễ. Từng gia chủ thỉnh an bài vị, chân nhang trở về nhà. Mọi
nghi đều có lễ vật trình và do thầy cúng tụng niệm kinh chú, làm phép.
Nghi xô gian cúng thí kết thúc lễ hội diễn ra vào buổi tối và đông đảo người
tham dự. Từ đàn chay, hình nộm các hình nhân, cây nêu, hàng mã, tranh vẽ bùa chú...
được hỏa kết và lễ vật cúng nhiều loại được rải thí khắp sân lễ. Cây Cửu Lườn trúc
được hạ xuống và được phân chia cho những Mạnh Thường quân có công đóng góp
tiền của nhiều cho lễ như một chứng phúc của Thần, Phật, Tổ. Những người tham dự
lễ xô giàn cúng thí tranh đua trong cảnh náo nhiệt để lấy những vật cúng hỏa kết,
cúng thí với ý niệm giành giữ cho bản thân những lộc mà Thần, Phật, Tổ đã chứng
ứng. Như vậy, họ sẽ được toại nguyện trong sở cầu, tâm nguyện của mình trong lễ
hội.
***
Đây là lễ hội truyền thống của cộng đồng người Hoa chuyên canh về nông
nghiệp. Lễ hội có quy mô lớn, diễn ra trong nhiều ngày với nhiều nghi thức mang
tính dung hợp từ nhiều tín ngưỡng. Trong đó những nghi thức của Đạo giáo chiếm
vai trò chủ đạo do lực lượng các pháp sư chủ trì và hành lễ. Nguồn quỹ thu được

23.8 Page 228

▲back to top
trong lễ hội được dùng cho các hoạt động liên quan đến cơ sở tín ngưỡng và một
phần dùng cho đóng góp phúc lợi xã hội.
5. Lê Cầu Siêu
5.1. Nguồn gốc, mục đích lễ
Cộng đồng bang, hội của người Hoa thường có một khu nghĩa địa riêng (gọi là
nhị tỳ). Trong khu vực nhị tỳ, người Hoa xây một nghĩa từ để đặt các bài vị của
người quá cố. Trong ý niệm tương đồng như bao dân tộc khác, người Hoa tin vào
một thế giới bên kia của người chết. Thế giới của cõi âm đó vẫn có những nhu cầu
thiết yếu trong sự tồn tại. Thế nhưng, điều quan trong hơn là linh hồn của mỗi người
sau khi chết. Người sống quan niệm rằng, đã là chúng sinh thì sau khi chết cần phải
được cầu siêu nhằm để giải thoát khỏi những nghiệp chướng do đã gây thuở sinh
thời. Sau khi chết, một linh hồn được siêu thoát cần phải tổ chức cầu siêu liên tục
trong 3 năm liền. Vì vậy, khi tại nghĩa từ có tổ chức lễ cầu siêu thì những nhà có
người chết chưa quá hạn 3 năm thì họ tham dự vào lễ. Điều đó, cho thấy mục đích
của lễ cầu siêu là nhằm cầu độ cho linh hồn của những người chết. Lễ được tổ chức
tại các nghĩa từ, trong phạm vi nghĩa địa của bang hội.
Lễ cầu siêu của người Hoa được tổ chức vào dịp Trung ngươn, tức ngày 15
tháng 7 (âm lịch), kéo dài hai đến ba ngày. Theo quan niệm đạo giáo dân gian tháng
bảy là tháng “trực phá” - tháng phá địa ngục. Rằm tháng bảy còn được gọi là ngày
vía Địa quan giải ách. Những linh hồn sau khi chết đều bị giam cầm tại địa ngục.
Chính nơi đây sẽ diễn ra những nghi xét hỏi công tội của mỗi người thuở sinh thời.
Ai có công thì linh hồn được giải thoát, còn ngược lại sẽ bị cảnh giam cầm, đày ải,
nhục hình của địa ngục.
Ngày Rằm tháng bảy theo phật giáo là ngày lễ Vu lan. Lễ Vu lan có gốc gác từ
Kinh Vu Lan Bồn, có nhắc đến tích chuyện Mục Kiền Liên cứu mẹ là Thanh Đề.
Mục Kiền Liên là một trong những đệ tử của Đức Phật, luyện được sáu phép thần
thông. Mục Kiền Liên một hôm nhìn thấy cảnh mẹ sống trong đói khổ quỷ đày tại địa
ngục. Thanh Đề thuở sinh thời ghét những vị sư trọng phú, khinh bần nên lấy thịt chó
làm nhân bánh cúng dường nên đắc tội. Mục Kiền Liên thương mẹ nên dùng phép

23.9 Page 229

▲back to top
đưa cơm dâng mẹ. Bởi đắc tội nên Thanh Đề không thể ăn được cơm vì khi cơm đến
miệng thì hóa thành lửa. Tìm đến Đức Phật, Mục Kiền Liên xin chỉ dạy cách cứu độ.
Theo lời khuyên, Mục Kiền Liên sắm lễ vật để trong chậu Vu Lan cúng dường nhờ
chư tăng Phật nhân ngày an cư tự tứ chú nguyện, chuyển nghiệp cho vong nhân vào
ngày Rằm tháng bảy. Nhờ vậy, Thanh Đề thoát khỏi âm cung, sau đó tỉnh ngộ hướng
thiện không còn bị đọa đày.
Có một số tích chuyện giải thích về ngày Rằm tháng bảy, nhưng chung quy
đều hướng đến việc xá tội vong nhân. Nhân ngày lễ Rằm tiết Trung ngươn, (nguyên)
người Hoa tổ chức lễ cầu siêu để cứu độ cha mẹ, tổ tiên, người thân quá cố.
5.2. Bài trí và các nghi cúng lễ
Việc chuẩn bị lễ rất chu đáo. Bang, hội thông báo cho thành viên biết để tham
gia đăng ký cầu cúng. Thông thường, mỗi hộ gia đình có người thân bị chết đăng ký
một bài vị. Bài vị được viết trên giấy màu vàng, mỗi bài vị có thể ghi một hay nhiều
tên người chết nếu có cùng quan hệ huyết thống. Chính giữa bài vị ghi tên người quá
cố (tên ghi màu đen, họ ghi màu đỏ), góc dưới bên trái ghi tên người đăng ký cầu
siêu, còn gọi là dương thượng (họ và tên người dương thượng ghi màu đỏ). Bên dưới
bảng đăng ký các bài vị lập bàn thờ để người dương thượng thắp nhang, dâng cúng
trái cây, hoa quả rượu trà bánh ngọt và giấy mã vàng bạc,... Trên bảng đăng ký bài vị
là hình tượng mắt Phật (Phật quáng) với quan niệm Phật soi sáng, dẫn dắt các oan
hồn.
Tại sân nghĩa từ, trước lễ cầu siêu phải dựng cây nêu. Đây là một cây tre được
chọn với tiêu chí: cao, to, không dây leo bám, không bị dị tật, ngọn tre lúc chưa đốn
phải quay về hướng đông. Cây nêu có một số điều kiêng kỵ nhằm giữ cho thiêng: quá
trình hạ và chuyển về nơi dựng nêu phải giữ cây không cho chạm xuống đất. Tuyệt
đối không cho người và súc vật bước ngang qua thân cây.
Trên ngọn nêu treo một đèn lồng. Ý nghĩa việc treo đèn là nhằm báo cho các
vong hồn thấy, biết mà tề tựu để dự lễ siêu thoát.
Dưới cây nêu bày bàn thờ, trên bàn thờ đặt bát nhang, bình hoa và các món
chay: 3 chén cơm, 3 đôi đũa, 3 ly nước, 3 ly rượu, bánh, trái. Mỗi ngày phải cúng đủ

23.10 Page 230

▲back to top
3 lần (sáng, trưa, chiều).
Bên phải cửa nghĩa từ lập gian thờ: Âm Dương Đô Tổng quản, người cai quản
các linh hồn cõi âm. Phía bên trong gian thờ bày bức tranh cảnh xét xử nơi âm phủ.
Mỗi ngày cúng chay một lần vào buổi sáng.
Bên trái cửa nghĩa từ lập gian thờ Ông Tiêu, người cai quản và phân phát
lương thực cho các linh hồn. Ông Tiêu được làm bằng khung tre, phết giấy bồi, màu
sắc sặc sỡ, tư thế ngồi, tay trái cầm cờ lịnh (xanh và đỏ), tay phải cầm lịnh bài, mặt
che một tấm vải, tọa trên đài cao. Phía dưới bày bàn thờ, đặt bát nhang, đèn dầu, đèn
cầy. Mỗi ngày cúng chay một lần vào buổi sáng. Trong thời gian diễn ra lễ, bá tánh
đến cầu siêu thường cúng Ông Tiêu bánh kẹo, giấy tiền vàng mã, để ông Tiêu ban
phát cho các linh hồn.
Chánh điện lập đàn chay. Chính giữa thưng ảnh thờ Phật Tổ. Qui mô đàn chay
tùy thuộc vào thầy tụng, nếu thầy tụng là người Phúc Châu thì chay đàn sẽ có 3 cấp.
Bậc cao nhất dành cho thầy chủ trì bậc tiếp theo dành cho các thầy xướng lễ, bậc cuối
dành cho các thầy giúp lễ. Hai bên chay đàn dựng các cặp liễn: một cặp đại diện cho
Phật Tổ, một cặp đại diện cho Quan Thế Âm Bồ tát. Gian thờ Phật được bố trí
chuông, mõ, nhang, đèn, và các lễ vật cúng chay.
Trước tiền điện lập bàn thờ cúng cô hồn và những linh hồn không có người
thân đăng ký bài vị cầu siêu. Bá tánh đến ủng hộ lương thực, thực phẩm như: gạo,
muối, nước tương... được bày tại đây cũng như phần lương thực Ban Tổ chức dùng
để phát chẩn. Mỗi ngày cúng chay một lần vào buổi sáng.
Phụ thuộc vào cấu trúc từng cơ sở tín ngưỡng mà cách bày đặt các bàn thờ có
khác nhau hay bày trên những bàn thờ vốn có. Thông thường, tại bàn thờ Thổ thần
đặt các lễ vật như: núi vàng (kim sơn), núi bạc (ngân sơn) và các lễ vật lương thực,
thực phẩm cúng làm theo hình như: tháp rau, tháp bánh, tháp đậu phộng, tháp kẹo,
(tháp dạng hình nón, làm bằng khung tre bồi giấy màu xanh, xung quanh đính lương
thực). Các lễ vật này do bá tánh đem đến cúng, với mục đích tạ ơn Thổ thần và thí cô
hồn. Mỗi ngày cúng chay một lần vào buổi sáng.
Tiền điện còn bố trí thuyền chở linh hồn. Thuyền làm bằng khung tre bồi giấy

24 Pages 231-240

▲back to top

24.1 Page 231

▲back to top
màu, trước mũi thuyền có tượng Tam Tạng, đuôi thuyền có tượng người chèo
thuyền. Thuyền trong lễ cầu siêu mang ý nghĩa chở linh hồn về nơi siêu thoát.
Tất cả những bàn thờ, đàn chay được bày đều tổ chức cúng từ ngày khai lễ cho
đến hồi nghi kết. Chủ in và thực hiện các nghi do lực lượng thầy cúng chủ trì bắt đầu
từ khi khai đàn. Số lượng thầy cúng không qui định, thường chủ trì cho một lễ có từ
10 người trở lên. Khi tiến hành các nghi tại đàn chay, thầy cúng mặc lễ phục vàng và
nâu, người giúp lễ đứng thành hai hàng ở hai bên bàn thờ Phật mặc lễ phục màu đen.
Các thầy cúng tụng kinh nhà Phật, thực hiện xin lễ và tiến hành các nghi thức:
mời Âm Dương Đô Tổng quản nhập điện thờ khai quan điểm nhãn Ông Tiêu (lúc
này tháo tấm vải che mặt), điểm nhãn bài vị, mời các linh hồn đến nghe giảng kinh
Phật.
Thời gian tụng kinh nhà Phật bắt đầu từ sáng sớm đến 12 giờ trưa mỗi ngày.
Sau 12 giờ đến tối là thời gian tụng kinh cầu siêu. Người Hoa quan niệm thời khắc từ
01 giờ đến 12 giờ là dương, sau 12 giờ đến 24 giờ là âm, nên kinh cầu siêu được đọc
sau 12 giờ chứ không nhất thiết phải vào ban đêm.
Trước khi kết thúc lễ cầu siêu, người Hoa có phong tục đốt giấy mã tiền vàng
mà rất nhiều. Đây là phong tục có nguồn gốc lâu đời Trong lễ cầu siêu, thứ tự hỏa kết
các lễ vật, linh nhân, đồ vật dâng cúng theo thứ tự sau:
- Hỏa kết Ông Tiêu: Trong quá trình diễn ra lễ cầu siêu, người Hoa giữ gìn
Ông Tiêu rất cẩn thận, không cho ai giật lấy một bộ phận nào của hình nhân ông
Tiêu. Để có sự toàn diện, mỹ mãn.
- Đốt thuyền chở bài vị: Trong thuyền khi chuẩn bị hỏa kết chứa những bài vị
đã đăng cầu làm phép.
- Đốt giấy tiền, vàng mã: Khi hỏa kết, người Hoa đốt cháy cho bằng hết thì
mới thôi. Những nguồn lương thực, thực phẩm và bánh kẹo và đồ thí do bá tánh cúng
lễ được phân phát cho người nghèo tham dự và sinh sống trong khu vực có tổ chức
lễ. Lễ cầu siêu của người Hoa mang tính cộng đồng của bang, hội. Qua lễ hội là sự
thể hiện tình cảm sâu sắc giữa những người đã chết theo quan niệm chung về một thế

24.2 Page 232

▲back to top
giới tồn tại song hành với thế giới thực hữu mà con người đang sống. Những nghi
thức trong lễ phản ánh tín niệm trong Phật giáo và cả Đạo giáo. Nhiều lễ hội không
còn chỉ bó hẹp trong cộng đồng của người Hoa theo tổ chức bang, hội mà thu hút
những người nào đó đăng cầu. Tính chất đó thể hiện tính cộng đồng trong lễ hội này
với những quan niệm chung về người chết.
Ths. Phan Đình Dũng và cộng tác viên
Tìm hiểu về cộng đồng dân cư bản địa Châu Ro – Châu Mạ ở
Đồng Nai
Đồng Nai là tỉnh có nhiều thành phần dân tộc cộng cư. Theo số liệu thống kê,
tỉnh Đồng Nai có 40 dân tộc sinh sống. Tộc người Châu Ro, Châu Mạ là cư dân có
mặt sớm trên vùng Đồng Nai. Theo các nguồn sử liệu, trước khi lưu dân Việt đến
Đồng Nai khẩn hoang lập nghiệp vào thế kỷ XVI, thì người Châu Ro, Châu Mạ cùng
các nhóm người Kơ Ho, Xtiêng đã từng cư trú và sinh sống. Chính vì vậy người
Châu Ro, Châu Mạ và những nhóm cư dân trên được xem là cư dân bản địa/ cư dân
gốc, cư dân tại chỗ của vùng Đồng Nai. Tộc người Châu Ro, Châu Mạ thuộc nhóm
loại hình nhân chủng Anhđônêdiêng, về mặt ngôn ngữ, thuộc ngữ hệ Môn - Khơ me,
dòng Nám Á, chưa có chữ viết riêng của dân tộc mình.
1. Tên gọi - dân số và địa bàn cư trú
Người Châu Ro được gọi bằng nhiều tên khác nhau. Một số tài liệu trước đây
gọi người Châu Ro là Ro, Tô, Xôp (Coop), hay Dơ Ro... Người Châu Ro tự gọi mình
là Chrau Jro với nghĩa: Chrau/ người, Jro/ tên bộ tộc. Về cá nhân, người Châu Ro có

24.3 Page 233

▲back to top
các họ thường gặp như Điểu, Thổ. Các họ như: Tòng, Lâm, Đào, Lý, Dương, Mai,
Hồng được cho là vua Minh Mạng ban cho sau này để làm họ.
Người Châu Mạ có nhiều tộc danh để phân biệt từng nhóm người ở các vùng
khác nhau như: Mạ Xộp, Mạ Tô, Mạ Blao, Mạ Dagui, Mạ ĐạĐơng, Mạ Ngăn, Mạ
Klị, Mạ Krung... Ở Đồng Nai, nhóm cộng đồng người Châu Mạ tự nhận tộc danh của
mình là: Mạ Krung, Mạ Klị (Hiệp Nghĩa - Định Quán)/ tức là nhóm người Châu Mạ
sống ở vùng bình nguyên, phía dưới so với nơi cư trú chính, đông đảo của dân tộc
Châu Mạ vùng cao nguyên Lâm Đồng; Mạ RàLài (Tà Lài - Tân Phú) là người Châu
Mạ sinh sống vùng Rà Lài. Theo cách lý giải của người Châu Mạ Rà Lài thì do đọc
chệch và phiên âm từ Rà Lài mới có địa danh Tà Lài từ thời Pháp duy trì cho đến
nay. Trong cộng đồng người Châu Mạ có cách đặt họ cho mỗi thành viên chủ yếu là
K’ (dành cho đàn ông) và Ka (dành cho phụ nữ); ví dụ như ông K’ Lêl, bà Ka Ròp...
Một số nguồn tư liệu cho biết, trên vùng đất Biên Hòa xưa - Đồng Nai ngày
nay nói riêng hay cả vùng Đông Nam Bộ nói chung, trước đây đã từng tồn tại một
“vương quốc” hay “công quốc” của dân tộc Châu Mạ. Nhiều thông tin từ thư tịch cho
thấy, khi ghi chép về vùng Đồng Nai cách đây hàng thế kỷ, các tác giả đã đề cập đến
nhóm cộng đồng các dân tộc ít người mà họ gọi là “Mọi”, “Man sách”. Chắc chắn
rằng trong nhóm cộng đồng “Mọi”, “Man sách” được nhắc đến ở vùng Đồng Nai có
nhóm cư dân Châu Ro, Châu Mạ (Phủ Biên tạp lục của Lê Quí Đôn; Gia Định
thành thông chí của Trịnh Hoài Đức; Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán
triều Nguyễn - tập V). Nhiều công trình địa phương chí về vùng Biên Hòa, Long
Khánh đầu thế kỷ XX còn liệt kê và chụp ảnh những vùng đất mà người dân tộc thiểu
số cư trú, trong đó có đề cập nhóm người Châu Mạ ở vùng núi Chứa Chan (nay thuộc
địa phận huyện Xuân Lộc), người Châu Ro vùng Gia Canh (thuộc huyện Định Quán)/
Monographic de la Biên Hoa 1901, 1924 và Cochinchine 1931. Từ năm 1971, nhà
nghiên cứu Bình Nguyên Lộc trong công trình đăng tải trên tập san Sử Địa Sài Gòn
cho rằng: Khu vực Biên Hòa và miền Đông Nam Bộ là địa bàn cư trú của người Châu
Mạ. Nhiều học giả đồng thuận với quan điểm này và còn cho biết thêm, ngay cả vùng
Sài Gòn xưa cũng thuộc phạm vi không gian văn hóa xã hội của nhóm cư dân Châu
Mạ, Châu Ro, Xtiêng (Địa chí Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh - tập I). Về nguồn

24.4 Page 234

▲back to top
gốc lịch sử và sự phân bố cư dân bản địa ở Đồng Nai, theo công bố của PGS. TS.
Phan Xuân Biên trong công trình “3OO năm hình thành và phát triển Đồng Nai”
thì “Xứ Đồng Nay được thành lập cách đây 300 năm bao gồm cả vùng đất Đông
Nam Bộ và một phần Nam Tây Nguyên. Nơi đây từ lâu đã là địa bàn cư trú của một
bộ phận cư dân Môn Khơme, mà theo sự xác minh thành phần dân tộc học đó là các
tộc người Châu Mạ, Châu Ro, Xtiêng, Mơ Nông. Kơ Ho. Các cộng đồng dân tộc
thiểu số này là hạt nhân cơ bản của vương quốc Mạ kéo dài từ vùng trung lưu đến hạ
lưu sông Đồng Nai. Sau này, do áp lực của nhiều luồng di dân và do hoàn cảnh lịch
sử xã hội vào khoảng thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX. người Châu Mạ và các tộc người
khác đã lùi hẳn về phía thượng lưu sông Đồng Nai và vùng miền núi Đông Nam Bộ.
Địa bàn tập trung dân tộc Châu Mạ nhiều nhất là vùng Đồng Nai Thượng/ nay thuộc
địa bàn của tỉnh Lâm Đồng. Một bộ phận của cư dân châu Mạ, Châu Ro trong quá
trình luân chuyển di cư đã chọn những vùng đất ở Đồng Nai sinh sống. Cụ thể là
vùng đồi núi, ven sông Đồng Nai thuộc địa phận của huyện Định Quán và Tân Phú
ngày nay”.
Từ các nguồn thư tịch và các công trình nghiên cứu cho thấy: Vùng đất Đồng
Nai là địa bàn cư trú của cư dân Châu Mạ, Châu Ro cùng với các nhóm cộng đồng
thiểu số khác: Xtiêng, Kơ Ho từ lâu đời. Do những biến động của lịch sử mà những
vùng cư trú của họ bị thay đổi và hiện tại tập trung khá đông ở các huyện Định Quán,
Tân Phú.
Hiện nay, trên địa bàn Đồng Nai, theo thống kê dân số ngày 1/4/1999 thì số
dân Châu Ro có khoảng 13.000 người (đứng hàng thứ 5/40 dân tộc sinh sống ở Đồng
Nai); sống tập trung chủ yếu tại ấp Lý Lịch, xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu; xã Túc
Trưng, huyện Định Quán; xã Xuân Vinh, xã Xuân Bình, thị xã Long Khánh; xã Xuân
Trường, xã Xuân Phú, xã Xuân Thọ... huyện Xuân Lộc. Một số hộ dân Châu Ro sống
rải rác ở huyện Long Thành, huyện Thống Nhất. Người Châu Mạ có khoảng trên
2.000 người (đứng hàng thứ 9/40 dân tộc). Phần lớn người Châu Mạ tập trung ở hai
huyện Tân Phú, Định Quán, có mặt trên 16 xã. Họ sống tập trung đông đảo ở các xã
Tà Lài (433 người), Phú Tân (156 người), Phú Bình (85 người) thuộc Tân Phú và ấp
Hiệp Nghĩa (722 người) thuộc thị trấn Định Quán. Hai địa bàn Tà Lài, Hiệp Nghĩa có

24.5 Page 235

▲back to top
số nhân khẩu đông đảo nhất và tập trung, thể hiện tính cộng đồng khá rõ nét so với
các địa bàn khác.
2. Cấu trúc xã hội, gia đình
Trước đây, người Châu Ro, Châu Mạ cứ trú thành từng làng (bon/ palây) với
một khu vực đất đai riêng biệt. Làng là một công xã thị tộc mọi người trong làng đều
có quan hệ huyết thống. Thậm chí làng còn là một công xã gia đình (cả làng là một
nhà) hoặc là một làng đại tông tộc (một làng có nhiều nhóm tông tộc). Mỗi làng
thường có từ một hay nhiều nhà sàn dài mà trong đó cư trú nhiều thành viên, thế hệ
của một dòng họ. Xưa kia, người Châu Ro, Châu Mạ theo chế độ mẫu hệ, vai trò
người phụ nữ được đánh giá cao trong cộng đồng. Trong cộng đồng, uy thế của vị tộc
trưởng được đánh giá cao; trên đó là ban hội của các tộc trưởng có vị già làng chỉ
huy.
Ngay từ thời thực dân Pháp xâm chiếm, hội đồng già làng của buôn làng người
Châu Ro, Châu Mạ không còn duy trì mà thay vào đó là hệ thống chính quyền do nhà
nước thực dân lập ra. Những làng người Châu Mạ thường được ghép vào đơn vị
tổng, ở đó thực dân Pháp chọn ra một người trong cộng đồng Châu Mạ làm Cai tổng.
Đến thời kỳ của chính quyền Sài Gòn, buôn làng người Châu Ro, Châu Mạ thực hiện
theo qui định của chính quyền đương thời. Đặc biệt, số người Châu Ro, Châu Mạ bị
dồn ép vào ấp chiến lược, sống tập trung. Một số người Châu Ro, Châu Mạ khác thì
sống rải rác trong vùng rừng núi, vùng căn cứ kháng chiến cách mạng. Sau ngày đất
nước thống nhất, người Châu Ro, Châu Mạ được Nhà nước ta khuyến khích tập trung
sống trong các khu định canh, định cư. Cấu trúc gia đình của người Châu Ro, Châu
Mạ so với trước đã có nhiều thay đổi. Từng hộ gia đình nhỏ được xác lập, vai trò của
người đàn ông được coi trọng trong gia đình. Về mặt xã hội, người Châu Ro, Châu
Mạ sống theo khuôn khổ và tuân thủ hệ thống chính quyền của Nhà nước ta quy
định. Trong đó, cũng như các cộng đồng dân tộc khác đều bình đẳng theo hiến pháp,
pháp luật của Nhà nước.
Xã hội người Châu Ro, Châu Mạ qua các giai đoạn lịch sử chưa phân hóa giai
cấp rõ rệt.

24.6 Page 236

▲back to top
Cấu trúc xã hội và gia đình của người Châu Ro, Châu Mạ có nhiều thay đổi.
Trong sinh hoạt gia đình, tàn dư chế độ mẫu hệ, cư trú bên vợ còn khá phổ biến. Thời
kỳ nửa sau của thế kỷ XX với sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố, chế độ đại gia đình tan
rã, hình thành nên những tiểu gia đình vốn xuất thân là những gia đình hạt nhân, gia
đình tế bào trong cấu trúc gia đình trước đây. Cùng với sự phát triển đó, trong sinh
hoạt gia đình đã xuất hiện chế độ phụ hệ. Hiện nay, gia đình người Châu Ro, Châu
Mạ là tế bào độc lập, được cấu kết bởi những thành viên chính chồng vợ và con cái.
Con cái trong gia đình khi thành lập gia đình thường tách ra lập hộ gia đình mới. Vì
vậy, khác với trước đây, trong hộ gia đình người Châu Ro, Châu Mạ không còn tập
trung nhiều thế hệ. Đời sống xã hội của người Châu Ro, Châu Mạ tiếp xúc và tiếp
biến với văn hóa của các cộng đồng dân tộc khác, chủ yếu là người Việt, có nhiều tác
động tích cực đến với cộng đồng họ về nhiều mặt.
3. Đời sống kinh tế
Trước đây, kinh tế nương rẫy đóng vai trò chủ đạo trong đời sống của người
Châu Ro, Châu Mạ. Sống trong môi trường địa lý vùng rừng núi, sản xuất nông
nghiệp Châu Ro, Châu Mạ mang tính chất tự cung tự cấp và hoàn toàn dựa vào thiên
nhiên. Rẫy của người Châu Ro, Châu Mạ là rẫy đa canh. Ngoài lúa còn trồng nhiều
loại cây khác như bầu, bắp, bí, thuốc lá, bông vải. Năng suất của rẫy tùy thuộc vào
loại đất và thời tiết hơn là loại giống. Do kinh nghiệm còn thấp, kỹ thuật canh tác lạc
hậu nên thu hoạch mùa màng của họ không cao.
Ngoài việc làm nương rẫy, trồng lúa nước, người Châu Ro, Châu Mạ còn khai
thác tài nguyên rừng như săn bắt, hái lượm để tăng thêm mức sống cho gia đình.
Trước đây, rừng còn nhiều và những chính sách về bảo vệ rừng chưa chặt chẽ, việc
khai thác tài sản của rừng của người Châu Ro, Châu Mạ rất thuận tiện, đóng góp tích
cực trong đời sống của họ. Ngày nay, nghề đi rừng của người Châu Ro, Châu Mạ còn
duy trì nhưng hạn chế. Người Châu Ro, Châu Mạ cũng đã biết đến chăn nuôi gia súc,
gia cầm nhưng cũng không phát triển mạnh.
Nghề thủ công như: rèn, đan lát, dệt phát triển trong cộng đồng người Châu
Ro, Châu Mạ còn duy trì nhưng cũng vì nhiều lý do mà ngày nay không còn nhiều

24.7 Page 237

▲back to top
như trước đây. Chỉ có nghề dệt thổ cẩm là còn duy trì và đã trở thành một nguồn thu
nhập đáng kể với người Châu Mạ ở vùng Hiệp Nghĩa/ Định Quán và Tà Lài/ Tân
Phú. Ở vùng Tà Lài, Hiệp Nghĩa, trước đây, bất kỳ nhà người Châu Mạ nào cũng có
dệt thổ cẩm. Họ trồng bông, làm thuốc nhuộm, cán bông, kéo sợi... nói chung, từ
khâu nguyên liệu cho đến hoàn thành sản phẩm thổ cẩm là một chu trình khép kín mà
họ hoàn toàn tự túc. Người Châu Mạ tạo nên những sản phẩm thổ cẩm rất đẹp với
những cách trang trí hoa văn tinh tế, sắc sảo tùy thuộc vào từng loại với mục đích sử
dụng. Giờ đây, những công cụ như cán bông, quay tơ, kéo sợi họ không còn dùng
đến. Để dệt thổ cẩm, người Châu Mạ chỉ cần mua sợi thương phẩm và dệt thủ công.
Thổ cẩm của người Châu Mạ ở vùng Tà Lài, Hiệp Nghĩa cung cấp cho các vùng khác
không chỉ ở trong địa bàn Đồng Nai mà còn vươn đến các tỉnh khác, nó không chỉ
đáp ứng nhu cầu sử dụng trong cộng đồng Mạ mà các cộng đồng dân tộc khác như
Châu Ro, Kơ Ho, Xtiêng. Thế nhưng, nghề dệt thổ cẩm này đang phát triển tự phát,
không có tính chất bền vững. Trong chương trình phát triển kinh tế cộng đồng, Nhà
nước và các tổ chức đã đầu tư phát triển nhưng chưa có kế hoạch lâu dài.
Ngày nay, dưới chính sách dân tộc của Nhà nước, dân tộc Châu Ro, Châu Mạ
cũng như các nhóm cộng đồng dân tộc thiểu số được quan tâm, tạo điều kiện thuận
lợi bằng nhiều hình thức để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống. Nhiều hộ dân tộc
Châu Ro, Châu Mạ được vay vốn phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo một cách
thiết thực. Con em người Châu Ro, Châu Mạ được đến trường, học hành, văn hóa
được đầu tư... Thế nhưng, có nhiều nguyên do mà đời sống kinh tế của họ vẫn còn
nhiều khó khăn. Chỉ một số ít trong số đông của người Châu Ro, Châu Mạ thoát khỏi
cảnh đói nghèo. Đời sống kinh tế, xã hội của cư dân Châu Ro, Châu Mạ để vượt qua
ngưỡng cửa của đói nghèo, nâng cao dân trí, ngoài chính sách hỗ trợ, đầu tư ưu tiên
của Nhà nước, đòi hỏi một sự nỗ lực không ngừng của chính cộng đồng họ .
4. Phong tục tập quán
Trong hoàn cảnh điều kiện sống hiện nay, một số tập quán của người Châu Ro,
Châu Mạ không còn được duy trì. Thế nhưng, nó cũng còn những ảnh hưởng khá rõ
nét trong đời sống của cộng đồng cư dân Châu Ro, Châu Mạ.

24.8 Page 238

▲back to top
Trước đây, người Châu Ro, Châu Mạ ở nhà sàn. Trong nhà sàn là sự quần trú
của đại gia đình nhiều thế hệ. Sự phân chia chỗ ở cho thành viên được quyết định bởi
người chủ gia đình, thường theo thứ tự của đầu nhà phía đông hay phía đầu tiên cho
người lớn tuổi. Nhà bếp thường được bố trí phía trái cửa ra vào của nhà sàn. Khi
bước vào nhà là gian nhà bếp, phòng chung (tụ họp gia đình và đón khách), kế đến là
các gian buồng của các thành viên được chia ngăn. Tập quán này ngày nay có nhiều
thay đổi.
Trang phục cổ truyền qua một số hình ảnh chụp hồi đầu thế kỷ XX cho thấy
người đàn ông Châu Ro, Châu Mạ đóng khố, người phụ nữ mặc váy, phần bụng trở
lên để trần. Để giữ thân vào mùa lạnh người Châu Ro, Châu Mạ thường khoác lên
một tấm chăn có lỗ chui đầu. Hiện nay, chỉ có cộng đồng Châu Mạ dệt thổ cẩm có
các loại váy áo chui đầu có tay, dây quấn đầu hay buộc ngang bụng với kiểu dáng
hiện đại. Những loại trang phục này có ảnh hưởng yếu tố bên ngoài, chỉ sử dụng
trong các dịp lễ hội hay trong các đợt biểu diễn văn nghệ. Một bộ phận người Châu
Ro trên địa bàn Đồng Nai không có trang phục cổ truyền, họ sử dụng thổ cẩm người
Châu Mạ. Một số khác sử dụng những sản phẩm thổ cẩm được bán trên thị trường
không rõ xuất xứ hay có sự pha trộn nhiều yếu tố không thuần nhất. Điều này đã làm
cho nhiều nhà nghiên cứu mới xâm nhập, điều tra dân tộc học dễ bị nhầm lẫn về trang
phục cổ truyền của người Châu Ro, Châu Mạ. Hiện nay đại đa số người Châu Ro,
Châu Mạ sử dụng loại quần áo với các loại vải giống như người Việt.
Đồ trang sức cổ truyền của người của người Châu Ro, Châu Mạ chủ yếu là dây
đeo cổ được kết nối bằng những hột chuỗi nhiều màu sắc; lục lạc, vòng đồng đeo
chân, đeo cổ và ngà voi đeo tai (người Châu Mạ). Những loại trang sức này hiện vẫn
còn lưu giữ trong cộng đồng nhưng chỉ có các sợi dây và lục lạc là còn phổ biến
Trong chu kỳ đời người, có những phong tục gắn liền với bản thân hay cộng
đồng cư dân Mạ với những thời điểm: sinh đẻ cưới hỏi, tang ma.
Phụ nữ Châu Ro, Châu Mạ khi sinh đẻ có lắm điều kiêng cữ. Trước đây, người
Châu Ro cất hẳn một cái chòi cho người phụ nữ đến kỳ sinh nở. Những cây cột được
chọn làm chòi phải suôn, thẳng, không có dây đeo bám. Cửa vào chòi hướng về phía

24.9 Page 239

▲back to top
không có cây cối, gò ụ che chắn. Người Châu Mạ chọn một góc trong nhà dọn dẹp,
ngăn vách cho người phụ nữ sống trong thời gian sinh con. Mọi thành viên trong gia
đình đều có nghĩa vụ săn sóc cho người phụ nữ và đứa bé được sinh ra đời. Thời gian
ở cữ thường kéo dài từ 7 đến 9 ngày. Trong trường hợp bà mẹ sinh khó con cái bịnh
tật, người nhà thường hái lá cây rừng/ một trong những vị thuốc cổ truyền được cộng
đồng dùng từ bao đời, làm thuốc để hỗ trợ, dưỡng bệnh. Cũng có trường hợp cúng
bái, thường là do các bà mụ ở buôn làng đảm trách. Sau thời gian ở cữ người mẹ và
đứa trẻ mới dược bước đến gian nhà chính.
Đứa trẻ khi được sinh ra, vài ngày sau thường được bà mẹ đem ra suối gần nhà
tắm rửa với ý niệm: Bệnh tật sẽ trôi theo sông nước, đứa trẻ khỏe mạnh. Trong tuần
lễ đầu sau khi sanh, bà mụ dùng miếng tre nứa tượng cắt rốn cho đứa trẻ. Khi đứa trẻ
bị bệnh, người mẹ bồng con với khúc cây mang theo đến một cái giếng gần nhà nhất,
đọc lời khấn cho bệnh tật, ốm yếu của đứa con nhập vào khúc cây thế mạng cho con
mình, rồi quăng khúc cây xuống giếng với lòng tin đứa trẻ lành bịnh. Khi trong nhà
có phụ nữ sinh đẻ, người Châu Ro, Châu Mạ để những dấu hiệu cho nhiều người biết
như cành cây tươi cắm trước cửa để không có ai quấy rầy cũng như đến trong thời
gian ở cữ Họ rất kiêng kỵ người lạ vào nhà trong thời gian này vì sợ ma quỷ theo
khách vào nhà quấy nhiễu đứa trẻ vốn còn non nớt. Khi đặt tên đứa trẻ, người nhà tổ
chức lễ cúng tạ bà mụ và lựa tên, sau đó cúng các thần linh tổ tiên khẩn cầu sự phù
hộ, độ mạng cho đứa trẻ mau lớn.
Về hôn nhân, thanh niên Châu Ro, Châu Mạ lớn lên được tự do tìm hiểu, bày
tỏ tình cảm qua những lần gặp gỡ, tiếp xúc. Trước đây, khi chọn dâu, rể, các bậc cha
mẹ thường đánh giá vào năng lực làm việc, sức khỏe, và đức hạnh. Muốn chọn rể, họ
xem công cụ của người con trai như chà gạc, gùi, dao... có bền, chặt bén hay không.
Chọn dâu họ xem nhà bếp có ngăn nắp hay cẩu thả dơ dáy và chú ý xem cô gái có bị
cộng đồng lên tiếng dèm pha hay không?
Khi đôi trai gái ưng thuận nhau, chàng trai thưa chuyện với cha mẹ, nếu được
chấp thuận thì nhà trai nhờ một người trong họ hàng gần, đứng tuổi làm mai đi dạm
hỏi. Khi đến nhà gái, chàng trai mặc chiếc khố tua đỏ, tay đeo nhiều vòng đồng, tóc

24.10 Page 240

▲back to top
cài lược sừng trâu, búi tóc cắm hai lông chim trắng dài. Đến trước nhà gái, chàng trai
cắm mũi lao xuống đất, vai vẫn vác chà gạc, lưng đeo dao. Khi họ hàng nhà gái ra
đón, chàng trai trình bày mục đích, nếu được thuận tình chàng trai rút dao bước vào
nhà, đến khấn trước các bàn thờ Yang và dắt dao lên mái nhà để đó 7 ngày. Hai gia
đình vui mừng tiệc tùng, uống rượu cần vui vẻ. Sau đó nhà trai đi về, chàng trai ở lại
nhà gái tham gia làm lụng ở đây như một thành viên trong gia đình. Tuy chàng trai ở
lại nhà gái và được đồng ý nhưng họ không được ngủ chung trong nhà mà phải làm
một túp lều ở một khu vườn để sống với nhau. Cô gái trang sức rất đẹp bằng cách đeo
nhiều chuỗi vòng, chuỗi hạt cườm hoặc vỏ ốc đẹp, tóc có lược gài và dao cán sừng.
Váy mặc được trang trí hoa văn tinh tế, có nhiều tua đỏ rất đẹp. Hầu hết, mỗi thiếu nữ
Châu Ro, Châu Mạ chọn hay tự dệt cho mình một chiếc váy thật đẹp để mặc trong
những ngày trọng đại.
Lễ vật chàng trai đem đến nhà gái: một cái ché, một con gà đã làm thịt, các đồ
trang sức như vòng, lược, chuỗi hạt cườm... và các thứ do nhà gái yêu cầu từ trước.
Khi tổ chức lễ cưới, chàng trai còn đem đến nhà cô gái nhiều thứ khác như: tiền, gạo,
rượu cần, bộ cồng, trâu hoặc heo... Đám cưới tiến hành bên nhà gái. Thầy cúng trong
làng được mời tới tổ chức cúng lễ cho tổ tiên, thần linh và cầu cho đôi vợ chồng trẻ.
Người ta mổ trâu, làm heo đãi làng, ca hát nhảy múa, vui chơi. Thường lễ cưới diễn
ra vui vẻ, kéo dài tùy theo kinh tế hai bên gia đình. Đôi vợ chồng trẻ trao vòng tay,
cổ, chân cho nhau và cùng ăn gan heo thể hiện lời thề sống với nhau hạnh phúc.
Chàng trai phải ở lại nhà vợ. Hình thức này phản ánh tục bắt chồng trước đây và tàn
tích của chế độ mẫu hệ. Ở nhà vợ một thời gian khoảng vài năm, nếu người đàn ông
muốn đưa vợ ở riêng hoặc về bên nhà mình thì nộp một số lễ vật cho gia đình vợ
theo yêu cầu.
Ngày nay, trai gái Châu Ro, Châu Mạ cũng được tự do tìm hiểu, nhưng những
nghi thức trong lễ cưới cổ truyền không còn được duy trì. Phần lớn, người Châu Ro,
Châu Mạ tổ chức đám cưới theo những nếp đời sống hiện tại của người Việt và một
số theo nghi thức tôn giáo mà những gia đình đang theo. Nhưng một số hình thức cổ
truyền vẫn duy trì như mang cồng chiêng theo trong ngày cưới, trình bày cho dòng
họ, tổ tiên...

25 Pages 241-250

▲back to top

25.1 Page 241

▲back to top
Chế độ hôn nhân một vợ một chồng được xác lập bền vững trong cư dân Châu
Ro, Châu Mạ. Người Châu Ro không lấy vợ cùng họ tộc nhưng hình thức hôn nhân
con cô con cậu được phép. Người Châu Mạ trong trường hợp con cô con cậu ba đời
thì mới được lấy nhau nhưng phải được hai bên cha mẹ đồng thuận. Trước đây, trong
xã hội cổ truyền, còn bảo thủ tục “nối dây”, tức người chồng hoặc vợ vì nguyên nhân
nào chết trước thì trong gia đình các thành viên được kết nối sống chung thay thế
nhưng nay hoàn toàn xóa bỏ. Ngoại tình là một hình thức vi phạm bị xem là phạm
luật tục bị phạt nặng do dòng họ, gia đình hay làng phân xử. Thường số lễ vật bị phạt
rất nặng nhằm đề cao sự chung thủy cho các đôi vợ chồng. Hình thức ly dị cũng ít
khi xảy ra trong cộng đồng người Châu Ro, Châu Mạ. Nếu có xảy ra thì người chủ
động trong ly hôn phải nộp lễ vật cho vợ (hoặc chồng) theo sự đòi hỏi của phía bên
kia. Người Châu Mạ còn có tục bỏ mả, tức vợ hoặc chồng chết. Sau ba năm mới
được tái giá. Nếu người nào vi phạm trong trường hợp trên sẽ bị phạt gấp đôi lễ thách
cưới trước đây.
Về tang ma, khi nhà người Châu Ro, Châu Mạ có người thân chết thì gia quyến
khóc than, nổi trống chiêng bằng âm thanh bằng âm điệu dành cho ma chay mà dân
làng đến viếng, chia sẻ. Những người đàn ông vào rừng, tìm cây gỗ tốt để đóng hòm.
Nếu gia cảnh người chết không có đủ điều kiện thì họ bó xác bằng chăn, chiếu và nẹp
tre. Xưa kia, người Châu Mạ thường đóng chiếc hòm dài khoảng 2m, là thân của một
cây gỗ được bổ đôi, khoét lõm 2 phần ở giữa để đặt thi hài. Hình dáng bên ngoài
được cấu tạo khá độc đáo nó vừa mang hình khối của một ngôi nhà dài, lại vừa thể
hiện bóng dáng của một con trâu được cách điệu hóa. Đầu quan tài cao, to và thấp
nhỏ dần về phía cuối. Phía đầu hai bên sóng ván thiên được gắn một đôi sừng bằng
gỗ, phía đuôi gắn một cái đuôi vót bằng tre.
Người chết được gia quyến mặc cho bộ đồ quí nhất. Thi hài được nằm ngửa,
đầu gối trên một cái bát để úp, hai tay để chắp trên ngực, chân duỗi thẳng. Hai bàn
tay, hai bàn chân được buộc một đoạn dây rừng. Thi hài được quan trong nhà một
khoảng thời gian từ ba đến năm ngày để người thân tỏ lòng tiếc thương. Nhà người
Châu Mạ có người chết, người ta làm thịt gà để cúng tiễn đưa. Họ cúng gà sống rồi

25.2 Page 242

▲back to top
làm thịt lấy máu bôi chân giường, đầu giường, trán, đầu và các ngón chân người chết.
Họ quan niệm, con gà sẽ dẫn hồn người chết đi. Những người thân cắt một phần tóc
của mình bỏ vào hòm người chết như tỏ ý để qua bên kia có cái để mà lợp nhà ở.
Người Châu Ro, Châu Mạ quan niệm người chết là từ giã cuộc sống trần gian
để qua một thế giới mới khác, vì vậy, để họ yên ổn sống ở nơi mới, người còn sống
không quên sắm những đồ vật để đủ chôn theo. Tang chủ thường chia cho người chết
một số tài sản trong nhà: công cụ lao động như chà gạc, rìu, gùi; đồ dùng như nồi
gốm, bát sành, vỏ trái bầu khô, chế; vũ khí như dao, nỏ, cung, tên, ná... cùng một số
đồ trang sức, vật dụng khác. Số tài sản này, một số bỏ chung với thi hài người chết
và một số đãi xung quanh mộ hay bỏ rải dọc đường gần khu nghĩa địa. Phần lớn
những thứ bỏ trên mặt đất thường bị phá hủy một phần để phân định sự đối lập với
tài sản của người đang sống, đồng thời ngăn ngừa kẻ xấu lấy về sử dụng. Nếu nhà có
của thì tế người chết bằng trâu rồi dựng một chuồng trâu nhỏ để đựng xương con vật
đã hiến sinh. Người Châu Mạ còn có tục tẩy rửa nhà sau khi đưa tang. Họ nấu nước
sôi có hòa lẫn tiết gà lấy lá cây nhúng vào vẩy lên những người thân, đưa đám để hồn
ma người chết không ám ảnh.
Người Châu Ro, Châu Mạ còn có quan niệm về chết lành và chết dữ. Chết lành
như bị bệnh tật già yếu; chết dữ là bị tai nạn, bị thú dữ ăn thịt, chết bất ngờ... Theo đó
mà họ có những nghi thức kiêng kỵ, tổ chức tang ma cho phù hợp. Chết lành thì tổ
chức tang ma trong nhà, chôn ở nghĩa địa của buôn làng. Chết dữ là điềm xấu, mang
lại rủi ro nên gia đình, buôn làng tổ chức đơn giản và chôn ở nơi họ bị nạn hoặc nơi
khác ngoài nghĩa địa cộng đồng.
Người Châu Ro, Châu Mạ có tục mở cửa mả ngày thứ bảy với lễ vật cúng gồm
có: bánh giã của gia đình làm, gà vịt, chén cơm. Đó là lần cuối họ thăm lại nơi ở của
người chết. Trong thời gian chôn đến lúc mở cửa mả, gia đình có người chết thường
ở nhà và không đi đến bất cứ nhà nào, và công việc nương rẫy cũng tạm ngưng lại.
Mỗi buôn làng Mạ đều có một khu đất được chọn làm nghĩa địa riêng. Họ xem đây là
vùng đất rất linh thiêng, nếu không có việc gì quan trọng thì ít ai đến. Mộ phần người
chết người Mạ đắp rất thấp và ít được chăm sóc nên khó phân biệt. Cách nhìn nhận

25.3 Page 243

▲back to top
ngôi mộ thường chú ý đến phần chum hoặc ché để ở phía dưới của mồ.
Trong cuộc sống, người Châu Ro, Châu Mạ có lắm điều kiêng kỵ, đặc biệt là
trước những công việc quan trọng như làm nhà, chọn rẫy, khi làm nhà... Người Mạ
còn một số kiêng cữ như: không đi gần các tảng đá lớn, vì cho rằng ma quỷ ngự
trong các tảng đá sẽ ám vào người. Nhà có người bệnh, họ treo trước nhà cành lá tươi
không cho khách vào vì sợ mang thêm bóng vía của bệnh tật. Những con vật như kỳ
đà, rắn vào nhà thì rất sợ vì báo trước sự rủi ro. Họ kiêng ăn thịt cọp, thịt chó vì suy
nghĩ cọp thì ăn thịt người, chó thì ăn cơm nhà người. Những kiêng cữ này ngày nay
hầu như người Mạ không còn giữ nữa nhưng trong đời sống tinh thần, tàn dư của nó
vẫn còn chi phối ít nhiều đến cách suy nghĩ của họ.
Những tập tục, nghi lễ của dân tộc Châu Ro, Châu Mạ ở Đồng Nai ngày càng
được cải biến dần trong quan hệ giao lưu tiếp biến với cộng đồng dân tộc anh em, đặc
biệt sự ảnh hưởng của văn hóa người Việt và nghi lễ của các tôn giáo. Những hủ tục
lạc hậu bị loại bỏ dần để tiếp thu cái mới. Vì vậy, một số những tập quán được nêu
trên chỉ còn lưu lại trong ký ức. Ngoài ra, họ còn có nhiều tập quán, kiêng kỵ khác.
Nó thể hiện phản ánh sự nhận thức của họ đối với cuộc sống. Trên một bình diện,
những yếu tố những phong tục, tập quán này vẫn còn tác động, ảnh hưởng nhất định
đến đời sống sinh hoạt xã hội của cộng đồng cư dân Châu Mạ cho đến ngày nay.
5. Tín ngưỡng - Lễ hội
Tín ngưỡng nguyên thủy của dân tộc Châu Ro, Châu Mạ là thờ đa thần với
quan niệm mọi vật đều có linh hồn. Vì vậy, họ thờ rất nhiều thần, các hiện tượng
thiên nhiên thường xảy ra mà chính cộng đồng, bản thân họ không lý giải được. Đây
cũng chính là quan niệm, tín ngưỡng chung của các cộng đồng cư dân bản địa ở
Đồng Nai.
Người Châu Ro, Châu Mạ tin vào một thế giới siêu hình tồn tại song song với
thế giới thực tại mà họ đang sống. Thế giới siêu hình đó là nơi tồn tại, ngư trị của các
thần linh (đại diện cho cái thiện) và có cả ma quỷ (đại diện cho cái ác) có khả năng
chi phối đến đời sống con người.
Hệ thống thần linh người Châu Mạ thờ rất đa dạng. Nhưng có một vị thần mà

25.4 Page 244

▲back to top
họ xem là tối thượng trên tất cả các thần linh khác là Yang N’du (Thần N’du). Vị
thần vô hình này có tài năng siêu phàm đóng vai trò quan trọng nhất trong tất cả các
thần linh. Vì vậy bất kỳ lễ cúng nào, để tôn trọng và biết ơn, người Châu Mạ đọc lời
khấn thần N’du trước và mời về dự chứng giám. Cư dân Châu Mạ tin rằng chính
Thần N’du đã tạo nên cả thế giới rộng lớn. Tổ tiên người Châu Mạ do Thần N’du
dựng nên, giúp đỡ và duy trì nòi giống cho đến ngày nay. Nhờ thần N’du mà tổ tiên
người Châu Mạ biết làm rẫy, săn thú, dệt vải, đặt ra các lề thói mà họ truyền giữ từ
thế hệ này đến thế hệ khác.
Dưới thần N’du là hàng loạt các vị thần khác như. Thần Lúa (Yang Kòi), thần
Rừng (Yang Bri), thần Nước (Yang Dah), thần Núi (Yang Bơnơm), thần Nhà (Yang
Hiu), thần Đá (Yang Luh)... Một số sử liệu khác cho thấy người Châu Mạ còn thờ
thần Lửa nhưng qua khảo sát tại Đồng Nai, cư dân Châu Mạ ở đây không thờ từ xưa
đến giờ. Họ quan niệm, lửa để dùng, không là đối tượng được thờ. Bao trùm lên hệ
thống thần linh được thờ trong tín ngưỡng người Châu Mạ là các vị thần có liên quan
đến nông nghiệp. Các vị thần này được tổ chức lễ cúng mỗi khi người Châu Mạ tiến
hành công việc khai nương, phát rẫy, trồng trọt hay sau vụ mùa thu hoạch trong chu
kỳ sản xuất.
Xuất phát từ quan niệm các thần linh có mặt khắp nơi, chi phối đến đời sống
con người nên người Châu Mạ tổ chức lễ cúng rất nhiều Khi đau ốm, bệnh tật, đi
rừng, ma chay... người Châu Mạ tổ chức cúng các vị thần liên quan cụ thể. Chẳng
hạn, khi đi săn thì cúng thần Rừng (Yang Bri) cầu cho việc bắt được nhiều thú rừng,
không bị thú dữ làm hại; khi làm nhà cúng thần Nhà (Yang Hiu) mong nhà cửa yên
ổn, phù hộ không bệnh tật, nợ nần... Lễ vật cúng trong các buổi lễ đơn giản và tùy
thuộc điều kiện của mỗi gia đình. Thường các lễ vật người hay dùng: Thịt gà, rượu,
gạo, đèn sáp (lấy từ tổ ong). Khi gia chủ cúng thì đọc lời khấn (hoặc thầy cúng) đến
các vị thần linh cụ thể để kêu cầu phụ trợ, giúp đỡ.
Trong năm, người Châu Mạ có nhiều lễ cúng. Quan trọng nhất là lễ cúng thần
Núi (Yang Bơnơm) và thần Lúa (Yang Kòi) với sự tham gia đông đảo của cộng
đồng. Lễ cúng thần Núi thường được tổ chức cúng vào cuối năm. Một ngọn núi được

25.5 Page 245

▲back to top
xem là linh thiêng là nơi thần linh ngư trị sẽ được chọn để làm lễ. Mọi nhà trong làng
góp các lễ vật và người có uy tín trong cộng đồng cử hành lễ. Họ trình các lễ vật, đọc
lời khấn, tạ ơn thần Rừng đã giúp đỡ thời gian qua và mong được gia thêm sự phù hộ
cho thời gian tới, cầu xin phúc đến họa trừ cho buôn làng khi đi rừng săn bắt... Tại ấp
Hiệp Nghĩa, Định Quán, trước đây người Châu Mạ thường tổ chức cúng thần Rừng
dưới chân núi Dang Kear - một ngọn núi có nhiều cây nứa.
Lễ cúng thần Lúa là lễ lớn nhất trong năm. Thời gian cúng thường được tổ
chức vào tháng hai đến tháng ba âm lịch, khi mà người Châu Mạ đã thu hoạch xong
mùa màng. Trước đây, lễ cúng thường được hành lễ trước khoảng sân của nhà dài
cộng đồng. Để tổ chức lễ cúng, đàn ông Châu Mạ vào rừng chặt cây tre cao, thẳng và
một số cây gỗ khác về để hành lễ. Họ dựng khoảng ba cây nêu trước khoảng sân theo
hình tam giác. Cây nêu lớn dùng để cột trâu, cây nêu vừa cột bò, cây nêu nhỏ cột dê
hoặc heo. Lễ hội này còn gọi là lễ ăn trâu, vì có tục đâm trâu để thực hiện nghi thức
đầu tiên của buổi cúng và chia thịt trâu cho công đồng cùng ăn. Trước đây, lễ thường
kéo dài nhiều ngày, nhiều đêm nhưng ngày nay rất ít được tổ chức.
Trên các cây nêu, người Châu Mạ chia làm nhiều bậc để trang trí: Theo họ
quan niệm, cây nêu phần trên hướng thẳng lên trời tượng trưng cho thần linh, phía
giữa là tổ tiên và dưới gốc là của con người trong thực tại. Trên các cây nêu, họ tạo
những bông tre xoắn thành chùm tượng trưng cho bông lúa lớn cầu mong cho mùa
màng tốt tươi, lúa nhiều hạt. Hai màu xanh đỏ được dùng chủ yếu trong cách trang trí
mà theo họ màu đỏ là huyết con vật được hiến sinh để báo cho thần linh biết cộng
đồng họ luôn cúng tế màu xanh cầu mong cho mùa màng xanh tươi. Từ những cây
nêu được buộc thêm những dây sợi dài tỏa xuống cùa tua hình cây chĩa ba cạnh và
buộc ngang bởi thanh tre vót khắc họa hình sừng trâu hoặc sừng dê. Trên các dây
được lồng vào các ống sáo trúc vừa thể hiện bông lúa vừa tạo âm thanh khi sáo thổi.
Dưới gốc cây nêu thường để những chế rượu cần mà mỗi nhà người Châu Mạ
làm đem đến. Lễ đâm trâu thường được tiến hành vào buổi xế chiều. Cộng đồng
người Châu Mạ khi tổ chức thường mời các buôn làng khác đến dự. Nghi thức tiếp
đón bằng cách già làng đem rượu trong ống tre (Cây tre được trang in sặc sỡ, gắn

25.6 Page 246

▲back to top
thêm nhiều hình vẽ về lồng chim, đầu trâu) ra ngoài cổng mời khách. Đoàn khách
vừa đi đến vừa đánh cồng chiêng. Khi mời rượu xong tất cả các thành viên khách
buôn làng khác, tất cả vào khoảng sân nhà dài. Già làng đọc lời cúng trong bàn thờ ở
nhà dài và làm nghi thức phun nước vào các con dao, chà gạc để đâm trâu. Những
người có uy tín trong cộng đồng, khoảng ba người được chọn để đâm trâu. Trong khi
đoàn người đi xung quanh các cây nêu hát múa thì những người đâm trâu lựa thế dồn
trâu vào để đâm cho trâu nhanh chết. Khi đâm trâu bò và heo (hoặc dê) xong họ xẻ
thịt ngay và nướng trên đống lửa được đốt sẵn, rồi chia cho cộng đồng tham gia ăn,
uống rượu cần. Trong buổi lễ, các thanh niên nam nữ Châu Mạ vui múa nhảy hát, các
người già thì tập trung uống rượu cần và hát kể cho nhau nghe về cộng đồng của
mình. Cồng chiêng được đánh cho tới thâu đêm suất sáng. So với trước đây, lễ cúng
thần Lúa (Yang Kòi) của người Châu Mạ ở Đồng Nai ngày nay có nhiều sự giản lược
nhưng khi được tổ chức, những nghi thức, lễ vật, tiến trình đúng nghĩa của lễ hội vẫn
được bảo lưu. Lễ hội này luôn được tôn trọng trong đời sống tâm linh của cư dân
Châu Mạ, vì theo họ, vị thần Lúa liên quan trực tiếp đến chính đời sống của cộng
đồng, bản thân của họ nhất.
Người Châu Ro gọi thần linh là Yang (Giàng). Hệ thống thần linh người Châu
Ro thờ rất phong phú: Yang Nhà, Yang Rừng, Yang Sấm, Yang Mưa, Yang Lúa...
Họ xem việc cúng kiếng các thần linh là cách ứng xử phải lẽ đối với thế giới
vô hình đang tồn tại, chi phối đến đời sống bản thân, cộng đồng. Người Châu Ro tổ
chức cúng khi người thân bị bệnh tật, gia đình gặp nạn hay vi phạm những luật lệ
cộng đồng (những luật lệ được tìm định, truyền lại từ bao đời qua); hoặc cúng khi mở
đầu việc làm mùa, thu hoạch hay làm bất cứ một công việc nào đó. Họ kêu cầu sự
giúp đỡ hay tạ ơn thần linh. Đồng thời, qua cúng kiếng các thần linh, người Châu Ro
bày tỏ lòng thành kính đối với tổ tiên, đó là giềng mối thân thuộc của gia đình, dòng
họ mà bất kỳ trong cuộc cúng Yang nào người Châu Ro cũng phải thể hiện trong lời
khấn.
Trong các loại Yang, người Châu Ro xem trọng nhất là Yang Nhà, Yang Lúa,
Yang Rừng. Những loại Yang này có tác động, ảnh hưởng trực tiếp và gần gũi trong

25.7 Page 247

▲back to top
hoạt động đời sống của cộng đồng. Yang Nhà theo quan niệm của người Châu Ro là
chủ thể nuôi mạng sống gia đình, thân tộc; vì vậy, trong bất kỳ lễ cúng nào, người
Châu Ro đều trình lễ cúng qua Yang Nhà trước. Nếu không, thì việc cúng không
trình qua Yang Nhà sẽ bị xem là hành động ngạo mạn, bị thần linh phạt nặng. Yang
Nhà được cúng bất kỳ thời gian nào trong năm. Yang Rừng được người Châu Ro
cúng trước mùa mưa trong năm, không ấn định thời gian cụ thể. Dân làng góp lễ vật
và người có uy tín nhất trong cộng đồng sẽ tổ chức hành lễ, thay mặt cho cộng đồng
cầu xin thần linh của rừng núi ban ơn, hộ trì cho họ khi đi thực hiện các hoạt động
liên quan đến rừng như săn bắn, khai phá nương rẫy... Yang Lúa được người Châu
Ro cúng theo định kỳ hàng năm.
Thời gian cúng không ấn định cụ thể nhưng thường trong khoảng từ tháng hai
đến tháng ba âm lịch, vào những ngày trời đẹp đêm có trăng sáng. Đây là lễ hội lớn
nhất của cộng đồng và để lại những dấu ấn về lễ nghi nông nghiệp của người Châu
Ro. Trước đây, khi tính cộng đồng còn chặt chẽ, thể chế nhà dài tồn tại, người Châu
Ro tổ chức cúng Yang Lúa tại đây. Lễ hội cúng Yang Lúa thường kéo dài trong nhiều
ngày đêm. Mọi người trong buôn làng đều tham dự. Những người thầy cúng giữ vai
trò hành lễ trong các nghi thức.
Lễ vật cúng Yang Lúa gồm: thịt gà, thịt heo, đầu heo hoặc nguyên con còn
sống), bánh nếp dầu trộn mè, rượu cần, những bông lúa. Riêng phần bánh làm nhiều
hay ít tuỳ theo gia chủ; những loại bánh này làm riêng dùng cho trong ngày cúng
Yang Lúa, ngày thường thì không. Rượu cần được làm trước đó nhiều ngày, điều
quan trọng là gạo làm rượu phải lấy từ rẫy của gia chủ chứ không được mượn hoặc
mua. Ngoài lễ vật cúng, một số loại cây trái được người Châu Ro làm để đãi khách
như: đọt mây rừng, rau nhíp, củ mì, cơm lam, củ nần, củ chụp được đốt nướng trong
ống tre lồ ô.
Khi tiến hành lễ cúng, người Châu Ro làm cây nêu lớn đặt trước sân. Cây nêu
được làm từ cây vàng nghệ, cao chừng 5 mét. Trên ngọn của cây nêu, người Châu Ro
làm một giỏ hình cái phễu. Để làm giỏ này, người Châu Ro dùng mây buộc chặt một
phần của ngọn (cách ngọn khoảng 2 tấc) và chẻ từ ngọn xuống chỗ buộc làm 8 phần

25.8 Page 248

▲back to top
rồi tẻ ra. Sau đó, chọn thêm 10 thẻ tre bằng nhau tạo thành hình cái giỏ có 18 phần
thẻ bằng nhau. Các thẻ này được bện kết với nhau bằng lạt mây rừng. Từ chỗ buộc
dây tạo dáng hình phễu được mở rộng dần lên tạo thành một cái giỏ lớn. Trên vành
miệng giỏ, người Châu Ro trang trí 36 chùm tia. Các chùm tia này làm từ cây vàng
nghệ . Ban đầu người Châu Ro chặt từng đoạn thắng bằng nhau được bào vỏ khá kỹ
càng. Đoạn cây gỗ vàng nghệ hình chữ nhật. Một đầu đoạn cây gỗ giữ nguyên làm
gốc. Người Châu Ro dùng dao côi chẻ tia từ đầu ngọn vào tạo nên một chùm tia với
các lát dát mỏng hình vòng cung xoắn đều. Các chùm tia được gắn vào với phần gốc
trên vành giỏ, chùm tia tỏa xuống phía dưới và ra bốn bên đều nhau tạo hình bông lúa
lớn rất đẹp.
Từ tâm chính của giỏ buộc một đoạn cây tre ngắn cao vượt lên vành giỏ
khoảng 40 tấc. Trên đoạn tre này buộc một khoảnh bông gòn và trên củng là chùm
lúa chin, nhiều hạt. Trên vành miệng giỏ người Châu Ro trang trí 4 tia hơi ngả ra phía
ngoài, đối xứng với qua đoạn cây tre cột chùm lúa chín. Các tia này cũng làm từ thân
cây vàng nghệ. Trên thân các tia mỗi đoạn được vạt dồn những dăm bào xoắn dính
liền từng nấc cho đến phần ngọn. Đầu hai tia cột một ít lông gà và hai tia còn lại buộc
mỗi tia hai dát bông bào mỏng, dài của thân cây vàng nghệ tượng trưng cho lông đuôi
của chim chèo bẻo (trước đây người Châu Ro gắn lông đuôi của loài chim chèo bẻo).
Từ 4 tia này được cất nối kết bằng các sợi chỉ qua lại đan xen nhau và trên các sợi chỉ
gắn trang trí những cục bông gòn nhỏ.
Từ ngọn cây nêu trở xuống khoảng 6 tấc, người Châu Ro đục bốn lỗ vào thân
cây. Tại bốn lỗ này, đặt vào bốn thẻ nêm bằng nhau, từ thân cây chính đối xứng ra
bốn hướng. Các thẻ nêm cũng làm từ cây vàng nghệ, mỗi thẻ dài khoảng 2 tấc và
rộng khoảng 5 tấc. Trên các miếng thẻ nêm phía đầu ngoài có khoét sẵn một lỗ tròn
nhỏ. Bốn lỗ trên thẻ nêm dùng để gắn bốn cây nêu nhỏ.
Từ chỗ các thẻ nêm phía trên xuống phía dưới thân cây khoảng 6 tấc có thêm
bốn lỗ đục âm vào thân cây. Tại đây cũng gắn các thẻ nêm như phần phía trên nhưng
các thẻ nêm có kích cỡ to hơn.
Trên các thẻ nêm trên toàn thân cây nêu có 8 cây nêu nhỏ. Những cây nêu nhỏ

25.9 Page 249

▲back to top
này cũng được làm từ cây vàng nghệ. Cách thức làm cây nêu nhỏ và cách trang trí
trên nó cũng giống như làm cây nêu lớn nhưng kích cỡ nhỏ hơn. Mỗi cây nêu nhỏ dài
khoảng 1 mét. Các phần bài trí trên cây nêu nhỏ tuân thủ theo số chẵn, như: 8 thanh
làm giỏ, 14 hay 16 chùm tia và 4 tia trên vành. Điều khác biệt so với cây nêu chính là
trên các giỏ cây nêu nhỏ không có gắn chùm bông lúa. Các cây nêu nhỏ được gắn vào
các nêm chốt có phần ngọn đưa lên 1 phần và 2 phần gốc hướng về gốc cây nêu
chính. Từ các phần gốc cây nêu nhỏ buộc những lát thân cây vàng nghệ dài, xoắn, dát
mỏng thả xuống; phía trên thân và đuôi các lát dát mỏng buộc các nếp bông gòn nhỏ.
Khi cây nêu được làm xong, người chủ nhà khấn Yang và cho trai làng dựng
cây nêu trước khoảng sân nhà sàn. Tại chỗ dựng gốc nêu chôn một đoạn gốc có
chạng chĩa làm đôi để giữ và buộc dây mây vào gốc khoảng 5 tấc.
Cây nêu có ba tầng nấc chính. Trên cao là chùm lúa nhiều hạt vươn lên với vai
trò chủ thể cúng của người Châu Ro. Hai tầng nấc cây nêu nhỏ trên thân cây nêu
chính tượng trưng cho thần linh và tổ tiên. Cây nêu được dựng lên như một nghi thức
có tính chất trình báo về lễ cúng mà người Châu Ro quan niệm Yang Lúa và các thần
linh, tổ tiên biết được để đến dự. Cây nêu là biểu hiện sự giao cảm, giao hoà giữa con
người Châu Ro với thần linh, với tổ tiên.
Trong lễ cúng Yang Lúa người Châu Ro làm một cây nhang bằng tre dài trên
một mét. Phía ngọn tơi ra hình cái rọ tượng trưng cho bông lúa lớn. Đầu cây có bốn
tia ra được uốn rất đẹp; hai tia tượng trưng cho chim chèo bẻo biểu tượng cho sự
mạnh mẽ, khôn ngoan; hai tia tượng trưng cho lông gà/ hình ảnh thể hiện cúng Yang
hằng năm của gia đình.
Bàn thờ cúng có ba tầng nấc được làm bằng loại cây rừng và tre, gắn vào vách
trên phần nhà sàn chính. Phần trên cùng có cây sáp ong để đốt khi khấn vái, tượng
trưng cho sự đáp từ, phù hộ của thần linh; bên cạnh có chén vỏ cây chùm hùm được
hun khói xông và một ít lễ vật tượng trưng bằng thịt con vật cúng. Phần giữa bàn thờ
bài trí lễ vật nhưng không có sáp ong, chén xông hương. Phần dưới cùng bàn thờ bày
nhiều lễ vật cúng từ thịt đến trái cây, các loại bánh.
Trước bàn thờ đặt ché rượu cần. Có những sợi dây nối từ miệng ché rượu cần

25.10 Page 250

▲back to top
lên trên trần nhà, nơi đang để những bông lúa của mùa cúng trước. Trên những sợi
dây được kết những bông gòn theo từng nấc tượng trưng cho cái thang để thần linh
đến dự hưởng rượu cần của mùa lúa đã thu hoạch. Người gọi Yang thường là người
lớn, có uy tín trong nhà (ở Lý Lịch thì người gọi Yang giữ cho đến cuối đời, sau đó
trao lại cho con; một số địa phương khác thì người thầy cúng giữ nghi thức này).
Lễ cúng Yang thường được bắt đầu vào buổi sáng với nghi thức rước hồn lúa.
Bắt đầu cho buổi lễ cúng Yang Lúa là nghi thức rước hồn lúa. Khi buổi sáng của
ngày cúng bắt đầu, lúc mặt trời lên, người nhà của người Châu Ro tổ chức lễ thực
hiện việc đi rước hồn lúa. Người gọi Yang (Nhang) lại khấn trình trước bàn thờ và
cho người đi lên rẫy.
Người phụ nữ chính trong nhà và người thân (thường đoàn đi rước có ba
người) đem theo liềm, chà gạc, bầu khô đựng nước để trong gùi mang đi. Họ đi về
hướng rẫy lúa nơi để dành sẵn một chùm lúa chín. Rẫy lúa ở khá xa với nhà người
Châu Ro đang cư ngụ.
Tại khu rẫy, khi thu hoạch mùa màng, người Châu Ro để lại một vạt lúa tất có
những bông lúa trĩu hạt. Những bông lúa tốt được bó lại bằng tranh, rơm, lá chuối và
rào bốn bên bằng các loại gai bằng tre, cây cối để bảo vệ. Khi đi đến nơi, người phụ
nữ chính thực hiện nghi thức khấn. Lời khấn mang nội dung mời hồn lúa từ rẫy về
nhà dự lễ cúng và cầu xin thần lúa ban cho mọi sự tốt lành. Khấn xong, người phụ nữ
lấy nước trong trái bầu khô đem theo rảy vào chùm lúa thể hiện sự tẩy sạch và tươi
tắn cho chùm lúa chọn. Những người đi theo dỡ bỏ những rào che, mở chùm lúa khỏi
những dây bó, lá chuối và lấy liềm gặt, bó lại, bỏ vào gùi.
Khi gặt chùm lúa chọn xong, những người đi theo tìm đến một phần rẫy khác
để chặt hai ngọn mía và đào hai cây chuối con. Những cây mía và cây chuối cũng
được chọn sẵn trước với điều kiện lá xanh, đọt thẳng. Trước khi chặt và đào cây mía,
cây chuối, người Châu Ro đọc lời khấn mời theo hồn lúa về dự lễ cúng. Tất cả những
đồ vật được bỏ vào gùi và mang về nhà trình qua Yang Nhà .
Những vật lấy từ rẫy có ý nghĩa quan trọng trong quan niệm của người Châu
Ro khi tổ chức cúng. Chùm bông lúa chọn là hồn lúa của mùa màng và qua đó người

26 Pages 251-260

▲back to top

26.1 Page 251

▲back to top
Châu Ro thể hiện lòng biết ơn đối với thần linh trong mỗi kỳ làm rẫy. Cái tốt nhất,
đẹp nhất dành cho ngày cúng tế Yang Lúa. Hai cây mía và hai cây chuối con thể hiện
sức sống, sự sinh sôi nảy nở cho các loại cây khác mà người Châu Ro trồng tỉa trên
nương rẫy. Con số hai (chẵn) của lễ vật rẫy biểu hiện của người Châu Ro trong quan
niệm sự hoàn thiện, có đôi, có bạn cho cả người chủ rẫy, chủ gia đình người gọi
Yang.
Khi những người đi rước hồn lúa về thì họ dừng lại ngay tại gốc cây nêu. Tại
gốc cây nêu có buộc sẵn các con vật hiến tế là heo và gà Người Châu Ro để gùi
xuống chứa đựng các vật đem về từ rẫy: chùm bông lúa, hai cây mía, hai cây chuối
như trình báo cho thần linh chứng giám. Sau đó, người phụ nữ mang gùi lên nhà sàn
và giao lại cho người gọi Yang.
Người gọi Yang ngồi trước ché rượu cần, hướng về bàn thờ đọc lời khấn trình,
phía sau có người đứng phụ giúp. Nội dung lời khấn chủ yếu trình bày lễ cúng, cảm
tạ thần linh tổ tiên đã giúp đỡ đợt mùa qua và cầu xin được tiếp tục phù hộ cho đợt
mùa sắp tới. Người đọc lời khấn vừa đọc vừa bước đến bàn thờ nâng lễ vật cúng lên
mời thần linh chứng giám. Khi kết thúc phần nghi thức trên gian nhà chính, người gọi
Yang đi đến nhà kho đựng lúa, người phụ giúp mang lễ vật cúng đi theo. Trên mâm
lễ vật có cây nhang đã được bôi huyết con vật tế trong ngày cúng. Mọi người tham dự
đi theo và đứng phía dưới sàn. Chỉ người gọi Yang lên kho lúa. Lễ vật cúng bày hẳn
trên lúa và bắt đầu nghi thức gọi Yang Lúa.
Khi những nghi thức cúng xong, mọi người trở lên nhà sàn chính để dự tiệc.
Thức ăn cho ngày cúng được bày ra để đãi khách. Rượu cần được khai mở để mời
khách uống. Người phụ nữ lớn tuổi nhất gia đình uống trước và sau đó mới mời
khách theo thứ bậc tuổi tác. Trong thời gian dự tiệc cồng chiêng được trỗi đánh với
các giai điệu hội hè. Nhiều người dân tộc nhảy múa, hát những bài ca của cộng đồng.
Đêm xuống, trước sân nhà sàn, người Châu Ro đốt lửa và tiếp tục cho ngày hội
cúng với một không khí náo nhiệt. Nhiều người nhảy múa, hát ca đi xung quanh đống
lửa. Các nhạc cụ dân tộc Châu Ro như đàn tre, kèn môi, cồng chiêng được những
người lớn tuổi thi nhau trỗi nhạc theo thứ tự. Mọi người vui hoà trong không khí hội

26.2 Page 252

▲back to top
với men rượu cần cho đến khi đống lửa tàn.
Tại một số địa điểm khác như xã Túc Trưng, huyện Định Quán, người Châu
Ro tổ chức lễ cúng Yang thường trên nhà sàn chung của cộng đồng (nhà sàn được tái
dựng mới). Trước bàn thờ Yang, người Châu Ro đặt dãy ché rượu cần và trang trí
những sợi dây chỉ, bông gòn nối liền bàn thờ. Khi cúng, nhiều thành viên trong cộng
đồng cầm đèn sáp đọc lời khấn. Nội dung lời khấn với mục đích là cầu an, cầu mùa.
Xong nghi thức cúng, những người tham dự lễ hội đánh cồng chiêng, hát múa trong
không khi vui tươi sôi nổi.
Ở một số địa phương khác, người Châu Ro còn tổ chức lễ cúng hội mùa lúa.
Người Châu Ro thường tổ chức lễ hội cúng lúa mới vào tháng mười âm lịch khi thu
hoạch, cũng có thể đó là lễ hội được mùa, lễ hội mừng cơm mới. Điều khiển, chủ in
lễ hội là thầy cúng ( Spăm Chnhau) hoặc thầy bùa ngải (Spăm Dang Trúc), bà bóng
(Spăm Tăm Vly). Họ là cầu nối giữa thế giới trần gian và thế giới thần linh. Thầy
cúng, bà bóng là người trần gian có hiểu biết về luật tục, thông thạo các bài văn cúng
lễ, các điệu hát, điệu múa, là người có thể truyền đạt những tín hiệu đến với thế giới
thần linh bằng những hình thức diễn xướng ca, múa, nhạc, văn, thơ. Khi đã nhập
thần, nhập hồn thì trở thành người của thần linh, lắng nghe, tiếp nhận những lời cầu
khẩn của người trần gian và sẽ ban phước lành cho người trần gian. Khi xuất hồn,
xuất thần thì thầy cúng, bà bóng lại trở về với trần gian. Nên thầy cúng, bà bóng được
cộng đồng tôn trọng và là người chủ trì trong mọi hình thức tín ngưỡng lễ cúng của
mọi gia chủ trong cộng đồng người Châu Ro.
Ngày nay, do nhiều nguyên nhân mà chủ yếu về kinh tế, người Châu Ro cúng
Yang giản lược hơn trước và không kéo dài. Dẫu vậy, quan niệm về Yang Lúa vẫn
còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng Châu Ro. Tín ngưỡng, lễ hội
cổ truyền của người Châu Ro, Châu Mạ ở Đồng Nai ngày càng có những biến đổi.
Hiện nay, phần lớn người Châu Ro, Châu Mạ giản lược các nghi thức cúng trong các
lễ cổ truyền. Lễ hội cũng ít được tổ chức, trong đó có nhiều nguyên nhân tác động:
tôn giáo, đời sống kinh tế, kết cấu xã hội cổ truyền không còn như trước đây.
6. Văn hóa nghệ thuật

26.3 Page 253

▲back to top
Cư dân Châu Ro, Châu Mạ là cư dân bản địa, có kho tàng văn hóa rất phong
phú và sống động. Vốn quí văn hóa người Châu Ro, Châu Mạ đã góp phần làm
phong phú thêm văn hoá Đồng Nai trong bối cảnh chung của khu vực, của quốc gia
trong tính đa dạng, thống nhất.
Các công trình nghiên cứu cho thấy cư dân Châu Ro, Châu Mạ còn bảo lưu
nhiều truyện cổ, thần thoại, truyền thuyết gắn liền với lịch sử của dân tộc mình, phản
ánh sự nhận thức của họ về vũ trụ, thế giới thần linh nguồn gốc, những cuộc đấu
tranh của cộng đồng qua bao thời kỳ lịch sử. Cộng đồng Châu Ro, Châu Mạ có đời
sống văn hóa tinh thần phong phú, thể hiện qua tín ngưỡng, lễ hội mà trong đó nhiều
thể loại văn hoá dân gian, văn hóa nghệ thuật khá độc đáo nhưng hiện nay đang dần
bị mai một nghiêm trọng do nhiều yếu tố tác động.
Vì không có chữ viết nên văn chương truyền miệng của người Châu Ro, Châu
Mạ được lưu truyền chắc chắn có nhiều thay đổi biến, đổi trong nội dung, tình tiết.
Trên hướng phát triển chung của xã hội, những sự biến đổi hay thay đổi như thế là
không tránh khỏi, làm mất yếu tố định hình gốc nhưng ở một bình diện khác nó làm
cho vốn văn hoá dân gian này đa dạng hơn, phong phú hơn và thể hiện cách nhìn phù
hợp trong điều kiện xã hội cụ thể mà cộng đồng dân cư trải qua và hướng đến.
Văn chương truyền miệng của người Châu Ro, Châu Mạ phong phú về nội
dung và đa dạng trong cách thể hiện. Người kể chuyện kể về chuyện xưa như lời tự
thuật, kể cho đối tượng khác nghe và lời kể nghe có những chuyện mà người kể như
hóa thân vào nhân vật. Lối kể và lời kể có vần điệu mà chúng ta có thể tạm gọi là lối
hát kể xuất hiện trong cộng đồng người Châu Mạ. Lối hát kể khi có hai người thể
hiện là một trong những thức thể hiện dạng Tăm pơt ở đây, cần có sự phân biệt là
Tăm pớt là một trong những lối hát kể nhưng chuyện kể thì không phải là Tăm pơt.
Văn chương truyền miệng của người Châu Ro, Châu Mạ phong phú về nội
dung như giải thích hiện tượng thiên nhiên, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội,
nguồn gốc các loài, đề cập những yếu tố xã hội, lịch sử, có không gian thời gian được
định hình hay phiếm chỉ... Trong chuyện kể của hai cộng đồng Châu Ro, Châu Mạ có
những chuyện kể đề cập nhiều vấn đề và cũng có những chuyện kể chỉ đề cập một

26.4 Page 254

▲back to top
vấn đề. Vì vậy, nội dung chuyện có chuyện khá dài, có chuyện rất ngắn. Chuyện kể
không tuân theo “quy ước” chuẩn mà có cách thể hiện riêng. Có chuyện dẫn giải rất
nhiều chi tiết cũng có chuyện ít chi tiết, trực tiếp hay hay gián tiếp đi vào nội dung
thể hiện. Chính điều này tạo nên sự cuốn hút cho đối tượng nghe. Mỗi chuyện kể của
tộc người khác nhau có những đặc điểm riêng. Trong quá trình hình thành, phát triển
và sự giao thoa của nhiều luồng văn hóa qua các thời kỳ của các tộc người thì những
tác động về kinh tế, xã hội là điều không thể tránh khỏi. Vì vậy nguồn văn hoá dân
gian của cộng đồng Châu Ro, Châu Mạ mà trong đó có loại hình chuyện kể cũng
không tránh khỏi sự ảnh hưởng qua lại với nhau bởi vì họ cùng chung môi trường tự
nhiên, xã hội. Điều này thể hiện qua các tình tiết chuyện, theo mô típ chung ở một số
chuyện kể...
Nghệ thuật tạo hình của người Châu Ro, Châu Mạ thể hiện trên những kiến
trúc nhà sàn ngày nay có nhiều thay đổi. Theo một số tài liệu nghiên cứu trước đây,
cho thấy nhà sàn là kiến trúc chung của cộng đồng, dòng tộc. Kiến trúc nhà sàn thể
hiện kiểu thức hình chữ nhật, mái gập theo tạo nóc bởi đòn dông chính, hai vách nhà
sàn nghiêng chỏi ra. Thế nhưng, trong lối kiến trúc những nhà sàn hiện tại có những
yếu tố mới mà đặc trưng là theo kiểu kiến trúc nhà Việt.
Các cây nêu trong lễ hội có nhiều biểu trưng cho nghệ thuật tạo hình của người
Châu Ro, Châu Mạ. Những hình tượng biểu trưng chủ yếu là hình tròn, hình chữ
nhật. Những mô típ trang trí theo phác hoạ hình tượng những con thú dùng hiến tế
như dê, trâu (đầu hay cặp sừng). Những mô típ xoắn thể hiện trong hoa văn cây nêu
và tua của bông cây nêu tượng trưng cho bông lúa, cho sự sinh sôi nảy nở. Màu sắc
chủ đạo trong tạo hình thường gặp là đen, trắng, vàng, đỏ và chúng được phối tương
phản nhau.
Trên sản phẩm thổ cẩm (váy, mền, khố, túi...) chủ yếu của người Châu Mạ
những mô típ hoa văn được tạo hình thường gặp là con người, chày cối, con bướm,
con khỉ, cây đèn, con mắt, chim chóc... được thể hiện cách điệu với những ý nghĩa
của nó. Với hình dáng con người là biểu hiện sức mạnh và toàn quyền trên của cải;
con mắt biểu trưng cho sự sáng suốt tinh thông và chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên

26.5 Page 255

▲back to top
nhiên, con người; con bướm là lời cầu khẩn nhanh đến với thần linh; cái cối thể hiện
đức tính siêng năng của người phụ nữ; cây đèn biểu trưng cho niềm vui trong lễ hội...
Bên cạnh các hình tượng đó là các hình học mà chủ đạo là hình thoi nối liền, đan xen
nhau. Mỗi kiểu hoa văn đều hàm chứa những ý nghĩa riêng theo quan niệm của người
Châu Mạ. Nó vừa thể hiện chức năng trang trí đồng thời là tư duy liên quan đến ý
niệm, cách nhìn của người Châu Mạ đối với thế giới tự nhiên, xã hội con người.
Loại hình nghệ thuật hát, múa, nhạc của người Châu Ro, Châu Mạ thường
được kết hợp thể hiện trong những lễ hội cộng đồng và được lưu truyền qua truyền
miệng (hát), thực tiễn hoạt động lễ hội (múa) và trong các sinh hoạt thường ngày.
Thế nhưng lễ hội ngày càng được ít tổ chức những nhạc cụ thì không còn lưu giữ và
vì thế, chính cộng đồng Châu Ro, Châu Mạ cũng không có nhiều cơ hội để hưởng thụ
nhận biết. Những người lớn tuổi thì ngày càng ít đi trong khi lớp trẻ không có ý thức
giữ gìn những vốn quý văn hoá này hoặc có muốn thì cũng khó khăn về việc truyền
dạy.
Về hát, hầu hết những bài hát của dân tộc Châu Ro, Châu Mạ chỉ còn một số ít
người lớn tuổi còn nhớ. Người Châu Ro, Châu Mạ hát khi ru con, khi đi làm rẫy và
thể hiện nhiều nhất là trong các dịp lễ hội. Lời hát của các cộng đồng Châu Ro, Châu
Mạ rất mộc mạc, nó phản ánh nhịp sống của cộng đồng trong các sinh hoạt thường
nhật.
Nghệ thuật biểu diễn múa có thể nói hầu như kém phát triển hay đã phai lạt
nhiều trong đời sống cộng đồng. Trong lễ hội các phụ nữ lớn tuổi hay thanh nữ
thường hay múa tập thể. Những động tác múa theo nhịp cồng chiêng (7 chiếc), đàn
tre, kèn bầu, kèn môi, kèn lúa. Bộ cồng, chiêng và các nhạc khí cụ đều được sử dụng
trong các dịp lễ hội. Bộ chiêng được treo lên và người đánh có thể trong tư thế đứng
hay ngồi thực hiện. Bộ đồng la thì được người sử dụng làm dây đeo chiêng đi vòng
tròn quanh đống lứa hay cây nêu. Người Châu Ro, Châu Mạ sử dụng toàn thân cho
động tác múa nhưng nhịp múa chủ yếu từ đôi tay và chân. Tất cả động tác lấy thân
làm trục chính và thể hiện nét tạo hình qua hai bên và theo hướng lên xuống. Sự ảnh
hưởng của nhiều yếu tố giao lưu văn hóa, tôn giáo trong chừng mực nào đó đã tác

26.6 Page 256

▲back to top
động mạnh đến những điệu múa truyền thống của người Châu Ro, Châu Mạ. Thực tế,
những bài múa mà chúng ta thường gặp trong các đội múa của người Châu Ro, Châu
Mạ biểu diễn hầu như có những sự pha trộn các yếu tố ngoại lai qua một quy trình
“biên đạo”.
Một số nhạc khí, nhạc cụ người Châu Ro, Châu Mạ hay sử dụng và hiện nay
còn phổ biến là bộ cồng (6 chiếc). Tùy theo nội dung của lễ cúng mà người Châu Ro,
Châu Mạ thực hiện những bài phối đánh phù hợp với hoàn cảnh. Những loại nhạc cụ
như kèn lúa, kèn môi, kèn bầu, đàn tre hiện nay rất ít người sử dụng được. Kèn lúa
dùng thể hiện tình yêu nam nữ, kèn môi chúc an chúc phúc; đàn tre, kèn bầu cho sinh
hoạt hát múa cộng đồng.
Kể từ ngày đất nước thống nhất, cộng đồng Châu Ro, Châu Mạ nói chung và
đời sống văn hóa nghệ thuật nói riêng được Nhà nước quan tâm phát triển. Những
thành viên của cộng đồng Châu Ro, Châu Mạ đã có nhiều đóng góp trong đời sống
tinh thần của cộng đồng, địa phương. Loại hình hát múa của bà con dân tộc Châu Mạ
như Ka Rỉn và đội múa Mạ ở vùng Tà Lài, huyện Tân Phú từng tham dự nhiều cuộc
thi, hội diễn, đoạt nhiều giải thưởng, bằng khen. Dân tộc Châu Ro vùng Túc Trưng
kinh tế, biến động của xã hội và đặc biệt do không có chữ viết, nên những vốn quý về
văn hóa, huyện Đình Quán có Điểu Được tham dự các cuộc thi về loại hình ca nhạc
đoạt giải cao của địa phương và toàn quốc. Thế nhưng, những khó khăn về đời sống
nghệ thuật của người Châu Ro, Châu Mạ có nguy cơ bị mai một và mất hắn .
Ths Phan Đình Dũng

26.7 Page 257

▲back to top
Bước đầu tìm hiểu về chuyện kể Châu Ro – Chây Mạ
Trong quá trình điền dã sưu tầm tư liệu chuyện kể của cư dân Châu Ro, Châu
Mạ từ nhiều nguồn trên địa bàn Đồng Nai chúng tôi đã thu thập được 71 văn bản tư
liệu. Những địa bàn chủ yếu được tập trung sưu tầm là vùng người Châu Mạ ấp Hiệp
Nghĩa, huyện Định Quán, vùng Tà Lài, huyện thân Phú, vùng người Châu Ro ở Lý
Lịch, huyện Vĩnh Chủ và một số chuyện kể thu thập tại vùng Bình Lộc, thị xã Long
Khánh. Nói như vậy để thấy rõ rằng vốn văn hóa dân gian này vẫn chưa được khai
thác hết trên bình diện rộng của các nhóm dân cư của cộng đồng Châu Ro, Châu Mạ.
Việc chưa được khai thác nghiên cứu đầy đủ do nhiều yếu tố tác động từ chủ quan và
khách quan. Dẫu vậy, với số lượng chuyện kể sưu tầm được, chúng tôi dựa trên các
văn bản tư liệu này để nêu lên những nội dung mà chuyện kể cư dân Châu Ro, Châu
Mạ thể hiện qua một góc nhìn, cách tiếp cận riêng.
Chuyện kể của người Châu Ro, Châu Mạ phong phú về nội dung như giải thích
hiện tượng thiên nhiên, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, nguồn gốc các loài, đề
cập những yếu tố xã hội, lịch sử, có không gian, thời gian được định hình hay phiếm
chỉ... Trong chuyện kể của hai cộng đồng Châu Ro, Châu Mạ có những chuyện kể đề
cập nhiều vấn đề và cũng có những chuyện kể chỉ đề cập một vấn đề. Vì vậy nội
dung chuyện có truyện khá dài, có truyện rất ngắn. Chuyện kể không tuân theo “quy
ước” chuẩn mà có cách thể hiện riêng. Có truyện dẫn giải rất nhiều chi tiết cũng có
truyện ít chi tiết, trực tiếp hay gián tiếp đi vào nội dung thể hiện. Chính điều này tạo
nên sự cuốn hút cho đối tượng nghe.
1. Lý giải hiện tượng tự nhiên, xã hội
Một số chuyện kể Châu Ro, Châu Mạ đề cập và lý giải về hiện tượng thiên
nhiên, xã hội. Về nguồn gốc tạo thành vũ trụ, chuyện kể của người Châu Mạ có
những cách giải thích rất độc đáo. Truyện “Buổi đầu khai thiên lập địa” của người
Châu Mạ gắn liền với hệ thống thần linh mà cụ thể là thần K’Boong và cách sáng tạo
có tính chất “huyền bí” để tạo nên thế gian. Thần K’Boong đem về dấu hiệu dầu tiên
của sự sống như “một trái bầu, một chiếc gùi nhỏ, một chiếc gùi lớn một chiếc gùi
dài” và dùng tài năng, phép thuật để tạo nên trái đất theo từng công việc cụ thể. Như

26.8 Page 258

▲back to top
vậy, trong trái bầu và ba cái gùi chứa đựng những yếu tố để dựng nên thế gian và sự
sống của loài người. K’Boong dùng người khổng lồ I - út ngăn trời và đất riêng ra,
con lươn sắp lại các ao, đầm, con heo rừng làm thành các đồi, con gà tạo thành thung
lũng, con rắn NaK Grai làm thành dòng thác nước. Những loại cây cối, thú vật từ
trong những chiếc gùi theo lệnh của thần K’Boong xuất hiện và các con của thần linh
đã làm cho những thứ ấy sinh sôi, nảy nở trên khắp thế gian. Ẩn trong câu chuyện
những yếu tố thần thánh nhưng chi tiết cụ thể cho ta thấy yếu tố chính vẫn thuộc về
con người mà cụ thể là những vật dụng mà thần linh sử dụng khi sáng tạo mà người
Châu Mạ thường dùng trong cuộc sống hằng ngày.
“Chuyện về lửa” thì cho rằng thần Rdeon con của thần Mặt trời dạy cho người
Châu Mạ cách giữ lửa của Mặt trời bằng cách lấy lửa ở đá và xơ của vỏ cây đánh vào
nhau. Người khổng lồ I-ut thổi hơi vào đá, thần N’Đuu làm cho vỏ cây khô có cảm
giác và các thần linh dạy cho con người biết suy nghĩ để tạo nên sự kết hợp giữa hai
thứ này lại với nhau. Để duy trì lửa (trong đời sống của nhân loại, sự phát hiện ra lửa
có tính chất quan trọng như một bước ngoặt cho sự sinh tồn, phát triển) thì người
Châu Mạ cho rằng “nếu lửa thiếu ăn thì trồng cây tre, trồng cây lau, phải dọn rừng,
chặt cây cho lửa ăn. Phải cho lửa ăn cả rừng thưa và đồng cỏ lớn. Lửa làm cho
những con mối trong đất cọ quậy, làm nứt các phiến đá, làm nứt các ché trong nhà
sàn”. Nội dung truyện rất ngắn nhưng hàm chứa sự thông minh của con người về
nhìn nhận hiện tượng xảy ra trong môi trường tự nhiên để đúc kết những kinh nghiệm
quí báu cho cộng đồng. Yếu tố thần linh được xác định ngay từ đầu nhưng yếu tố
chính vẫn là sự nhận biết của con người. Một ẩn dụ nói về sức mạnh của con người.
Về các dòng họ khác nhau thì người Châu Mạ họ đều cùng nguồn gốc của hai
tổ Paang Kha và Paang Khem được đề cập trong truyện “Sự tích về tổ tiên các dòng
họ”. Với cách lý giải nguồn gốc từ các bụi cây các tổ tiên chui ra nhưng qua đó cho
thấy là sự sáng thế vũ trụ đều quy về các thần mà cây cối được dùng biểu tượng cho
sự sống, sự sanh sôi nảy nở. Trong truyện đề cập tập tục hôn nhân “quần hôn” của
người Châu Mạ cổ xưa: “Rồi trong thuở ban đầu chung sống với nhau, các tổ Paang
lấy làm vợ chồng giữa các anh em trai và chị em gái. Những đam mê tình yêu dữ dội
đã làm Biit và Rling chui ra. Rồi những dòng khác do thần K’Boong sinh ra như

26.9 Page 259

▲back to top
Doot và Doi. Họ giao hợp với nhau rồi sinh con đẻ cái. Cũng như thác và sông, anh
trai và em gái lấy nhau. Paang Riing và em gái là Nham kết hợp thành vợ chồng”.
Khi lý giải về người Châu Mạ sống ở vùng rừng núi thì người Châu Mạ cho
rằng xuất phát từ “Sự tích nạn hồng thuỷ” . Đây là một trong những nội dung chuyện
mà các tộc người trên thế giới dùng để nói về nạn hồng thuỷ trong lịch sử của nhân
loại như truyện cổ “Con tàu Nô-ê” của người Do Thái hay vùng Trung Đông. Nguồn
gốc của nạn hồng thuỷ mà người Châu Mạ gánh chịu do từ một cô gái với hành động
khiêu khích thần linh: “Do không có nắng phơi lúa nên cô gái tốc váy đưa âm hộ cho
trời xem và khiêu khích. Hành động này bị phạt với 7 năm hạn hán và 7 năm hồng
thuỷ”. Khi nước rút, các bè mảng của người Châu Mạ trôi đi tứ tung và tấp vào các
vùng đồi núi nên từ đó họ sống các vùng rừng núi.
Cộng đồng người Châu Ro sống chủ yếu ở vùng rừng núi. Thực tế sự cư trú
của cộng đồng này đã minh chứng điều này. Trong truyện “Vì sao người Châu Ro
sống ở rừng núi”, người Châu Ro đã lý giải vấn đề này có tính chất trong mối quan
hệ xã hội. Bởi vì cộng đồng người Châu Ro không chịu nổi “sự tàn bạo và hoang
dâm” của tên chúa đất nên đã từ bỏ vùng đồng bằng lên vùng núi sinh sống. Từ đó,
họ không trở lại vùng đồng bằng nữa. Đây cũng là một “tư liệu” hé mở cho chúng ta
tìm hiểu thêm về địa bàn cư trú của cộng đồng người Châu Ro trong bối cảnh của
diễn tiến vùng đất miền Đông Nam Bộ. Bởi có những tư liệu đã đề cập địa bàn cư trú
của người Châu Ro trước đây (vào khoảng trước khi lưu dân Việt đến khai khẩn) ở
vùng Sài Gòn - Gia Định hoặc miệt hạ của sông Đồng Nai.
Về hiện tượng trước khi bình minh có rất nhiều đám mây bao trùm bầu trời vào
buổi sáng, người Châu Ro nhìn hiện tượng để giải thích. Đó là khi ánh mặt trời chiếu
rọi thì các đám mây tan dần, chuyển đi. Trước hiện tượng đó người Châu Ro cho
rằng đã có những người khổng lồ giúp họ. Đó là những con người ngủ trong rừng
rậm, cứ mỗi sáng thức dậy đưa tay với lấy mây trời để ăn. Điều đó, đồng nghĩa với
sự giúp sức cho con người có một ngày tốt lành và họ biết ơn những người khổng lồ
trong truyện “những người ăn mây trời”.
Về những đặc điểm cộng đồng người Châu Ro, trong chuyện kể có cách thể

26.10 Page 260

▲back to top
hiện ngắn gọn nhưng trong truyện “Vì sao người Châu Ro không có chữ viết” lý giải
được hai vấn đề. Cái đặc biệt ở truyện này là nó không chỉ giải thích vấn đề đặt ra
ngay từ đầu câu chuyện mà còn lý giải cả những vấn đề về sau. Tức từ một nội dung
truyện mà giải thích đến hai hiện tượng. Truyện giải thích đơn giản nhưng đều bắt
nguồn từ nguyên do mà người Châu Ro đã làm. Cái thứ nhất, vì người Châu Ro mải
mê “ăn trái thị nên không kịp tới trường thi” nên từ đó về sau không có chữ viết. Cái
thứ hai là cũng do “ngồi dưới gốc cây thị có gỗ màu đen” nên da người Châu Ro có
màu đen. Đó là cách lý giải về chính những hiện tượng hiển hiện trong cộng đồng
của họ khi đối chứng với cộng đồng tộc người khác. Chính nội dung chuyện kể này
còn cho chúng ta biết được điều đó bởi nó đề cập đến tính liên hệ giữa các tộc người
trong xã hội. Đó là cách lý giải có tính so sánh giữa cộng đồng Châu Ro và người
Kinh. Họ nhìn nhận những đặc điểm có tính khác nhau và giải thích chúng như:
“người Kinh ngồi dưới gốc cây bằng lăng có gỗ màu trắng nên da trắng, người Kinh
kịp đến trường thi nên mới có chữ viết”.
Một số nội dung chuyện kể của người Châu Ro, Châu Mạ đề cập và giải thích
về hiện tượng tự nhiên, xã hội. Có những chuyện kể đi thẳng vào hiện tượng để giải
thích nhưng cũng có chuyện qua diễn biến của nội dung để đi đến kết luận sau cùng.
Ở đây, chúng ta không bàn đến sự “lý giải” đó như thế nào mà nhìn nhận cách nhìn
của người Châu Ro, Châu Mạ về sự vật hiện tượng tự nhiên, xã hội để giải thích vấn
đề theo cách nghĩ của cộng đồng.
2. Lý giải về địa danh
Những chuyện kể có đề cập giải thích địa danh của người Châu Ro không
nhiều (3 truyện tại Vĩnh Cửu, 2 truyện tại Xuân Lộc). Dẫu ít, nhưng nội dung truyện
gắn liền với một số địa điểm như khu rừng hay ngọn núi, con sông, suối, cánh đồng...
mà cộng đồng người Châu Ro biết đến hoặc đã từng sinh sống. Có những câu chuyện
lý giải về địa danh một cách cụ thể khi nói đến xuất xứ của một tên gọi nhưng cũng
có truyện chỉ đề cập đến địa danh mà không có lời giải thích. Nội dung truyện mang
nhiều nội dung nhưng sâu xa là nó thể hiện cách nghĩ, cách ứng xử và những bài học
của người Châu Ro trong các mối quan hệ với nhau.

27 Pages 261-270

▲back to top

27.1 Page 261

▲back to top
Truyện về “Sự tích suối Thề” nói về người đàn bà mải mê bắt cá để đứa con
của mình chết nước nên đã hứa với thần linh: “Không bao giờ ăn cá của con suối nơi
con mình chết. Lời thề của một con người trở thành tên của một con suối”. Người
Châu Ro cho rằng suối Thề ngày nay còn ở xã Bảo Bình, Xuân Lộc. Truyện ngắn với
nội dung đơn giản nhưng hàm chứa sự răn khuyên đối với tính cẩu thả hay nhắc về
sự chừng mực của con người (không nên tham lam).
Trong truyện “Chàng Lác” thì nội dung câu chuyện không lý giải đến địa
danh. Tình tiết câu chuyện xoay quanh một chàng trai, con út trong một gia đình mà
bản thân “vừa làm biếng, vừa ghẻ lác” nên lấy đặc điểm này làm tên gọi. Chàng Lác
lười biếng nhưng gặp may trong tình tiết như “cơ duyên” khi có vợ và nhờ vào cái
mõ thần của một con khỉ tặng cho. Nhờ đó, chàng Lác đã làm chủ một cánh đồng
mênh mông lúa và thú nuôi. Người Châu Ro cho rằng xứ sở của chàng Lác là cánh
đồng có tên Đồng Bơ hay Đồng Trường ở vùng Phú Lý, Vĩnh Cửu. Địa điểm này đã
ngập trong lòng hồ Trị An hiện nay.
Truyện “Sự tích Sông Ray” cũng là môtíf truyện không giải thích địa danh mà
nói về cội nguồn của nó. Vì vậy, trong truyện chỉ nói về sự phát tích của sông Ray
như: khởi nguồn dưới một chiếc lá trong khu rừng mà già làng có tên Già Liêu phát
hiện. Chính nhân vật già làng là khởi điểm cho sự hình thành của một dòng sông.
Bước chân của già làng tới đâu thì dòng nước dưới chiếc lá chảy theo tới đó. Một
phần chuyện kể hàm chứa về công lao của người già làng của cộng đồng. Một trong
những con sông đó chính là sông Ray. Tên gọi của địa danh này vẫn còn hiện hữu
trong vùng Xuân Lộc ngày nay.
“Sự tích miếu Ông Chồn” là câu chuyện có nhiều chi tiết “khác lạ” so với đời
thường nhưng gắn liền với một phế tích kiến trúc trong vùng Lý Lịch, Vĩnh Cửu.
Truyện kể về người con gái út trong một gia đình Châu Ro lấy một con chồn làm
chồng. Con chồn với phép thuật đã vượt qua bao kỳ thi thử thách của cha vợ trước sự
ghen tức của nhiều người trong gia đình. Trong đợt thi cuối cùng, con chồn đã xây
xong một cái đền tháp theo yêu cầu cha vợ nhưng cuối cùng bị những người rể khác
trong nhà tranh phần. Thế nhưng, cuối cùng chồn thắng bởi sức mạnh chế ngự những

27.2 Page 262

▲back to top
gì mình làm ra. Từ cuộc thi cuối cùng thành công đó, con chồn hoá thành chàng trai,
thoát khỏi lốt thú, sống hạnh phúc bên người vợ của mình. Có dị bản cho rằng, sau
này chàng trai chồn làm tù trưởng của người Châu Ro tại đây. Phế tích kiến trúc
gạch được đề cập trong chuyện kể ngày nay ở lưng chừng ngọn núi mang tên núi
Miễu Ông Chồn trong hệ thống rừng tại Phú Lý. Câu chuyện hàm chứa những cách
cư xử, cách sống trong các mối quan hệ xã hội, đồng thời hé mở những tư liệu xung
quanh phế tích kiến trúc cổ này trong hệ thống các di tích kiến trúc tồn tại trong vùng
rừng miền Đông Nam Bộ.
Truyện “Cánh đồng Cà Dăm” cũng không trực tiếp lý giải địa danh mà chỉ đề
cập trong tình tiết truyện. Nội dung truyện nói về người già làng giỏi giang, hiền lành
đã chấp nhận điều kiện trái tự nhiên là làm chồng heo rừng để cho chúng khỏi phá
nương rẫy buôn làng. Bao tình tiết xảy ra giữa già làng, heo rừng, người vợ và các
đứa con với đầy đủ các cung bậc hỉ nộ ái ố. Người cha gặp lại những đứa con với heo
rừng trước kia và được đối xử tử tế mặc dầu trước đây vì nghe theo lời xúi giục thâm
ác của vợ đã tìm cách bỏ con. Truyện thể hiện cái nhân nghĩa thắng bạo ác, tình
người thắng lòng đố kỵ, tình cảm của con cái đối với cha.. Địa danh Cà Dầm chỉ
được đề cập đến duy nhất một lần trong truyện, khi nói về người cha đào giếng bỏ
những đứa con xuống. Địa điểm đó được người Châu Ro cho là cánh đồng Cà Dầm
với dấu tích của cái miệng giếng vẫn còn.
Trong chuyện kể người Mạ có 2 bản nói về địa danh hiện nay còn hiện hữu.
Một là “Sự tích Đá Bàn” và “Sự tích thác Bến Cự”. Địa điểm Đá Bàn hiện nay nằm
trong địa phận của Lâm trường Tân Phú. Nơi đây còn những hòn đá nằm rải rác trên
bờ của một con suối. Trên những hòn đá có in những vết tích của bàn tay khổng lồ -
gắn liền với chuyện tích về một buổi chiều tối khi dân làng đang chia thịt thú rừng,
bỗng nhiên trời sụp tối và trời như đè sập lên mặt đất. Trong con nguy khốn đó,
người khổng lồ K’-Yút đã ra tay chống đỡ để trời đất không nhập làm một. Vì đứng
chống đỡ lâu mà tay của người khổng lồ in vào những hòn đá còn lưu vết tích cho
đến ngày nay.
Địa điểm thác Bến Cự nay trong địa phận của Vườn Quốc gia Cát Tiên.

27.3 Page 263

▲back to top
Chuyện kể về sự tích của ngọn thác này gắn liền với tình yêu giữa chàng K’Du và
nàng Ka Mài - giữa một bên là con người trần và một bên là của thế giới thần tiên hết
sức lãng mạn và cảm động. Vì phạm vào luật tiên giới nên nàng Ka Mài bị bắt giam
trên trời. Qua bao thử thách và hy sinh, cuối cùng tình yêu đã giúp họ đến với nhau
dù rằng khi đó họ không còn sống bên nhau. Những kỷ niệm về tình yêu của con
người và thần tiên gắn liền với từng cảnh vật mà người Châu Mạ kể làm cho cảnh
đẹp địa danh này càng thú vị.
3. Phản ánh phong tục-tập quán
Nội dung chuyện kể của người Châu Ro, Châu Mạ đề cập đến phong tục tập
quán, những điều kiêng kỵ trong cộng đồng khá nhiều. Thường, truyện lý giải thông
qua một chuyện kể cụ thể đã xảy ra. Trong chuyện kể, có những nội dung bắt nguồn
từ thực tế của cuộc sống cũng như có những chuyện kể có những chi tiết “hoang
đường”, “khác lạ” với cuộc sống. Thế nhưng, từ những cất truyện ấy, người Châu
Ro, Châu Mạ thể hiện cái nhìn của mình với những điều sự vật, hiện tượng tồn tại
trong cộng đồng. Họ tìm ra những “nguyên nhân” để tránh cái họa cho bản thân, cho
cộng đồng hoặc thể hiện cái nghĩa, cái tâm của con người đối với tự nhiên.
Trong truyện “Kiêng ăn thịt heo”, cho thấy người Châu Ro không ăn thịt heo
bởi vì cái ơn mà con heo đã giúp người. Câu chuyện mang chi tiết “khác lạ” như: heo
chăm sóc như một người mẹ đối với hai đứa trẻ mồ côi mẹ, hằng ngày cho trẻ bú cho
đến khi lớn. Vì nhớ cái ơn ấy mà người cha đã dặn truyền cho con cái, dòng họ
không ăn thịt heo. Câu chuyện chỉ xảy ra trong một gia đình và có thể sự kiêng kỵ
này không phổ biến trong cộng đồng. Bởi vì qua thực tế điền dã, trong cộng đồng
người Châu Ro hiện nay không có giữ sự kiêng kỵ này.
Truyện “Mẹ nhau thần chết” thì cho biết tại sao người Châu Ro hay ăn thịt
chim bìm bịp. Nội dung truyện giải thích thông qua cái chết của nhiều đứa con trong
một gia đình. Những đứa con của họ hay bị thần nhau bắt đi (chết). Người cha trong
một lần tình cờ nghe lời Mẹ nhau nói mà họ biết được cách để cho con mình khỏi
chết. Cách đó là cứ “ăn thịt chim bìm bịp” và họ đã thực hiện, đứa con trai sống mà
không bị bắt đi. Vì thế, thịt chim bìm bịp trở thành như “vật linh” mà thần chết

27.4 Page 264

▲back to top
không dám động vào. Không chỉ cho trẻ em ăn thịt chim bìm bịp mà người Châu Ro
còn lấy xương của chúng làm xâu chuỗi như một thứ “bùa thiêng” đeo ở cổ trẻ em.
Người Châu Ro khi làm gì hoặc đi đâu không dám hẹn nhau trước với người
khác. Truyện “không hẹn trước” cho biết bắt đầu từ những hậu quả khôn lường của
một số người khi hẹn vào rừng với nhau. Lời hẹn của những người cùng đi, làm gì
với nhau bị ác quỷ (đười ươi) biết được và nó giả dạng người được hẹn, ăn thịt họ.
Sau khi cố công theo dõi và phát hiện, họ đã giết được con đười ươi ăn thịt người. Từ
đó, người Châu Ro thường kiêng kỵ hẹn với ai trước khi vào rừng hoặc đi xa.
Truyện “Người hóa voi” với nhiều chi tiết “hóa thú” của hai cha con trong lúc
đi săn trong rừng. Bởi đói bụng nên họ đã ăn thịt con càng tôm nấu chung với thịt kỳ
đà. Khi ăn xong, thân hình họ hóa thú khác thường, Họ cho rằng thần rừng - Yang
Bri trừng phạt. Người cha bèn sai con trở về nhà báo với người thân và đem những
vật dụng như chày giã gạo, nia, chà gạc để biến thành con voi. Chuyện cũng không lý
giải vì sao khi con người ăn thịt con càng tôm nấu chung với thịt kỳ đà se bị hóa thú
nhưng trước hậu quả mà hai cha con người thợ săn như vậy đã khiến cho cộng đồng
người Châu Ro kiêng kỵ nó.
Về vật nuôi, người Châu Ro kiêng kỵ nuôi con gà trắng. Lý giải điều này,
người Châu Ro cho rằng con vật này là điềm không may trong gia đình. Nó chỉ dùng
trong những việc thề độc khi con người nghi kỵ lẫn nhau. Vì vậy, con gà trắng trở
thành vật linh trong lễ cúng. Tư liệu điền dã tại vùng Lý Lịch cho biết, đã có một gia
đình người Châu Ro bị chết do thề độc (truyện Con gà trắng).
Người Châu Mạ có những tập quán được nhắc đến trong chuyện kể cũng khá
nhiều. Khi làm rẫy, người Châu Mạ thường hay chặt những thân cây chuối bỏ xung
quanh bởi vì loài chuột khi thấy rất sợ. Nguyên do được giải thích là trước đây con
người và chuột đã từng có trường hợp sống chung thành vợ chồng. Con người đã lấy
thân cây chuối làm hòm cho chuột khi chúng chết (truyện Loài chuột).
Một trong những tập quán trong hôn nhân mà chúng ta dễ dàng nhận thấy qua
nội dung thể hiện trọng các câu chuyện kể. Những nghi thức cho ngày hỏi vợ cưới vợ
và những lễ vật...trong chuyện kể K’Yai và K’Yọt thể hiện khá rõ nét. Còn về phong

27.5 Page 265

▲back to top
tục ở rể thì dẫu phía người con trai chủ động (kể cả dạng thần linh sắp đặt hay ác quỷ
giăng bẫy) thì khi thành vợ thành chồng chàng trai phải ở lại bên nhà vợ. Một thời
gian khá dài thì người con trai mới đưa vợ về ra mắt bên nhà cha mẹ ruột. Chỉ có 1
văn bản chuyện kể Người cùi thì không ở rể do quy định bắt buộc của cộng đồng:
người cùi và gia đình họ phải sống xa cách biệt dân làng.
Lễ hội, đình đám thường diễn ra trong cộng đồng cư dân Châu Ro, Châu Mạ -
đặc biệt là người Châu Mạ. Khi làm rẫy, tổ chức đám cưới, mừng ngày hội ngộ, ngày
chiến thắng quân thù hay giết được ác thú... thì người Châu Ro, Châu Mạ thường tổ
chức những lễ hội khá linh đình và cộng đồng tham dự rất đông đảo. Trong số những
chuyện kể Châu Ro, Châu Mạ thu thập được, chúng tôi xin nêu một vài lễ hội được
đề cập. Những lễ hội này được miêu tả khá linh đình, kéo dài trong nhiều ngày;
thường giới hạn trong thời gian là 3 hay 7 ngày: lễ ăn mừng (Sự tích miếu Ông Chồn,
K’Đòng giao chiến cùng trâu nước..), lễ ban thưởng (Thằng mồ côi); lễ trả của, tạ ơn
cha mẹ (Chàng cùi); lễ cúng thần cây đa ( Ka Mài ngủ với rắn ); lễ cúng thần sông
(K’Dòng và Nar Woài, K’Rung đi buôn bán); lễ cúng chữa bệnh và trừ ma quỷ
(K’Rung và K’Rìng); lễ hỏi, lễ cưới vợ (K’Yai và K’Yọt)...
4. Về các mối quan hệ
Hầu hết các chuyện kể Châu Ro, Châu Mạ đều phản ánh những mối liên hệ đa
dạng với nhau. Mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội, giữa con người với thiên nhiên,
giữa con người với con người... với những thang bậc, sắc thái phong phú.
4.1. Mối quan hệ tộc người – cộng đồng
Chuyện kể Châu Ro, Châu Mạ không chỉ đề cập riêng cộng đồng họ mà còn đề
cập đến tộc người khác. Đó là mối liên hệ của tộc người, của quá trình giao lưu nhiều
mặt trong tiến trình phát triển của xã hội loài người nói chung. Truyện “Vì sao người
Châu Ro không có chữ viết” đã đề cập đến tộc người Kinh “Thời xa xưa người Châu
Ro cũng có chữ viết như người Kinh, cùng học một thầy với người Kinh” và lý giải
những đặc điểm tộc người như màu da tại sao khác nhau. Truyện “Mụ chằn tinh và
cây gậy thần” nhắc đến “Vua xứ Kinh” trong đợt tuyển cung phi. Một số truyện khác
như “Chàng Lác”, “Tráng sĩ diệt cọp tinh”, “Nàng tiên mèo”... nói đến những buôn

27.6 Page 266

▲back to top
làng của các tộc người khác nhau. Trong từng tình tiết cụ thể của mỗi truyện mà có
những sự liên hệ qua lại giữa các tộc người của địa bàn cư trú khác nhau. Đó chính là
sự phản ánh những mối liên hệ rộng trong cộng đồng tộc người. Nhiều chuyện kể
như Những người con của chó, Cánh đồng Cà Dầm, Chàng con trai chim chích, Hai
anh em... cho thấy những cộng đồng cùng huyết thống cũng hòa nhập trong một điều
kiện cụ thể với những lý do khác nhau nhưng tựu chung trước những nguyên nhân
đói kém, hạn hán, bệnh dịch, những buôn làng này hợp sức lại, nương tựa vào nhau
để sinh tồn.
Những mối quan hệ giai tầng trong cộng đồng người Châu Ro, Châu Mạ được
thể hiện qua nhiều truyện như. Chàng Lác, Thằng mồ côi, Sự tích miễu Ông Chồn,
Chàng SangBri, Cánh đồng Cà Dầm, Sự tích Sông Rây, Cây nấm, Kẻ mồ côi sống
với trái gùi, Con chim màu hồng... Những mối quan hệ cho thấy xã hội người Châu
Ro, Châu Mạ có sự phân hóa: già làng và dân chúng, người giàu (chúa đất) và người
nghèo, vua và dân chúng. Sự quan hệ giữa cộng đồng với nhau ràng buộc bởi già
làng - đó là hình thức quản lý cao nhất thời xưa của họ. Những đơn vị gia đình tập
trung trong từng buôn làng. Mối quan hệ cộng đồng thể hiện sự đoàn kết như cùng tổ
chức lễ hội, cùng tham gia những trận chiến chống thế lực ma quỷ, thiên tai, địch hoạ
(K’Đòng giao chiến cùng trâu nước, Người con trai chim chích, Trăn tiên, Quỷ giã
gạo làm men...).
Đặc biệt, trong chuyện kể Châu Mạ, chúng ta thấy nhiều chi tiết trong mối
quan hệ giữa tộc người Châu Mạ và người Chăm (người Châu Mạ gọi là Prum).
Những chuyện kể như Sự tích thác Bến Cự, Chàng trai chim chích, Con lươn thần,
Chàng K’Rung đi buôn... có những chi tiết về chiến tranh xảy ra giữa hai cộng đồng.
Sự thật lịch sử có những cuộc giao tranh giữa người Mạ và người Chăm. Nguyên
nhân của các cuộc xung đột dẫn đến chiến tranh trong chuyện kể chỉ đề cập đến vấn
đề tranh nhau nguồn nước của con sông. Bên cạnh những chuyện kể khác không
nhắc đến tên các tộc người giao tranh nhưng cũng đề cập đến việc tranh chấp này.
Có thể, tộc người Châu Mạ vùng thượng nguồn sông Đồng Nai và các tộc người sinh
sống ở miệt hạ đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh thời cổ. Sự xâm lấn lãnh thổ cư trú
và nguồn nước sống là một trong những nguyên nhân chính của các cộng đồng tộc

27.7 Page 267

▲back to top
người. Một số truyền tích cho rằng nó chỉ xảy ra dưới khu vực sông DaRnga (tức La
Ngà) - đây dược xem là ranh giới phân định. Còn chuyện kể về Thác Bến Cự cho
thấy người Chăm đã vượt qua ranh giới của sông La Ngà. Vùng thác Bến Cự được
xem là trận địa mà người Mạ luôn đánh thắng người Chăm và từ đó người Chăm
không xâm lấn người Mạ. Những chi tiết của các chuyện kể đã đóng góp những tư
liệu cho việc nghiên cứu của lịch sử cộng đồng các tộc người này trong mối quan hệ
trên địa bàn Đông Nam Bộ.
4.2. Mối quan hệ thành viên cá nhân, gia đình
Nhiều chuyện kể Châu Ro, Châu Mạ đề cập mối quan hệ các thành viên trong
gia đình như giữa vợ với chồng, giữa cha với con, giữa anh với em, cháu với bà... với
nhiều cách đối xử khác nhau. Có những mối quan hệ nảy nở những tình cảm tốt đẹp
nhưng cũng có những mối quan hệ xấu, thậm chí có một quá trình dài để hình thành,
nảy sinh thể hiện các sắc thái tình cảm khác nhau.
Chuyện kể Châu Ro, Châu Mạ cho thấy sự đa dạng trong quan hệ vợ chồng. Sự
kết hợp vợ chồng giữa thành viên là con người với con người hay với các thần linh
tạo nên những sắc thái tình cảm đa dạng và những kết cuộc không hoàn toàn giống
nhau. Có những mối quan hệ vợ chồng bền vững nhưng cũng có những mối quan hệ
đi đến sự tan vỡ với sự thay đổi bởi cách sống của nhân vật chính.
Những mối quan hệ bền vững thể hiện những tình cảm chân thật tình yêu
chung thuỷ thể hiện trong những chuyện kể sau: chàng K’Du với nàng tiên nữ Ka
Mài (Sự tích thác Bến Cự), cô gái và người chồng mang lốt sâu (Chàng con sâu), cô
gái và người chồng mang lốt con sóc (Con sóc bông), cô gái và người chồng mang
lốt gà (Chàng gà, Thần gà) cô gái và người chồng mang lốt chồn (Sự tích miếu Ông
Chồn, Quỷ Nai và chàng chồn, Yêu quái và cây thần), cô gái và người chồng mang
lốt trăn (Trăn tiên, Ka Nga xúc trăn Ka Dê xúc cá), chàng trai và người vợ mang lốt
vượn (K’Yung và K’Yài)... Họ sống với nhau hạnh phúc trong cuộc sống trên trần thế
và nhiều lúc phải trải qua hoàn cảnh cay đắng, buồn tủi. Cũng có những nhân vật
trong mối quan hệ vợ chồng với nhau phải hy sinh bởi chính sự nghi kỵ, ganh ghét,
sát hại của người đời song những kết cuộc là họ đều gặp nhau và sống bên nhau

27.8 Page 268

▲back to top
trong một thế giới khác. Chúng ta không nói đến những cách thức quyên sinh như:
dìm mình trong sông sâu hay nhảy vào trong đống lửa tự thiêu - một môtíf hay xuất
hiện trong truyện trong hoàn cảnh một trong hai người vì lý do nào đó chết đi trong
chuyện kể - mà xét đến yếu tố quan hệ với kết cuộc tốt đẹp thể hiện khát vọng trong
tình yêu theo quan niệm, cách suy nghĩ của cộng đồng tộc người Châu Ro, Châu Mạ.
Bên cạnh đó, có những quan hệ vợ chồng không dẫn đến yếu tố hạnh phúc bền
vững. Những nhân vật chính được đề cập trong những chuyện kể về trường hợp này
cũng khá nhiều như: Nàng Ka Bềng và Ka Glòng với người chồng là người củi
(Người cùi) sống với nhau hạnh phúc nhưng từ khi chàng rể loạn luân với mẹ vợ thì
hai người vợ dùng phép thần để lên trời sống. Từ đó người vợ mất chồng, con cái mồ
côi sống giữa thế gian với bao gian truân và người chồng và bà mẹ vợ bị trừng phạt
chết cháy trong lửa. Hay trong truyện “Cây nấm” nói về chàng trai và hai người vợ
là chị em cô gái nghèo ban đầu sống hạnh phúc nhưng người chồng sau này bạc tình
nên rốt cuộc gia đình tan vỡ. Người chồng bị trừng phạt hóa thân thành cây nấm
sống trong rừng sâu...
Trong quan hệ anh em thì chuyện kể Châu Ro, Châu Mạ thể hiện nhiều hoàn
cảnh, trường hợp mà kết cuộc khác nhau. Tình anh em thắm thiết, sống thết có nhau
được thể hiện trong một số chuyện kể: Nhân vật Điểu Phương đi tìm mọi cách để
cứu em gái mình thoát khỏi bị ác thú làm hại (Tráng sĩ diệt cọp tinh); chuyện về
K’Đòng và bốn người em là một trong những chuyện khá cảm động: K’Đòng và
người em gái nhờ - sự giúp đỡ của loài thú và thần linh để cứu các em trai mình khi
họ bị ác quỷ giết hại (K’Đòng giao chiến cùng trâu nước); người anh trai chờ đợi
thời cơ giết ma lai để trả thù cho em gái (Quỷ giã gạo làm men). Nhân vật KTồ với
anh trai mình trải qua những ngày tháng mồ côi khốn khó vẫn nương tựa bên nhau để
mà sống. Sau này khi lập làng mới vẫn nhớ về người anh trai K’Tà mà tìm cách đưa
anh mình lên để sống chung mặc dầu người anh trai đã từng bạc đãi mình (Kẻ mồ côi
sống với trái gù). Trong truyện “K’Yung và K’Yài thì người em tài khi gặp lại được
vợ sống cuộc sống sung sướng vẫn mời người anh mình lên chung sống dù trước đây
người anh đã tìm cách giết mình.

27.9 Page 269

▲back to top
Trong quan hệ anh em, thúng ta thường thấy lúc ban đầu họ sống với nhau rất
tốt, giúp đỡ nhau, nương tựa nhau để sinh tồn trong những điều kiện sống khắc
nghiệt. Và không ít người anh trong hoàn cảnh sống khác trước đã trở nên một con
người khác, bạc tình, bạc nghĩa đối với những người thân. Trong khi đó, bất kỳ trong
hoàn cảnh nào người em cũng dành cho người anh những tình cảm chân thành. Vì
vậy, kết cuộc chuyện dường như bao giờ những sự ban thưởng cũng dành cho nhân
vật là người em và sự trừng phạt cho những người anh cố công làm hại em trai mình.
Hay trong những kết cuộc đau lòng là người anh trai phải chết trong mưu mô của
mình khi sắp đặt những cái bẫy chết người để hại em được nhắc đến trong truyện
“Kẻ mồ côi sống với trái gùi” và “Hai anh em” .
Mối quan hệ cha - con, mẹ - con, bà - cháu trong chuyện kể Châu Ro, Châu Mạ
biểu đạt tình cảm với nhiều cung bậc. Hầu hết, các giềng mối này được được duy trì
tốt, có tính chất bền vững trong xã hội của cộng đồng. Thường người cha, người mẹ
đều có trách nhiệm. với con cái và ngược lại. Thế nhưng, một số trường hợp xảy ra
với những tình tiết truyện khá đặc biệt. Đó là người cha đem con mình bỏ rơi vào
một vùng đất xa lạ, như vậy người con trở thành mồ côi. Người cha trở thành người
thiếu trách nhiệm (Đứa con trai bị bỏ rơi ở cù lao biển) hay người vợ vì xấu hổ bỏ
chạy vào rừng sinh con thì người cha cũng không còn trách nhiệm với đứa con gái.
Chỉ sau này, khi nhận thấy được nơi ở của vợ con, trách hhiệm của mình, người cha
đã tìm đến, đem vợ con về nhà sinh sống. Đó là trường hợp xảy ra với đứa con của
nàng Ka Mài trong truyện “Ka Mài ngủ với rắn” . Khi xem xét về mối quan hệ trên,
cần quan tâm đến những nguyên nhân xảy đến được đặt trong từng hoàn cảnh cụ
thểcủa nhân vật.
Nổi bật lên trong mối quan hệ gia đình là mối quan hệ giữa mẹ và con hay bà
với cháu. Trọng trách của người phụ nữ đối với con cái dường như lớn hơn so với
người cha. Điều này quy định bởi xã hội mà chế độ mẫu hệ được xác lập: người mẹ,
người bà nuôi dưỡng con cái. Nội dung của nhiều chuyện kể cho thấy tình cảm của
người mẹ, người bà dành cho con, cháu rất cảm động. Dẫu trong bất cứ hoàn cảnh
nào, họ vẫn luôn dành cho con, cháu những tình cảm khắng khít. Nhân vật hai người
mẹ trong truyện “Chàng cùi” và “Cây nấm”

27.10 Page 270

▲back to top
có thể nói là tiêu biểu cho tình cảm của mối quan hệ mẹ - con trong số những chuyện
kể Châu Ro, Châu Mạ. Người cha bỏ rơi con thì người mẹ càng nuôi con cái và tranh
đấu cho chúng những quyền mà con cái cần được. Hai người mẹ trong truyện “Chàng
cùi” dầu lên trời sinh sống trong khi con mình bị phạt ở lại trần gian vẫn hằng ngày
lo lắng, chuẩn bị chu tất cho cuộc sống của hai người con. Trong truyện “Cây nấm”,
vì muốn con có người cha đích thực mà hai người mẹ chấp nhận mọi thử thách vượt
quá sức chịu đựng của bản thân để cho con được nhận cha. Và kết quả của tình yêu
người mẹ đã cảm động thần linh, giúp đỡ cho những người phụ nữ thân phận bị bỏ
rơi được hưởng sự công bằng.
Thế nhưng, trong mối quan hệ giữa cha mẹ, con cái vẫn còn nhiều điều không
được trọn vẹn khi mà người lớn vì tính tham lam hay quyền lợi riêng của mình đã vô
tình hay cố ý làm tổn hại đến con cái. Hầu hết, trong những truyện mà thần linh hóa
lốt thú kết hợp với con gái loài người (Chàng con sâu, Thần gà, Chàng gà, Trăn
tiên..) có không ít những người cha, người mẹ vì lo cho con cái đã phá vỡ hạnh phúc
của chúng. Con cái của họ bị chết và cuối cùng họ mất con, thậm chí bị trừng phạt
của thần linh. Chính những nội dung chuyện đa dạng với bao tình tiết lý thú đó làm
cho chuyện kể của người Châu Ro, Châu Mạ phản ánh được những đặc điểm xã hội
của tộc người.
5. Vấn đề thần linh - ma quỷ - ác thú và hình thức đội lốt
Qua tư liệu điền dã dân tộc học, chúng ta biết được hệ thống thần linh trong
đời sống của các cư dân thiểu số miền núi nói chung, cư dân Châu Ro, Châu Mạ ở
Đồng Nai nói riêng rất phong phú. Người Châu Ro, Châu Mạ trước đây với tín
ngưỡng “Vạn vật hữu linh” nên những hiện tượng thiên nhiên, sự vật trong môi
trường sống của họ đều được họ quan niệm có linh hồn, có thần linh. Tất cả những
điều đó thuộc về một thế giới siêu hình, thế giới siêu hình đó là nơi tồn tại, ngự trị
của các thần linh (đại diện cho cái thiện) và có cả ma quỷ (đại diện cho cái ác), có
khả năng chi phối đến đời sống con người. Đây là quan niệm chung của các tộc
người trên thế giới trong thời kỳ cuộc sống nguyên thuỷ với trình độ nhận thức chưa
phát triển và hiện nay vẫn còn tồn tại.

28 Pages 271-280

▲back to top

28.1 Page 271

▲back to top
Trong chuyện kể của người Châu Ro, Châu Mạ thì hệ thống thần linh và ma
quỷ được nhắc đến với một số lượng đáng kể. Thần linh thì thường hay giúp đỡ, ban
phước cho con người, còn ác quỷ thì phá hoại cuộc sống của họ. Thế nhưng, giữa
người và thế giới thần linh đó cũng bao phen gây nên nhiều cảnh đau thương, biệt ly
do những quan niệm khác nhau, bởi những luật định, giới cấm và cả những điều nghi
kỵ.
Người Châu Ro gọi thần linh là Yang (Nhang). Thần linh có sức mạnh rất lớn
và có quyền điều khiển thế giới mà họ đang sống. Truyện “Vì sao chim cút sống ở bờ
bụi” thì Yang sai khiến muôn loài “trồng cây rừng cho đông, đào cho suối thêm
nhiều nước”. Truyện “Những người ăn mây trời” đề cập những người khổng lồ ăn
mây trời cho trời sáng bắt đầu một ngày mới. Người khổng lồ cũng là một trong
những thần linh. Trong truyện “Người hóa voi”, “Những người con của chó”,
“Tráng sĩ diệt cọp tinh”, “Nàng tiên mèo”, “Chàng Sang Bri” thì nhắc đến Yang Bri
- tức thần Rừng. Yang Bri tuỳ theo hoàn cảnh, hành động của con người mà giúp đỡ
hay quở phạt họ. Yang Bri là một trong ba loại thần linh mà người Châu Ro tổ chức
cúng lễ trong năm bởi môi trường sống của cộng đồng gắn liền với rùng núi.
Thần linh trong chuyện kể ngươi Châu Ro trong lốt của nhiều dạng như: ông
già, cô gái (Nàng tiên mèo), ông Tiên (Thằng mồ côi hay chàng trai - con chồn (Sự
tích miếu ông Chồn) .
Trong chuyện kể của người Châu Mạ thì thần linh xuất hiện khá nhiều trong
nhiều dạng lốt khác nhau. Hệ thống thần linh của người Châu Mạ có nhiều lớp: thần
linh sáng tạo thế giới, thần linh của các loài. Thần linh thì có nhiều quyền phép, tài
thuật để giúp đỡ con người vượt qua những khó khăn, đánh lại quỷ dữ đồng thời
cũng trừng phạt họ nếu như họ bất kính, vi phạm điều cấm, giới luật.
Về lớp thần sáng tạo trong chuyện kể đề cập thần K’Boong, thần N’Duu, Duk
Yang Kòi - thần Lúa (Buổi đầu khai thiên lập địa); thần K’Boong (Sự tích Cà Răng);
thần Readon con của thần Mặt trời (Chuyện về Lửa). Bên cạnh đó, xuất hiện con của
thần linh, tổ tiên, hay thần các loài vật như. Doot, Doi, Ka Yếc con thần K’Boong; tổ
Paang Kkha và tổ Paang Khem, Biit và Riing hay người khổng lồ I - út; các linh vật

28.2 Page 272

▲back to top
thần như rắn Nak Grai, chim Siim Têk, Siim Tiik...
Hệ thống thần linh giúp đỡ cho con người trong chuyện kể Châu Mạ mang
nhiều lốt khá độc đáo và trong những tình tiết truyện khá thú vị.
- Truyện “K’Đòng giao chiến cùng trâu nước” nhắc đến thần Sấm sét và con
gái của thần và củ ngải thần. Trong khi thần Sấm sét tấn công chàng K’Đòng thì con
gái của người (cũng là thần linh) giúp đỡ đối thủ của cha mình. Trong nhiều cuộc đấu
tài thì cuối cùng chàng K’Đòng đều chiến thắng. Do thần Sấm sét hiểu lầm nên cuối
cùng chàng K’Đòng được minh oan và được vị thần gả con gái cho.
Trong nhiều chuyện kể Châu Mạ ta thấy sự xuất hiện của thần Nước khá nhiều.
- Truyện “Cậu K’Rung đi buôn bán” hay nói đến thần Nước - thần Sông giúp
đỡ chàng K’Rung được gặp lại vợ mình. Vợ chàng K’Rung bị hại chết và cuối cùng
nhờ thần Nước cứu, giữ xác cho đến khi chàng đến cứu, báo thù những kẻ độc ác.
- Truyện “Hai anh em K’Đòng và K’Sách” thì thần Nước khuyên bảo chàng
K’Dòng nên làm những việc thiện, siêng năng giúp đỡ gia đình, không nên tự huỷ
cuộc đời mình.
- Truyện “Vợ chồng Ka Đìng Kòn Vìng... đánh trận với quỷ” thì cho thấy yếu
tố thần Rừng giúp cho nhân vật chính của câu chuyện và dân làng đánh thắng quỷ dữ,
cứu vợ và dân làng thoát khỏi những trận quỷ dữ tàn phá.
- Truyện “Nàng gà lôi” thì xuất hiện thần Mặt trời, thần Núi giúp đỡ cho chàng
mồ côi.
- Truyện “Cây nấm” thì xuất hiện nhện thần, ông Trời giúp chị em nàng Ka
Vách, Ka Nar...
- Truyện “Ka Sệt ngủ với rắn” xuất hiện thần cây Đa giúp cho nàng Ka Sệt
trong những ngày sống ở rừng và giúp cho gia đình họ sau những ngày bị chia cách
được đoàn tụ.
Thần linh thường dùng lốt để đến với con người mà một trong những lốt được
sử dụng là các loài thú. Yếu tố mang lốt loài thú với nhiều tình tiết hoá thân rất độc
đáo. Đây là môtíf thường được thấy trong nhiều chuyện:

28.3 Page 273

▲back to top
- Thần sâu - chàng trai (Chàng con sâu) đã yêu cô gái út của một gia đình. Thế
nhưng, cuối cùng thần con sâu đã bị chính người cha vợ lừa vào bẫy giết chết.
- Trăn thần - chàng trai (Ka Nga xúc trăn, Ka Dê xúc cá) đã yêu cô gái là đứa
em trong một gia đình. Trăn thần dùng tài phép của mình giúp đỡ cho cha mẹ, anh
em và buôn làng và sống hạnh phúc.
- Trăn thần - chàng trai (Trăn thần) có thể xem như một dị bản của chuyện (Ka
Nga xúc trăn, Ka Dê xúc cá).Con trăn thần yêu người con gái út trong gia đình có
bảy chị em. Người em chấp nhận mọi sự để yêu chàng trăn mặc bao lời khỉnh bị của
người thân, dân làng. Người vợ của trăn thần đem lốt áo của chồng đốt đi nàng hoá
giải cho kiếp trăn và làm cho người chồng thành con người mãi mãi. Họ sống hạnh
phúc và giúp đỡ nhiều việc cho dân làng bằng tài phép của chàng trăn.
- Thần linh mang lốt con lươn trong truyện “Con lươn thần” đã giúp đỡ chàng
trai mồ côi có nhiều của cải khi dùng phép thuật để lấy của cải người Prum (Chăm).
- Thần linh mang lốt vượn/ lốt người trong truyện “K’Yung và K’Yài” sống với
người con trai K’Yài. Người chồng K’Yài vì vi phạm vào điều kiêng kỵ nên người
vợ hoàn lốt vượn bỏ đi. Chàng K’Yài trở nên điên khùng và bị người anh tìm cách
giết hại. Khi ấy, vượn tiên xuất hiện và cứu chồng. Hai người sống với nhau hạnh
phúc và cứu dân làng cũ thoát khỏi nạn đói kém.
- Chim thần màu hồng - cô gái (Con chim màu hồng) đã yêu chàng trai bất
chấp nguy hiểm tìm đến với mình là chàng K’Pong. Thế nhưng, do chàng K’Pong do
dự nên cô gái Ka Piêng đã hóa thành chim, sau đó hoá thành người để yêu người em
trai của người yêu mình. Hoàn cảnh trớ trêu ngày hội tụ gia đình cũng là bước ngoặt
cho sự tan vỡ những mối quan hệ trước đây. Nàng Ka Piêng và chàng K’Pong tìm
đến cái chết để hoá giải cho những trắc trở duyên phận. Nàng Ka Piêng lại hoá thân
thành chim màu hồng, một loài chim được người Châu Mạ xem là biểu tượng của cái
đẹp.
- Chim bồ câu - cô gái (K’Sệt chọn bạn chim bồ câu) vì thương cảnh mồ côi
của hai anh cm trai K’Sệt nên đã giúp đỡ họ. Sau những ngày sống bên nhau, chim

28.4 Page 274

▲back to top
bồ câu thử tài hai anh em mồ côi và cuối cùng chọn người em làm chồng. Thế nhưng,
vì mang lốt chim bay đi bay về nên chim đã bị người thợ săn bắn chết.
- Con chồn - chàng trai (Quỷ Nai và chàng trai chồn) giúp đỡ cô gái bị quỷ dữ
bắt và từ đó nên vợ nên chồng. Qua bao hiểm nguy, họ sống với nhau hạnh phúc. Thế
nhưng, do sự ganh ghét, thanh niên của buôn làng đã phục tâm giết chàng trong đống
lửa của đêm lễ hội. Vì đau xót và thương chồng nên cô gái cũng tìm đến cái chết
bằng cách tự thiêu trong đống lửa. Trong dị bản khác (Yêu quái và cây thần) thì tình
tiết chàng chồn bị mẹ vợ giết và cô gái bị bệnh chết. Hai người gặp nhau và trở về
bên cây thần linh đã giúp họ tránh nạn quỷ dữ trước đây sống với nhau.
- Con gà - chàng trai (Chàng gà) đem lòng thương mến hai chị em của một gia
đình. Vì mang trong mình lốt thú nên cha mẹ cô gái nghĩ rằng ác quỷ đội lốt nên
không đồng ý. Vì thế, người cha tìm cách lừa và giết chàng gà khi anh ta mang lốt gà
đến thăm nhà. Người chị nhớ thương chàng gà và quyên mình dưới dòng suối sâu.
Một dị bản khác “Thần gà” có nội dung gần như nhau nhưng có một số tình tiết
khác: Người chị ăn thịt chồng mà không biết do người cha độc ác giết chàng gù đem
nấu cháo. Người vợ chàng gà tìm đến cái chết trong đống lửa. Sau đó, hai người gặp
lại nhau trong thế giới của thần tiên, sống mãi bên nhau.
- Con gà lôi - cô gái (Nàng gà lôi) là thần Núi mang lốt con gà lôi và hiện hình
thành một cô gái xinh đẹp đến giúp đỡ chàng K’Kơ mồ côi đang buồn chán đi trên
cái chết. Qua thời gian giúp đỡ chàng trai, nàng gà lôi thần đã đem lòng yêu chàng
trai và họ trở thành vợ chồng. Do chàng trai K’Kơ vi phạm vào điều hứa nên nàng gà
lôi đã hóa kiếp gà về rừng. Thế nhưng trước tình yêu tha thiết và nỗi lòng hối hận của
chàng trai nên thần Mặt trời cho họ được tái ngộ để sống cuộc đời hạnh phúc.
- Ngà voi - cô gái (Ké mồ côi sống với trái gù” trong thân phận sống trong
chiếc ngà voi đã giúp đỡ cho chàng trai mồ côi K’Tồ. Trải qua bao thử thách, nghèo
khổ, gian nan họ trở thành vợ chồng và sống với nhau, làm chủ một vùng đất rộng
lớn. Dù vợ chồng người anh trai ghen ghét, tìm cách giết hại nhưng cuối cùng họ vẫn
chiến thắng bằng tình nhân ái.
- Tiên nữ - cô gái với tên Ka Mài (Sự tích thác Bến Cự) là tiên nữ bỏ thượng

28.5 Page 275

▲back to top
giới để yêu con trai loài người. Họ đã có những thời gian sống với nhau hạnh phúc
nhưng không trọn vẹn. Vì phạm vào luật trời nên nàng tiên nữ Ka Mài bị bắt về trời.
Chàng trai con loài người là K’Du nhớ thương vợ đến chết. Trên thượng giới, nàng
tiên nữ thấy cảnh xót thương và xin chết để hóa kiếp làm loài hoa để vợ chồng được
bên nhau.
- Chim sơn ca - nàng Ka Diên (Hai anh em K’Dong và K’Sách) kể về chàng
K’Dong vốn là một người làm biếng nhưng khi nghe theo tiếng gọi của tình yêu
chàng quyết tâm bằng mọi cách vượt qua gian khổ để tìm người vợ mà mình mong
muốn. Người vợ là Ka Diên vì sợ người chồng mình bỏ rơi đã nguyện chết, hay có
thể nói là tiên cảm mình sẽ hoá thành chim sơn ca. Và nàng Ka Diên bị người khác
hại chết biến thành chim để nhắc chồng nhớ về tình yêu giữa hai người. Người chồng
là K’Dong sau những chặng đường bôn ba, vô tình quên người vợ của mình thì đến
lúc cuối đời tỉnh ngộ ra. Chàng K’Dong thức tỉnh và nguyện khi chết sẽ hóa thành
một loài cây giúp ích cho đời như là một sự chuộc lỗi.
- Con của Trời - chàng trai (Người con chim chích) trong hình dạng nhỏ nhoi
như chim chích nhưng đã tìm đường lên trời. Chàng trai hoá thân phận khác và học
hỏi nhiều phép thuật nơi thượng giới để đem lại cuộc sống ấm no, bình yên cho dân
làng.
- Thần Cây chuối - bà lão già (Cây chuối thần) đã giúp cho chàng trai nghèo
khó vượt qua những thử thách đồng thời trừng phạt con người tham lam, không giữ
lời hứa.
- Thần Núi - chủ vườn tốt bụng trong truyện “Chàng trai mồ côi” đã giúp cho
hai anh em mồ côi thoát khỏi sự ghen ghét, độc ác của người thím, giúp họ thoát khỏi
cảnh đói nghèo và lập làng mới cho dân làng.
Bên cạnh sự xuất hiện để trực tiếp giúp đỡ con người thì thần linh cũng ban
phát cho con người những vật linh để họ biết dùng để đối phó khi gặp hiểm nguy
như: gươm thần, phép thuật, cách làm cho ra những luồng khói,làm những con vật
khổng lồ... hay cho xuất hiện những con vật thần như chim bồ câu, cóc, cây cối, trăn,
chồn, nhím, rùa... được đề cập trong rất nhiều chuyện kể của cả người Châu Ro và

28.6 Page 276

▲back to top
Châu Mạ.
Sự xuất hiện của ác quỷ, ác thú cũng khá nhiều trong chuyện kể Châu Ro,
Châu Mạ. Ác quỷ cũng xuất hiện bất ngờ, cũng đội lốt nhiều thứ và tinh ranh, ma
quái luôn tìm cách hại con người. Hình thức đội lốt, hóa thân của ma quỷ xuất hiện
trong một số truyện sau:
P Chuyện kể Châu Ro:
Thần chết – “mẹ nhau” trong “Mẹ nhau thần chết” lừa phỉnh con người để cho
trẻ em không ăn thịt chim bìm bịp để chúng có thể hại ăn thịt; Ác quỷ là con cọp cô
gái trong Tráng sĩ diệt cọp tinh để hại anh em chàng Điểu Mang; Ác quỷ - con người
giàu có chủ vườn trong “Chàng K’Tiêng và con quỷ” bắt người và vật nuôi của con
người ăn thịt; Ác quỷ là chằn tinh - mụ già trong “Mụ chằn tinh và cây gậy thần” ăn
thịt cô gái trẻ; Ác quỷ là thần sấm sét trong “Nàng tiên mèo” với âm mưu đánh phá
dân làng, cướp vợ con người; Ác thú - chim đại bàng trong “Hai anh em” hại dân
làng; Ác thú - con cọp trong “Cô gái lấy cọp” đã cướp vợ con người; Ác thú - đười
ươi trong “Con đười ươi” chuyên đi lùng bắt trẻ em để ăn thịt; Ác thú – “cọp ba
móng” trong “Chàng SangBri” phá hoại bản làng.
P Chuyện kể Châu Mạ:
Ác quỷ - ông già Nu Nìn và ác thú - con trâu nước trong “K’Đòng giao chiến
cùng trâu nước” giết hại ba người em K’Đòng và phá hoại buôn làng người Châu
Mạ; Ác quỷ - người cậu trong “Quỷ giã gạo làm men” là hình thức ma lai ăn thịt
người; Ác thú - con trăn trong chuyện “Ka Nga xúc trăn, Ka Dê xúc cá” và “Trăn
thần” ăn thịt con gái loài người; Ác thú - con nai/ đội lốt người trong “Quỷ Nai và
chàng trai chồn” để bắt con gái ăn thịt; ác thú - con cọp trong “Quỷ ăn trái bứa”
vốn là một cô gái do ăn trái bứa của quỷ hoá thành cọp dữ. Cọp dữ ăn thịt dân làng
và cuối cùng bị người khổng lồ giết chết. Trước khi chết, cọp dữ đã nhờ vào chiếc
nồi thần hoàn trả những thứ mà nó đã giết chết, ăn thịt trước đây.
Chuyện kể Châu Ro, Châu Mạ đều cho thấy mối quan hệ khá thường xuyên
giữa con người với thần linh. Nói một cách khác, trong tín ngưỡng cổ của các tộc

28.7 Page 277

▲back to top
người, thần linh đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của họ. Thần linh giúp
đỡ con người trong những hoàn cảnh mà con người lâm vào sự khó khăn, họ kêu gọi
sự giúp đỡ hay chính thần linh cảm thương cho những số phận. Bằng nhiều cách như
mang lốt loài thú, con người, cây cối hay sự mách bảo mà thần linh đến giúp cho con
người.
6. Về hiện tượng mồ côi
Nội dung chuyện kể Châu Ro, Châu Mạ thường đề cập vấn đề mồ côi. Đây là
cảnh ngộ nhân vật thường bắt gặp trong những chuyện kể về con người. Nhân vật mồ
côi trong một hoàn cảnh của chuyện là một đến nhiều người nhưng thông thường số
lượng hai và ba người. Họ mồ côi cha hay mẹ hoặc cả cha lẫn mẹ từ rất sớm. Họ là
hai anh em trai hoặc hai chị em gái hay anh trai và em gái. Nhân vật sống đơn côi
một mình hay sống với người thân bên ngoại như ông bà ngoại, anh em, cô cậu của
mình. Có trường hợp thần đội lốt cũng ở trong cảnh ngộ mồ côi (Chàng con sâu)
Trong bất kỳ trường hợp nào, chúng ta luôn thấy nhân vật gánh chịu những sự
bất hạnh về tình cảm, về đời sống vật chất và cả tinh thần. Một điểm khá đặc biệt là
trong cảnh ngộ của nhân vật mồ côi - nếu mồ côi mẹ thì ít thấy xuất hiện nhân vật
người cha. Chỉ duy nhất văn bản tư liệu đề cập người cha nhưng hai nhân vật này
sống với nhau kéo dài khi người cha cố tình đem con mình bỏ rơi vào nơi xa lạ (Đứa
con trai bị bỏ rơi ở cù lao biển). Qua truyện về các nhân vật mồ côi chúng ta thấy sự
phản ánh về chế độ mẫu hệ trong cộng đồng Châu Ro, Châu Mạ trước đây. Nhân vật
mồ côi thường được nương tựa trong gia đình bên ngoại.
Nhân vật, cảnh ngộ mồ côi xuất hiện trong nhiều truyện sau: Chàng trai - sống
một mình (Thằng mồ côi, Sự tích thác Bến Cự, Con lươn thần, Nàng gà lôi, Cây
chuối thần). Chàng trai - sống với mẹ, bà (K’Tiêng và con quỷ, Người con trai chim
chích, Chàng SangBri, Hai anh em K’Rung và K’rìng, Hai anh em K’Dong và
K’Sách). Hai anh em trai - sống với nhau (K’Rung đi buôn bán, K’Sệt chọn bạn chim
bồ câu...). Hai anh em trai - sống với bà, cậu (Con chim màu hồng, Kẻ mồ côi sống
với trái gùi, Anh chàng mồ côi...). Hai anh em trai gái - sống với nhau ( Quỷ giã gạo
làm men...). Hai chị em - sống với nhau (Cây nấm, Ông bà cọp). Bốn anh em trai và

28.8 Page 278

▲back to top
một em gái - sống với nhau (K’Đung giao chiến cùng trâu nước)...
Trong những chuyện kể về nhân vật mồ côi thường có những yếu tố “thần kỳ”
tức là sự hoá phép, giúp đỡ vượt ra khỏi những tầm với của con người. Những sự
giúp đỡ ấy chính từ hệ thống phúc thần mà người Châu Ro, Châu Mạ tôn thờ. Những
nhân vật mồ côi xuất thân từ nghèo hèn, đói rách, khổ sở, bị khinh bỉ... hầu hết đều
có kết cuộc tốt lành, may mắn. Người mồ côi tuỳ theo hoàn cảnh, diễn tiến trong
cuộc đời mà có vợ đẹp, gia đình hạnh phúc, con cái và làng mới để sinh sống hay
được vua chúa tin yêu giao cho quyền cao chức trọng... tức là họ vượt qua những
hoàn cảnh bất hạnh trước đây. Nói như thế, cũng không phải không có những nhân
vật mồ côi phải bị trừng phạt do họ có những thay đổi trong cuộc sống sau này của
mình. Trước họ trong cảnh ngộ mồ côi thì sau đó trong cảnh sung sướng họ lại quên
đi cảnh ngộ cũ, bạc tình, bạc nghĩa, tham lam để cuối cùng nhận lấy sự trừng phạt,
gánh lấy những hậu quả nặng nề: nhân vật mồ côi K’Tà (Kẻ mồ côi sống với trái gùi)
sau khi có vợ con, sung sướng thì hắt hủi và có ý tham lam đoạt của cải em trai mình
nên bị chết trong mưu mô của mình bày nên; nhân vật K’Pong (Con chim màu hồng)
vì do dự và quên đi tình yêu của mình nên sau nhiều chặng đường vất vả đã đánh mất
hạnh phúc của chính mình...
Cảnh ngộ của những nhân vật mồ côi trong chuyện kể cũng hé mở những tư
liệu cho thấy trong mối quan hệ cộng đồng của người Châu Mạ. Đó là quan hệ bên
dòng họ mẹ khi mà xã hội Châu Mạ vai trò của người phụ nữ (mẹ, bà ngoại) được
xác định trong cộng đồng.
7. Về hình tượng các con số
Trong kho tàng chuyện kể Châu Ro, Châu Mạ có nhiều con số được nhắc đến.
Con số trong truyện cổ không dùng làm phép đếm đo nhưng để định lượng tùy theo
diễn tiến của câu chuyện với những vấn đề đặt ra. Một trong những con số được đề
cập khá nhiều và thường được lặp đi lặp lại nhiều lần là con số 7 và thường bắt đầu là
con số 7... trở đi.
Con số 7 dùng để chỉ người: 7 người con gái của một gia đình (Trăn thần); chỉ
thời gian diễn ra lễ hội kéo dài bảy ngày (K’Yai và K’Yột); diễn ra các trận giao

28.9 Page 279

▲back to top
chiến giữa con người với con người (Chàng con trai chim chích); sự giao chiến giữa
con người với thần linh hay ác thú, ác quỷ (K’Đòng giao chiến cùng trâu nước); hạn
định cho những việc tổ chức các lễ cúng hay các sự kiện sẽ xảy ra (K’Đòng giao
chiến cùng trâu nước, Quỷ Nai và chàng trai chồn); 7 năm (Sự tích nạn hồng thuỷ);
chuyến hành trình 7 ngày (K’Dong và K’Sách); chỉ đồ vật, sự vật: 7 lá bầu, 7 lá cà
chua, 7 trái bầu, 7 nhà kho, 7 món đồ lễ cúng, 7 cục lửa than, 7 cái rựa, 7 cái chĩa, 7
cái rìu, 7 cái ná, 7 suối, 7 bãi cát, 7 gian nhà (Con gà trắng, Thằng mồ côi, K’Rung
và K’Rìng, Chàng K’Rung đi buôn bán, K’Đòng giao chiến cùng trâu nước, Vợ
chồng Ka Đìng... đánh trận với quỷ, Chàng con trai chim chích); chỉ số lần hiện
tượng: 7 lần xuất hiện các trận đánh, 7 lần thử thách (Chàng con trai chim chích, Cây
chuối thần, Con lươn thần)...
Đồng thời những con số bắt đầu từ con số 7 cũng được dùng nhưng có tính
phiếm chỉ nhằm để tăng thêm những định lượng mà nội dung chuyện đề cập. Có một
văn bản tư liệu trong số chuyện kể thu thập được của người Châu Mạ thể hiện con số
tăng nhưng gốc từ con số 7 (Cây nấm). Người chồng sử dụng cách tăng có gốc từ
con số 7 để thử thách khắc nghiệt đối với hai người vợ mà chính mình bỏ rơi. Để trở
lại với thân phận làm vợ thì hai người trong hạn định của từng thử thách là 7 ngày
phải thực hiện: 7 tấm mền có hoa văn đẹp, 70 tố rượu cẩn, 700 gùi củi, 700 lu nước.
Tất nhiên, với sức lực của con người những điều đó khó có thể hoàn thành nhưng
những thử thách đó cả hai người vợ của chàng trai kia đều vượt qua do thần linh
bằng nhiều cách giúp đỡ. Điều này cho thấy quan niệm của sự may mắn, tốt lành
trong suy nghĩ của người Châu Ro, Châu Mạ về hình tượng con số 7 - nó là sự cố
gắng của con người cũng như sự trợ giúp của thần linh để đạt đến tính toàn vẹn.
Những già làng giải thích con số 7 với tính chất nó là con số của sự toàn vẹn,
đây là một biểu hiện tư duy, nhận thức văn hoá của chính tộc người Châu Ro, Châu
Mạ. Đây cũng là quan niệm và sử dụng con số 7 như thể hiện sự tốt lành trong kho
tàng văn hoá chung của nhiều tộc người cổ trên thế giới khá phổ biến.
Hình tượng con số 7 xuất hiện với tần nhịp trong chuyện kể Châu Ro, Châu Mạ
là khá đặc biệt. Bên cạnh đó, một trong những con số cũng hay được đề cập là con

28.10 Page 280

▲back to top
số 2 và 3. Trong một số chuyện kể, con số 2 thường để định lượng số người và con
số 3 để chỉ người, chỉ số lần, chỉ hạn định thời gian.
Đặc biệt, trong chuyện kể Châu Ro có xuất hiện tần nhịp của con số 6 và 12 -
chúng tôi xem đây là sự cá biệt khá lý thú. Những con số 6 xuất hiện trong các
chuyện kể sau: 6 người con gái trong một gia đình (Sự tích miếu Ông Chồn), sáu đứa
bé hình người và sáu chó con (Những người con của chó) và sáu đứa con trai và sáu
heo con (Cánh đồng Cà Dầm) ra đời do sự kết hợp giữa người với loài thú nhưng
chúng phải chia rẽ nhau để sống. Chàng K’Tiêng vào trở lại trong bụng mẹ 6 mùa
trăng để có thêm sức mạnh để chống trả với quỷ (Chàng K’Tiêng và con quỷ). Có lẽ,
con số 6 ở đây chỉ là điểm dừng tạm cho một sự hoàn chỉnh cho con số 7 - đó là sự
xuất hiện của chàng trai chồn, hay của người cha sau này gặp lại các con hay mùa
trăng thứ bảy thì chàng K’Tiêng mới đánh thắng được quỷ dữ - để tất cả diễn tiến đến
sự hoàn thiện thể hiện sự toàn vẹn quy chiếu về con số 7. Con số 7 là con số có ý
nghĩa cho sự hoàn thiện.
8. Về hiện tượng ma lai
Qua khảo sát điền dã trong cộng đồng người Châu Ro, Châu Mạ chúng tôi
không thấy nhắc đến hiện tượng được định danh là ma lai mà chỉ đề cập ma quỷ -
dạng ác thần chuyên phá hoại cuộc sống con người. Thế nhưng, trong các văn bản tài
liệu chuyện kể sưu tầm được của riêng người Châu Mạ có những truyện đề cập về
hiện tượng ma lai. Quan niệm về ma lai trước đây và một số địa bàn các tộc người
thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay vẫn còn tồn tại và gây nhiều hậu quả xã hội nghiêm
trọng.
Trong chuyện kể Châu Ro, có 2 bản nói về ác quỷ lốt người như “Mụ chằn tinh
và cây gậy thần” và “Chàng K’Tiêng và con quỷ” và 2 truyện của người Châu Mạ
“K’Đòng giao chiến cùng trâu nước” nói về người ăn thịt người trong lốt ông già Nu
Nìn và cô Ka Đạ ăn tim người thành quỷ dữ mang lốt người khác trong truyện
“K’Rung và K’Rìng” có thể là dạng thức truyện ma lai chăng. Trong những chuyện
kể Châu Mạ thì hình tượng ma lai cho thấy mang tính chất lai giữa người và ma.
Trong truyện “Quỷ giã gạo làm men” thì ma lai trong lốt con người Ông cậu và giả

29 Pages 281-290

▲back to top

29.1 Page 281

▲back to top
dạng người khác lừa người và ăn thịt người vào ban đêm; trong truyện “Quỷ ăn trái
bứa” thì cô gái do ăn nhằm trái bứa của quỷ nên biến thành cọp dữ, mang lốt người
thành ma lai chuyên ăn thịt người và thú vật. Ma lai có những phép thuật mà con
người không có. Trong hai truyện trên cho thấy có cá nhân là ma lai hay có cả dòng
họ là ma lai. Cộng đồng của tộc người Châu Mạ rất sợ ma lai vì không lường được
những phép thuật của chúng.
Sự trừng phạt đối với những con người mà cộng đồng cho là ma lai thì thực tế
trên địa bàn Đồng Nai không xảy ra. Trong chuyện kể có đề cập về sự hợp sức của
dân làng lừa cho những ma lai mất cảnh giác “làm cho chúng uống rượu say để bắt,
khi chúng uống rượu say thì không thể dùng phép thuật và đem chém chết quẳng
xuống sông”. Khi trừng phạt, diệt nạn ma lai thì người Châu Mạ tổ chức ăn mừng.
9. Về sự ban thưởng và trừng phạt; cái thiện và cái ác.
Nội dung chuyện kể Châu Rọ, Châu Mạ không đề cập ngay từ đầu đến sự ban
thưởng hay trừng phạt nhưng qua nội dung truyện xảy ra bao nhiều tình tiết và cuối
cùng mới nhắc đến nó. Phần kết truyện cho những nhân vật chính trong truyện
thường gắn liền với hai sự việc ban thưởng, trừng phạt. Kết cuộc có hậu thường được
dành cho những con người tốt, tài giỏi, ngay thật, can đảm và ngược lại là sự trừng
phạt nặng nề cho những con người tham lam, độc ác, giáo trá hay các loài ma quỷ.
Sự ban thưởng hay trừng phạt bắt nguồn từ chính nỗ lực của bản thân (sự tưởng
thưởng hay đón nhận hậu quả của việc mình làm gây nên ) hoặc đến từ thần linh.
Về những chuyện kể mà nhân vật chính là người, ta có thể thấy được kết cuộc
sự ban thưởng hay trừng phạt qua một số truyện thể hiện rõ đặc điểm theo quy luật
“gieo ác gặp ác, gieo lành gặp lành”, được tóm lược sau:
- Sáu người con của chó trong “Những người con của chó” dù bị nhiều lần
người mẹ ghẻ là loài người tìm cách buộc cha giết chết nhưng bằng sự khôn ngoan
đã thoát ra được những nguy hiểm chết người. Cuối cùng, họ xây dựng một làng
mới, sống trong cảnh ấm no và mời cha đến sống chung. Còn người mẹ ghẻ độc ác bị
thần rừng sai rắn cắn chết.
- Truyện về những người con của heo với người chồng là loài người trong

29.2 Page 282

▲back to top
“Cánh đồng Cà Dăm” cũng thoát khỏi cảnh bị hà hiếp, giết hại và siêng năng làm
việc dựng nên một làng mới. Những đứa con vẫn sống tình nghĩa với người cha còn
người anh trai cùng cha khác mẹ vừa tham lam, ghen ghét nên chịu cảnh đời đói khổ.
- Nhân vật nàng tiên mèo trong “Nàng tiên mèo” dẫu bị ác thần sấm sét bắt
giam vẫn trốn thoát được để trở về với người chồng thương yêu của mình. Còn ác
thần dùng quyền phép để cướp đoạt lại đều không thành công.
- Người em trai trong “Hai anh em” hay chàng K’Tồ trong truyện “Kẻ mồ côi
sống với trái gùi” thật thà ngay thẳng được thần linh giúp đỡ kết cuộc có vợ đẹp là
thần tiên và cả gia tài của người anh. Còn người anh vì bạc nghĩa, tham lam, độc ác
muốn giết em trai mình nên đã lãnh lấy hậu quả chết cháy trong hang rừng.
- Chàng K’Đòng dũng cảm và ngay thẳng trong “K’Đòng giao chiến cùng trâu
nước” đánh bại các loài quỷ dữ, cứu dân làng và được thần linh ban gả cho con gái
để làm vợ, ban cho một cuộc sống thần tiên.
- Trong truyện “Ka Nga xúc trăn Ka Dê xúc cá” cho thấy nàng Ka Nga hiền
lành chăm chỉ nên được trăn thần làm chồng trong khi nàng Ka Dê tham lam, ganh
ghét nên bị trăn độc ăn thịt và cuối cùng chết đi phải hoá kiếp thành loài chim khác.
- Nàng Ka Độ trong “K’Rung và K’Yài” vốn là một cô gái đẹp nhưng vì giết
người ăn tim nên thành quỷ dữ và cướp chồng người khác nên bị trừng phạt thành
con khỉ.
- Truyện “K’Yai và K’Yọt” thì các nhân vật chính hoá thành các loài thú trong
đó chàng K’Yọt cướp vợ người nên bị trừng phạt thành chim quạ. Con chim quạ
được người Châu Mạ cho là con chim xấu xa.
- Chàng mồ côi trong “Cây chuối thần” hay “Con lươn thần” thật thà có lòng
nhân ái, trọng lời hứa nên được thần linh ban cho cuộc sống giàu có, trong khi đó các
nhân vật khác vì tham lam, bất tín, ngu đần nên bị trừng phạt nặng nề như bị chết đi,
không thực hiện được ý muốn của mình.
Đối với những truyện mà các con vật trong vai trò chính của câu chuyện hay
đối tượng là ma quỷ thì kẻ gian ác trước sau gì cũng bị trừng trị và gánh lấy những

29.3 Page 283

▲back to top
hậu quả thê thảm. Trong khi đó, các con vật thể hiện hình tượng chân thật, tài giỏi
thì được ban thưởng hay được những kết quả tốt đẹp.
10. về sự tích các loại và cách lý giải những đặc điểm về sinh, thực vật
Thông qua chuyện kể, người Châu Ro, Châu Mạ lý giải về sự hình thành của
các loài theo quan niệm của cộng đồng mình. Sự tích của các loài thật phong phú
theo những cách lý giải khác nhau nhưng tựu chung qua nguồn gốc các loài chính
cộng đồng Châu Ro, Châu Mạ thể hiện sự nhận xét, quan sát tinh tế của họ về đặc
điểm sinh, thực vật. Chuyện kể về sự tích các loài còn có ý nghĩa là những bài học
đạo đức để lưu truyền trong cộng đồng.
w Cách lý giải trong chuyện kể Châu Ro:
- Chim cút: sống ở bờ ở bụi do xấu hổ với muôn loài. Chim cút đã làm biếng
khi muôn loài theo lệnh của Yang trồng cây, xây núi (Vì sao chim cút sống ở bờ bụi).
- Chim chèo bẻo: vua của các loài chim vì nhanh nhẹn và thông minh. Dù thân
xác nhỏ nhưng biết vượt qua những chướng ngại vật trong cuộc thi tài. Nó trở thành
biểu tượng của niềm kiêu hãnh và sức mạnh. Chàng trai có sức mạnh thường cài lên
đầu lông đuôi chim này - có tính chất trang điểm và thể hiện bản thân (Chèo bẻo, vua
các loài chim).
- Con gà trắng: Thú vật linh dùng trong thề hứa giữa con người để giải quyết
những nghi ngờ (Con gà trắng ).
- Con voi : do con người hoá thành. Yang Bri phạt hai cha con của một gia
đình. Họ ăn “con càng tôm nấu chung với thịt kỳ đà”. Họ lấy chày giã gạo làm ngà,
nia làm tai, chà gạc làm vòi (Người hoá voi).
- Cá sấu: trên đầu có cục u do cứt của con chó mà nó chở giúp qua sông. Vì
vậy, cá sấu rất ghét loài chó (Sự tích Sông Ray).
- Con khỉ: thói xấu trong bản năng dục tính và gian giảo, ngu ngốc (Cọp có
nghĩa, Chàng Lác, Rùa và khỉ).
- Con cọp: hung dữ, ngu đần, dễ bị lừa (Cô gái lấy cọp, Cọp cướp vợ người,

29.4 Page 284

▲back to top
Thỏ và cọp)
- Con thỏ: Nhanh nhẹn, thông minh (Thỏ và cọp).
- Con rùa: Chậm chạp nhưng thông minh, mưu mô và hay lừa bạn (Rùa và
khỉ).
w Cách lý giải trong chuyện kể Châu Mạ:
- Con lươn: chàng K’Đung chết hóa thành. Chàng K’Đung có vợ xinh đẹp là
Ka Yời nhưng bị người ta cướp. Chàng biến thành lươn chui nhủi dưới bùn lầy. Biểu
thị sự yếu thế (K’Yai và K’Yọt).
- Chim chèo bẻo: nàng Ka Vời chết hóa thành. Nàng là vợ của K’Đung nhưng
bị buộc phải làm vợ K’Yọt. Vì hận không trả thù được cho chồng nên chết hoá thành
chèo bẻo. Biểu thị sự hung hãn, ưa tấn công kẻ khác (K’Yai và K’Yọt).
- Chim tu hú: nàng Ka Đrột là người yêu K’Yọt. Bị người yêu bạc tình, bỏ đi
lấy vợ nên buồn mà chết hóa thành chim tu hú - chim gọi chồng. Biểu thị sự thiệt
thòi và đau khổ (K’Yai và K’Yọt).
- Chim quạ: chàng K’Yọt chết hoá thành. Một người có người yêu nhưng phải
theo lời mẹ và anh, đi cướp vợ người khác là nàng Ka Yời có chồng là K’Đung. Biểu
thị sự tham lam và tính xấu xa, bị chê ghét (K’Yai và K’Yọt).
Một chuyện kể khác cho rằng chim quạ chính là nàng La Đạ độc ác giết vợ của
chàng K’Đòng và âm mưu chiếm đoạt chàng K’Đòng làm chồng. Thần linh phạt cho
nàng La Đạ chết hoá thành quạ vì cái tội đi phá hạnh phúc của gia đình người khác
nên bị người ta khinh bỉ (K’Đòng và Nar Woài).
- Con voi: Con voi do sáu người thanh niên hoá thành vì ăn thịt quỷ ngâm
muối trong ống tre lồ ô với thịt ếch. Người Mạ quan niệm rằng loài voi từ con người
mà ra. Khi dân làng săn được voi thì người Mạ không bao giờ ăn thịt ngực của con
voi vì đó là phần thịt người hóa voi. Còn những phần thịt khác do các con thú khác
tạo nên thì ăn được (Con người hóa voi).
- Chim đại bàng: nàng Ka Dê chết hóa thành. Nàng muốn giống người chị để

29.5 Page 285

▲back to top
được chồng là thần tiên nên bất chấp tất cả để làm theo mục đích riêng nhưng không
thành. Cuối cùng gánh chịu sự đau khổ do chính bản thân mình gây ra. Biểu thị tham
vọng ngông cuồng (Ka Nga xúc trăn và Ka Dê xúc cá).
- Chim bồ câu: có vòng hạt đeo cổ do người mẹ của nàng Ka Dê tặng vì ơn cứu
sống con gái. Biểu thị cho sự đẹp đẽ nhân từ (Ka Nga xúc trăn và Ka Dê xúc cá).
- Con chim màu hồng: nàng Ka Piêng xinh đẹp chết hoá thành. Vì tình yêu với
chàng K’Pong mà nàng gặp nhiều trắc trở. Không sống được với người mình yêu,
nàng hoá thành chim rồi thành người và sống với người em trai chồng trong hoàn
cảnh đáng thương. Rồi sự hội ngộ của gia đình, của hai anh em nhà chồng làm cho sự
đau khổ thêm lên đối với những người thân. Nàng buồn tủi và tìm đến cái chết lần
thứ hai, vĩnh viễn thành chim (Con chim màu hồng).
- Chim sơn ca: Nàng Ka Diên chết hóa thành. Nàng Ka Diên và chàng K’Dong
vốn là vợ chồng. Sau nhiều chặng hành trình vất vả, K’Dong mới lấy được Ka Diễn.
Nhưng nàng Ùr Do độc ác lừa hại Ka Diên và cướp chàng K’Dong. Ka Diên chết hoá
thành chim sơn ca như đã từng tiên cảm với chồng mình. Khi chàng K’Dong trở về
nhà, chim sơn ca hót nhắc nhở chàng về tình yêu giữa họ (K’Dong và K’Sách).
- Con khỉ: cô gái đẹp tên là Ka Độ. Nàng Ka Độ yêu chàng K’Rung nhưng
không được chàng K’Rung lấy làm vợ nên nàng trở nên độc ác. Nàng Ka Độ giết vợ
chàng K’Rung lấy quả tim ăn và biến thành một con quỷ dữ, biết nhiều phép thuật
đội lốt người. Hình hài con quỷ đội lốt chính là người vợ K’Rung nên chàng K’Rung
sống với quỷ mà không hề biết. Chính sự chung chạ giữa con người với loài quỷ dữ
đã tạo nên ban cảnh đau thương trong gia đình chàng trai K’Rung. Cuối cùng thì
thần linh giúp cho vợ K’Rung sống lại khi nàng lấy người em chồng là K’Rìng. Thần
linh bày phép cho K’Rìng đánh bại quỷ dữ và lấy trái tim lại cho người mình yêu.
Nàng Ka Độ xinh đẹp xưa kia trở thành ác quỷ và cuối cùng bị thần linh trừng phạt
hoá kiếp thành con khỉ. Loài khỉ phải sống trong rừng sâu và mãi mãi không hoá lại
kiếp người (K’Rung, K’Rìng).
- Con rắn lục: là con của người đàn bà tên là Ka Mài với con rắn. Nó có màu
xanh là do không vâng lời nên bị người mẹ đánh. Từ đó, rắn lục căm thù người, ẩn

29.6 Page 286

▲back to top
núp trong những chùm cây lá màu xanh canh con người sơ ý là cắn để trả thù (Ka
Mài ngủ với rắn).
- Con dọc: hai bên đít dọc có vết thẹo là do bị bầy khỉ chém. Bầy khỉ phỉnh hai
con gái của loài người để chiếm đoạt nhưng không được. Nhưng bầy khỉ cứ nghĩ rằng
đã thực hiện giao hợp với con gái loài người nên khoe khoang. Con dọc chọc quê nên
khỉ tức lấy dao chém gây nên thẹo (Người cùi).
- Con chuột, con nai, con chim: chuột trước đây làm ổ sống trên bờ cỏ nhưng
bị nai đạp. Chuột kiện và được thần Sấm sét cho biết cách đào hang mà sống; Nai vì
đạp nhà chuột lên bị thần Sấm sét lấy đít nồi đang nóng làm thẹo trên cổ; còn chim
thì phải sống khắp nơi trên cánh đồng chứ không tập trung nơi bờ ao vì hót làm cho
nai sợ (Chuột và nai).
- Lan đuôi chồn: nàng tiên nữ Ka Mài phá luật trời yêu chàng K’Du - con
người trần. Họ bị trời bắt xa cách, biệt ly. Chàng K’Du ngày đêm nhớ thương vợ nên
sanh bệnh mà chết. Nàng Ka Mài bị giam trên trời xin được chết để gần bên chồng.
Nàng chết hóa thành lan đuôi chồn để ở bên gốc cây là chàng K’Du (Thác Bến Cự).
- Cây dứa: Chàng K’Dong mồ côi sống với bà ngoại, tính tình làm biếng.
Chàng đi tìm và cưới được nàng Ka Diên xinh đẹp làm vợ Thế nhưng chàng bị nàng
Ùr Dộ lừa mà không biết, sau này sang với người vợ mới mà quên đi người vợ đầu
tiên. Khi trở về nhà, được chim sơn ca hót nhắc về tình yêu của chàng với nàng Ka
Diên trước đây, chàng K’Dong hối hận việc làm của mình. Như để chuộc lỗi về
những việc làm trước đây, chàng K’Dong nguyện chết thành cây dứa để có ích cho
con người. Chàng được toại nguyện. Cây dứa người dân Châu Mạ dùng để đan chiếu
nằm và sóp đựng cơm (K’Dong và K’Sách).
- Cây nấm: do người chồng của hai cô gái Ka Vách và Ka Nar bị trừng phạt
hoá thành. Người chồng là một con người lúc đầu thương yêu vợ nhưng cuối cùng bị
lừa và sống chung với người đàn bà khác. Chàng bỏ rơi hai người vợ và con cái,
khiến họ nhiều phen khổ sở do những điều kiện nặng nề mà họ không làm được khi
muốn cho con cái có cha. Thần linh trừng phạt con người bạc tình, bạc nghĩa và độc
ác (Cây nấm).

29.7 Page 287

▲back to top
- Trái cà: cô gái xinh đẹp chết hóa thành. Cuộc đời cô gái lúc đầu gặp hiểm
nguy khi bị quỷ dữ lừa làm vợ mà thực chất để ăn thịt. Cô được chàng trai trong lốt
chồn và thần linh cứu giúp. Sau này, cô và chàng cuồn thành vợ chồng sống hạnh
phúc nhưng trai làng ganh ghét, giết hại chàng chồn. Cô buồn tủi và tự thiêu khi chết
hóa thành trái cà (Quỷ Nai và chàng trai chồn).
***
Trong chuyện kể nói chung của tộc người, các nhà nghiên cứu đã có những
cách thức phân loại chuyện kể trên theo nhiều yếu tố được xác định như: nội dung,
cách thể hiện, thời gian... và hình thành trong tập hợp của những đặc điểm để phân
loại nhưng điều này không hoàn toàn là “chuẩn chung”. Chúng tôi thiết nghĩ, những
dạng quy chiếu ấy là quan trọng để nghiên cứu nhưng không thể đem áp dụng tất cả
vào các chuyện kể mà không tính đến yếu tố tộc người. Và cũng vì nhiều lẽ khác,
chúng tôi chỉ bước đầu đề cập có tính chất tổng thuật lại những nội dung mà chuyện
kể Châu Ro, Châu Mạ được sưu tầm. Việc đi đến những kết luận cần phải có thời
gian nghiên cứu chuyên sâu.
Mỗi chuyện kể của tộc người khác nhau có những đặc điểm riêng. Thế nhưng,
trong quá trình hình thành, phát triển và sự giao thoa của nhiều luồng văn hoá qua
các thời kỳ của các tộc người thì những tác động về kinh tế, xã hội là điều không thể
tránh khỏi. Vì vậy nguồn văn hoá dân gian của cộng đồng Châu Ro, Châu Mạ mà
trong đó có loại hình chuyện kể cũng không tránh khỏi sự ảnh hưởng qua lại với
nhau bởi vì họ cùng chung môi trường tự nhiên, xã hội như nhau. Bên cạnh đó, còn
tác động nhiều mặt từ các cộng đồng tộc người khác như Chăm và các dân tộc vùng
Tây Nguyên và người Việt sau này. Điều này thể hiện qua các tình tiết truyện, theo
môtíf chung ở một số chuyện kể.
Trong phạm vi bài viết, chúng tôi đề cập tới chuyện kể Châu Ro, Châu Mạ với
nội dung thể hiện trong các văn bản tư liệu thu thập được. Tên câu chuyện được nêu
lên với những chi tiết, tình tiết chuyện có tính đặc trưng, lý thú để minh họa.
Chuyện kể Châu Ro, Châu Mạ phong phú về nội dung và đa dạng phong cách
thể hiện. Vì không có chữ viết nên chuyện kể của người Châu Ro, Châu Mạ được lưu

29.8 Page 288

▲back to top
truyền qua bao thế hệ với nguyên do nêu trên chắc chắn có nhiều thay đổi trong nội
dung tình tiết hay có những văn bản gọi là “dị bản”. Trên hướng phát triển chung của
xã hội, những sự biến đổi hay thay đổi như thế là không tránh khỏi, làm mất yếu tố
định hình gốc nhưng ở một bình diện khác nó làm cho vốn văn hóa dân gian này đa
dạng hơn và thể hiện cách nhìn phù hợp trong điều kiện xã hội cụ thể mà cộng đồng
dân cư trải qua và hướng đến.
Ths. Phan Đình Dũng
Tìm hiểu loại hình hát kể Jăm pơt
của người Châu Mạ ở Đồng Nai
Cư dân Châu Mạ ở Đồng Nai có kho tàng văn hóa rất phong phú và sống động.
Vốn quí văn hóa người Châu Mạ đã góp phần làm phong phú thêm văn hóa Đồng Nai
trong bối cảnh chung của khu vực, của quốc gia trong tính đa dạng, thống nhất.
Các công trình nghiên cứu cho thấy, qua truyền miệng, cư dân Châu Mạ còn
bảo lưu nhiều truyện cổ thần thoại, truyền thuyết gắn liền với lịch sử của dân tộc
mình, phản ánh sự nhận thức của họ về vũ trụ, thế giới thần linh, nguồn gốc, những
cuộc đấu tranh của cộng đồng qua bao thời kỳ lịch sử.
Một trong những loại hình tiêu biểu của vốn văn hóa dân gian của cư dân Châu
Mạ Đồng Nai là thể loại văn thơ truyền miệng: Tăm Pơt. Đây là loại hình hát kể đối
đáp tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể xảy ra giữa người Châu Mạ với nhau. Người
Châu Mạ có tâm hồn ca hát nhiệt thành. Họ hát Tăm Pơt khi kết bạn, giao duyên,

29.9 Page 289

▲back to top
uống rượu cần, lúc lên nương rẫy hay tại nhà đón khách trong lúc thể hiện tâm tư tình
cảm hoặc trong các buổi lễ hội cộng đồng. Tùy theo tính chất hay mục đích mà người
hát Tăm pơt thể hiện nội dung hát cho phù hợp. Ví như hát khi kết bạn, chào mời thì
lời hát Tăm pơt được thể hiện giữa những người mới quen, giữa chủ và khách. Hát
trong lúc gian duyên, tình cảm thì người hát là nam thì đáp là người nữ. Hoặc thi thố,
đối kể cùng nhau thì không phân biệt tuổi tác, giới tính miễn người hát cùng tham gia
đặc biệt trong các buổi lễ hội mà cộng đồng tham gia đông đủ. Cũng có khi chỉ một
nhân vật hát kể về dân tộc, lịch sử, những điều muốn khuyên dạy con cái qua lời Tăm
pơt, khi ấy, người hát đóng vai những nhân vật trong nội dung của lời hát. Có thể nói.
Hát kể đối đáp của người Châu Mạ (Tăm pơt) được diễn xướng bất kỳ nơi đâu khi
người Châu Mạ muốn. Họ cũng có thể hát một mình hoặc lúc có nhiều người tham
gia mà ở đó, những người hát lúc đối, lúc đáp hoặc đóng những vai trong nội dung
bài hát.
Trong Tăm pơt, người Châu Mạ thường đề cập đến lịch sử của dân tộc mình
qua trí nhớ của nhiều thế hệ truyền lại, theo cách hát kể của người diễn xướng. Họ ca
ngợi về quê hương, xứ sở cộng đồng mình sinh sống, nói về những câu chuyện xưa,
những lời khuyên răn của ông bà, kể về những câu chuyện tình đẹp đẽ mà họ lồng
trong lời hát theo cách thức, vần điệu có tính ngẫu hứng nhưng không hoàn toàn tự
do.
Tăm pơt của người Châu Mạ có nội dung được thể hiện phong phú, đa dạng.
Và đặc biệt, tùy theo cách thể hiện mà những người hát làm cho câu chuyện càng
thêm sinh động, cuốn hút người nghe. Có thể khẳng định, Tăm pơt của người Châu
Mạ vừa có tính sử thi cũng vừa có tính dân gian. Qua những người hát, họ vừa thi thố
tài nàng với nhau, nhắc về lịch sử cộng đồng với những gì họ biết, họ nhận thức và
thể hiện theo chủ đề trong một bối cảnh phù hợp nhất định. Những người biết hát
Tăm pơt có thể xem họ là những nghệ nhân của lối Hát kể đối đáp rất độc đáo.
Những nghệ nhân hát Tăm pơt là những người có trí nhớ tốt có cách biểu đạt
ngữ điệu, lời kể rất hay, thích ứng trong từng nội dung diễn đạt. Mỗi bài hát Tăm pơt
khá dài, gồm nhiều câu, mỗi câu mỗi ý được nghệ nhân ứng tác dài, ngắn tùy theo

29.10 Page 290

▲back to top
nội dung. Những người tham gia phải có khả năng tiếp thu, ứng tác nhanh và đối đáp
giỏi. Đó cũng là một nét độc đáo riêng của loại hình này.
Ngày nay, người Châu Mạ ở Đồng Nai, số người biết hát Tăm pơt chỉ đếm trên
đầu ngón tay. Lớp trẻ đa số hiểu được lời hát Tăm pơt nhưng không biết hát. Điều
này có nhiều yếu tố tác động. Hầu hết, những nghệ nhân hát Tăm pơt đều lớn tuổi.
Loại hình Tăm pơt đang đứng trước nguy cơ ngày càng bị mai một nghiêm trọng.
Những nghệ nhân hát Tăm pơt của người Châu Mạ ở Đồng Nai giờ chỉ còn: Bà
Ka Bào, Ka Vèm, Ka Dẻo, Ka Kel và ông K’ail (Tà Lài - Tân Phú), bà Ka Rôp, Ka
Rã, Ka Rõi, Ka Mỗi và ông K’Kel (Hiệp Nghĩa - Định Quán).
Tình ca trường thiên giữa chàng K’Yai và nàng Ka Kồng/ biểu tượng đẹp đẽ
của tình yêu chung thủy luôn được người Châu Mạ nhớ tới. Trong những câu chuyện
của người Châu Mạ, chuyện chàng K’Yai và nàng Ka Kồng được xem như chuyện
tình tuyệt đẹp. Đó là biểu tượng của tình yêu chung thủy. Trong công trình nghiên
cứu của J.Boubet, tác giả cho đây là cuộc đối thoại trữ tình. Trong phần giới thiệu về
bài ca tình yêu giữa K’Yai, Ka Kồng, tác giả cho rằng đây là một khúc ngâm, loại có
chiều sâu âm vang, được hát theo mọi kiểu kéo dài, khúc ngâm làm từ những câu thơ
tự do, từ những lời sáo rỗng hiển nhiên, từ những câu lặp lại được dùng không chán,
chẳng có sự khởi đầu cũng chẳng có sự kết thúc. Nội dung của cuộc đối thoại trữ tình
này được ghi chép lại với những câu thơ, hình ảnh được ví von sống động, đẹp đẽ và
chân thật (Tham khảo: Cuộc đối thoại trữ tình của người Mạ, J.Boubet, Trường
Viễn Đông bác cổ - tập LXXXV). Người Châu Mạ ở Tà Lài, Hiệp Nghĩa cũng biết
đến câu chuyện của chàng K’Yai với nàng Ka Kồng, được họ cho rằng đó là một
chuyện tình cảm động, đẹp đẽ của dân tộc mình. Thế nhưng, họ biết đến không phải
là những câu từ đối thoại của hai người đang yêu nhau mà là cả câu chuyện được hát
kể theo lối ngẫu hứng. Lúc thì ca ngợi vẻ đẹp của nàng Ka Kồng, tính tình đức hạnh
của một cô thôn nữ mà trong buôn làng ít ai sánh kịp; lúc thì họ ca ngợi vẻ đẹp, lòng
dũng cảm của chàng K’Yai. Hoặc họ hát kể về mối tình với những mong đợi, trắc trở
và kết quả của mối tình đó. Điều đặc biệt là trong những trường hợp, tình huống của
câu chuyện kể mà lời hát của người Châu Mạ dược dùng với nhiều hình ảnh để ca

30 Pages 291-300

▲back to top

30.1 Page 291

▲back to top
ngợi, để trách móc, để động viên và để khuyên nhau. Thật khó có thể tách ra từng
phân đoạn hoặc từng câu chữ để phân tích. Vì những hình ảnh, lời ca trong những
tình huống gắn chặt với nhau. Những hình ảnh tưởng như được dùng có vẻ sáo rỗng
nhưng mang sự hỗ trợ cho điều cần kể về chuyện tình, về những điều liên quan... một
cách sâu sắc. Thông thường, một vấn đề được nói đến luôn đi theo nhiều cách ví von,
hình ảnh được dùng... rất phong phú, nó không phải ở đâu xa xôi mà gắn chặt với bối
cảnh sống của họ [Tham khảo bản dịch tiếng Việt - Phần chuyện của K’Yai và Ka
Kồng do bà Ka Rọp (ở Hiệp Nghĩa) và Ka Bào (Tà Lài) hát kể]. Đó là những lời lẽ
đằm thắm, mượt mà trong cảm xúc của tình yêu mà chàng K‘Yai và nàng Ka Kồng
dành cho nhau, mang đầy sắc thái độc đáo của tâm hồn Châu Mạ. Nó phản ánh tình
yêu của con người với nhau mà qua đó, tâm hồn của người Châu Mạ toát lên: lòng
yêu thiên nhiên núi rừng, thác suối, tiếng chim ca và gió thổi, buổi bình minh và cả
lúc hoàng hôn trên xứ sở của núi rừng hùng vĩ... Mỗi hình ảnh của thiên nhiên, sự vật
luôn gợi nhớ cho người Châu Mạ nỗi nhớ nhung da diết khi xa nhau và mừng vui
cho ngày gặp lại. Tình ca giữa chàng K”Yai và nàng Ka Kồng là một thiên tình ca,
được người Châu Mạ thể hiện qua giọng hát Tăm pơt độc đáo. Tiếc thay, ngày nay
không còn ai nhớ hết mà chỉ có những phân đoạn liên quan không liền mạch. Trong
cách thể hiện tình cảm, kết bạn, người Châu Mạ cũng dùng hình thức Tăm pơt để
giãi bày, nói lên tâm tư của bản thân. Đáng tiếc, ngày nay, hình thức này không còn.
Nghệ nhân thể hiện như nhớ về một thời mà họ đã trải qua, trong kỷ niệm của tình
yêu mà họ đã sống. Vì vậy, đáng lý cách thể hiện này giữa nam và nữ thì ngày nay
những người biết hát cho nội dung này không còn. Chỉ còn một số người hát / mà
chính bản thân của họ hát tức là kể về một thời trước đây. Nó vừa mang tính chất
riêng tư của tình cảm nhưng đó cũng chính là những nội dung mà xưa kia trai gái
thường nói đến trong giao duyên.
Vùng Hiệp Nghĩa, những nghệ nhân hát Tăm pơt thường hát trong các dịp:
mừng lúa, kết bạn, đám hỏi, đám cưới, trong lễ hội đâm trâu, cúng thần...
Tăm trót hát trong dịp mừng lúa, người Châu Mạ đối đáp và kể cho nhau biết
về cách làm lúa của ông bà ngày xưa, những nghi thức của ngày từ đầu mùa xuống
ruộng cho đến khi hạt lúa được đem về nhà. Thông thường ngày trước người Châu

30.2 Page 292

▲back to top
Mạ hát mừng lúa đến 7 ngày, với những tiệc hội linh đình trong cộng đồng.
1. Hát mừng lúa
Những lời ca được hát lên trong dịp “gùi lúa về nhà” như mạch chảy liên tục
với bao hình ảnh sống động. Ở đó không chỉ là niềm vui của một con người riêng rẽ
mà hòa trong niềm vui của cộng đồng. Ngày hạt lúa được gùi mang về làng, về nhà
là một ngày hội mà người Châu Mạ đã trải qua bao ngày tháng vất vả và chờ mong.
Lời hát trong ngày lúa về là niềm vui chung của tình làng, của tinh thần đoàn kết
cộng đồng. Đó là ngày họ xem là:
- Gặp đủ mặt của bạn bè cách nhà cách suối.
- Gặp nhau rồi sẽ đưa nhau rượu mừng.
- Uống cho vui thỏa.
- Ăn thịt (trâu) làm tình.
- Uống rượu (cần) làm nghĩa.
- Tay bắt mặt mừng.
- Trọn tình hòa vui.
Người Châu Mạ đến với ngày hội mừng lúa như:
- Đàn chim tìm tổ.
- Đàn gà vào ổ...
với tinh thần:
- Như con một cha.
- Như tình nghĩa vợ chồng.
- Như sấm sét đã thành tia lử
- Như tiếng cồng chiêng vang lên.
- Như rượu cần với ống hút.
- Như men rượu hòa trong nước.

30.3 Page 293

▲back to top
- Như mũi tên với cung với ná.
- Như dòng chảy của con suối về sông....
Tất cả những hình ảnh đó đều gợi lên sự khắng khít của tình nghĩa buôn làng...
càng ngày càng thắm và bền chặt hơn.
Tùy từng hình ảnh được dùng trong từng đoạn của lời ca đối đáp mà đi với nó
là những lời tha thiết kêu gọi sự đoàn kết, tương thân, tương ái nhau:
- Đừng để rơi giọt nước mắt như những bụi ngải đang chờ.
- Đừng để rơi giọt nước mắt trên dòng sông vào lúc xế chiều khi màn đêm sắp
tới.
hoặc đừng để:
- Như nhà không có vách.
- Như gà con mất mẹ.
Để rồi khi ngày hội qua, một năm sau sẽ gặp lại thì con người vẫn giữ mãi cái
tình, cái nghĩa: “Hãy sống cho đẹp lòng đẹp dạ, đừng nhìn nhau như người xa lạ”.
2. Hát trong dịp kết bạn, giao duyên, người Châu Mạ dùng những ngôn từ mượt
mà, đằm thắm nói lên cảm xúc của mình. Qua đó, họ thi nhau kể nhiều chuyện liên
quan đến dòng họ, bản thân và xứ sở. Họ vừa hát tho nhau nghe trong tâm trạng của
mừng vui cũng vừa nhắc nhở những kỷ niệm trong tình yêu thể hiện tình cảm, tâm
hồn và ước muốn, hy vọng của bản thân mình.
3. Hát về chuyện tình yêu nam nữ
Lời hát là lời tâm tình, bộc bạch của nỗi lòng, cách suy nghĩ và lời cầu mong,
mơ ước, hi vọng của những thanh niên nam nữ. Như lẽ thường tình của tạo hóa, tình
yêu nam nữ của thanh niên Châu Mạ rất tự nhiên và cao quý. Khi gặp gỡ nhau và nảy
nở tình cảm là một quá trình của thời gian mà họ không thể không nhớ. Họ ví tình
yêu của bản thân với ý trung nhân là “từ ngàn xa xưa” trên cơ sở của “những người
xa trở thành thân quen . Đó có lẽ cũng chính là/ phần lớn đều như thế về quy luật
muôn đời của chuyện tình yêu nam nữ của mọi cộng đồng dân tộc. Họ hát nhưng

30.4 Page 294

▲back to top
chính là kể về những kỉ niệm, lời kể đằm thắm, mượt mà với bao hình ảnh ví von, so
sánh rất độc đáo.
Người con gái được ví như “vũng nước sình lầy” theo nghĩa của một cách là
hồ nước, nơi chứa nước nhưng không phải là dòng chảy. Nước trong vũng luôn cô
đọng, nguyên dạng, không thay đổi để nói lên tình cảm chung thủy, trọn vẹn của
mình. Đồng thời, cô gái cũng là “đôi môi đỏ hồng như môi con nhộng” ngụ ý về vẻ
đẹp và nỗi khát khao muốn bày tỏ nỗi niềm, tình cảm. Người con trai được ví như
“dòng nước chảy mỗi khi mưa to gió thổi” như đối lập hình ảnh ví von với cô gái.
Nhưng chắc chắn trong dạng hàm ý/ ngoài nghĩa đối lập là sự dũng mãnh của chàng
trai cũng như lối ví một hình ảnh về “lối đi như móng cong nhọn của con cọp”.
Trai gái gặp nhau được người Châu Mạ dùng hình ảnh: “Mụt măng vừa ló ra từ
mặt đất, bông lúa vừa ngậm sữa, cây vừa ra bông, như cá gặp nước, như con nai gặp
cỏ non”. Những hình ảnh này nói lên niềm vui và sức sống mãnh liệt của tình yêu, và
khi đã gặp gỡ những lời ca vừa như thầm thì vừa như yêu cầu người yêu vẫn tuôn
trào (vừa xin và đừng) với bao hình ảnh phong phú:
- Đừng mang cồng chiêng chôn trong lòng đất/ Đừng giết chết tình yêu.
- Đừng nhốt gà trống trong lồng/ Kìm hãm, mất tự do.
- Đừng để cán rìu không có người sử dụng/ Sự cô đơn.
- Đừng để màn đêm lạnh bao phủ mối tình/ Sự cô đơn.
- Để loài hoa dại trên bờ sông/ Sự cô đơn.
- Như những chiếc đò không bến đợi/ Sự cô đơn, vô định.
- Đừng như cây dầu lẻ giữa rừng già/ Sự cô đơn.
- Đừng để cá trôi theo dòng nước/ Phó mặc số phận.
- Đừng như con lươn chúi nhủi giữa sình lầy/ Trách nhiệm.
- Đừng mượn nước lớn chạy trước trốn thân/ Trách nhiệm.
- Đừng bày trên bãi cát đầy rơm, cỏ rác/ Hãy giữ gìn tình yêu.

30.5 Page 295

▲back to top
- Đừng dùng mũi dao nhọn mà cắt xé lẫn nhau/ Hãy giữ gìn tình yêu.
- Đừng mang đến cho nhau những lời cay đắng/ Tôn trọng nhau, gìn giữ cho
nhau.
- Đừng để lung lay theo chiều gió thổi/ Sự dao động.
- Đừng bề ngoài chín đỏ mà trong ruột chua chát/ Sự giả dối.
- Đừng đẻ lá cây rụng dưới ánh nắng mặt trời/ Không sức sống.
Trách nhiệm của chàng trai được thể hiện: Hãy cầm cây dầm mà chèo đò qua
sông, Không buông tay giữa dòng sông, không lay chuyển mỗi khí gió lớn sóng to.
Trách nhiệm của cô gái: Đừng gây tiếng xấu... gây thêm phiền hà, an ủi chồng...
đừng mang lửa đỏ cho chồng, giúp đỡ chồng trong mọi công việc. Để rồi, tình yêu
phải bền chặt, khắng khít với kết quả: như ngày lúa chín vàng, như hoa vừa chớm nở,
như sợi chỉ từ từ ra theo vòng quay của tơ, phải tìm cho thuyền có bến đậu, dẫu
thượng nguồn có xa cách hạ nguồn vẫn nhìn nhau như một dòng chảy.
Tình yêu là riêng tư của nam và nữ, nhưng không vì thế mà tách ra khỏi cộng
đồng. Đối với mỗi người tìm được ý trung nhân từ “những người xa đã trở thành
người quen”, thì cộng đồng bản làng dòng tộc, gia đình của người này cũng sẽ là của
người kia và ngược lại, thì cả hai phải có cách sống, cư xử cho phải lẽ: Đừng vì giàu
mà bạc đãi kẻ nghèo, đừng vì tình mà mất nghĩa, đừng vì thương mà hại đến tính
mạng... Và cả hai cũng phải cầu xin thần linh: để mối tình bùng cháy của ngọn lửa đã
chất đầy củi, cháy không bao giờ tắt.
Lời ca về tình yêu nam nữ vừa bình dị, gần gũi với cuộc sống, hàm ý về những
quan niệm sống bằng tập thành những hình - ảnh ví von đa dạng, sống động và ý vị.
Một đoạn chuyển ngữ của lời hát Tăm pơt về tình yêu nam nữ tình cảm của
chàng trai đối với cô gái: “Tôi nhớ đến nàng trong giấc ngủ. Tôi giật mình thức dậy
ngỡ nàng đang thỏ thẻ bên tai. Ồ không, tôi nào thấy nàng tận mắt đâu. Đó chỉ là
giấc mơ. Khi đôi ta mới quen nhau, đã cùng nhau trên một chiếc đò đi qua dòng
sông, trên cánh đồng xanh, dưới bóng mát của cây cổ thụ. Những kỉ niệm đó làm tôi
không thể quên nàng được. Dầu cây lúa có cao tới đâu thì mặt đất vẫn mang đến

30.6 Page 296

▲back to top
những dòng nước mát cho cây lúa thêm xanh tươi. Đừng cách xa nữa nàng ơi, vì từ
nay tôi sẽ đến với nàng và an ủi nàng để nàng không còn rơi lệ. Tôi có phải là núi đá,
ngọn đồi kia mà lặng câm, vô tri vô giác. Thân hình nàng như mụt măng vừa ló lên
từ mặt đất, thật tròn và thơ trẻ. Mọi người xin giúp tôi bảo vệ mụi măng được nguyên
hình hài. Mối tình cũng có mang theo những cay đắng nhưng hãy để những dòng
suối chảy bình thường, để hai đứa luôn gặp nhau, tay trong tay với nhau.
4. Hát hỏi
Trong dịp hát hỏi, người Châu Mạ thường hát rất nhiều. Lời hát Tăm pơt kể về
chuyện ngày xưa của tổ tiên về tình yêu, hạnh phúc, những cách thức của từng lễ nghi
cho con cháu nghe và là những lời cầu chúc cho đôi trai gái Mạ vui sống hạnh phúc
bên nhau.
Ngày đi đến lễ hỏi là ngày vui. Lời ca trong ngày vui đó thể hiện nỗi vui mừng
của những người liên quan: của gia đình hai bên trai, gái. Hình ảnh ngày vui đó thể
hiện trong lời ca:
Sửa soạn như con chim nhồng môi đỏ
Chào khách bằng tiếng nói như gà con chíp mẹ
Như chim sẻ ca hát nhảy nhót vui đùa
Đó là ngày mà một tục lệ không thể thiếu của chàng thanh niên, cô thanh nữ
khi được đính ước được trao vòng:
Sợi dây đặt trên cổ tay
Sợi chuỗi đeo lên cổ
và không một ai được phân rẽ, dù chưa thuộc về nhau hoàn toàn (còn chờ vào dịp
cưới) nhưng họ đã như “một dòng suối, một khoảnh rừng đã có ranh hẳn hòi”.
Lời ca cũng là một lời trần tình với bao hình ảnh nói về một quá trình họ để ý
đến nhau, được đối xử tử tế với nhau để có ngày hỏi. Không chỉ họ vun đắp với nhau
mà còn có lời kêu gọi “bạn làng” giúp đỡ khi “Cánh đồng hoang nay đã trở thành
đám ruộng với bông lúa vàng mơ ngày gặt hái, như ngày hội tụ của đàn chim cò

30.7 Page 297

▲back to top
trắng và đừng ai ngắt bông của giàn bầu vừa mới ra bông, đừng đắp đập để chặn
dòng nước chảy của con suối”.
5. Hát về lễ hội đâm trâu
Lễ đâm trâu, cúng Thần là lễ hội lớn trong năm mà cả cộng đồng người Châu
Mạ tham gia. Họ vui hát nhảy múa trong tiếng cồng chiêng rộn rã, với những nghi
thức cổ truyền. Đâm trâu, bò, heo làm thịt để tế thần và uống rượu cần. Trong không
khí của lễ hội, trai gái thì tìm hiểu tình cảm, người lớn thì thi nhau kể về chuyện xưa,
trẻ con thì vui mừng nhảy múa. Lời hát Tăm pơt trong lễ hội này cũng kéo dài vô tận.
Những nghệ nhân có thể hát suốt trong không khí náo nhiệt, thời gian diễn ra lễ hội.
Nói về lễ hội với những nghi thức lời ca thể hiện: Dân làng xếp thành hàng
giữa đồng ruộng, nhiều bộ cồng chiêng được đem tới cây nêu với nhiều màu sắc lấp
lánh, đủ loại hình con chim sẻ những lông công được gắn trên chiếc khăn đóng trên
đầu... Hãy đem góp lại nhiều đọt mây, hãy gùi nước cho thật nhiều để dùng cho rượu
cần, hãy đưa lao cho thật cao mà đâm trâu và dùng chà gạc chặt hai chân con trâu,
hãy lấy ra từ con trâu vật gì quí giá nhất dâng cho thần linh.
Đối với con trâu là vật hiến tế người Châu Mạ luôn tỏ lòng biết ơn: Khi con
trâu được đặt dưới cây nêu, dân làng phải thức sáng đêm với trâu, châm lửa cùng với
trâu... hãy chia sẻ vui buồn cùng trâu vì con trâu đã từng gánh vác việc nặng nhọc
cho mình, đừng để hột lúa đã có hôm nay mà quên đi trâu đã chịu nắng châu mưa...
trong thời gian làm mùa.
Đối với những người tham dự lễ hội, lời hát như giục giã với tình cảm quí mến:
Hãy đến đây cùng vui lên, như con cá đang nhảy nhót chạy theo dòng suối trên thác
cao. Các thôn nữ hãy mang lại đây cái mền đẹp nhất để trải cho khách ngồi rót rượu
ngon nhất cho khách uống, đem thịt ngon cho khách ăn... suốt một đêm dài và ca hát
quay cuồng bên ánh lửa đỏ, thay nhau vừa hát vừa đánh cồng chiêng đưa nhau với
những bầu rượu nồng.
Đối với thần linh, điều mà người Châu Mạ hướng tới chính trong buổi lễ đâm
trâu, lời ca cũng là lời khấn xin được ban ơn tốt lành: Hãy làm điều đẹp nhất cho
thần linh, để thần linh ban cho trúng mùa trên nương rẫy, xin thần linh cho trời mưa

30.8 Page 298

▲back to top
và tươi mát màu mỡ cho đất... để dân làng không phải sống trong âm phủ đầy tối
tăm, nghèo khổ, đói rét... với niềm tin chân chất.
Lễ hội đâm trâu không chỉ là quá khứ, là cái đã qua mà luôn được người Châu
Mạ duy trì. Đó là ngày hội lớn của cộng đồng. Phong tục từ bao đời nay không được
phá bỏ. Lời ca trong lễ đều hướng tới sự bảo tồn, dù trong niềm vui họ không quên
nhắc nhở cho con cháu: Khi xưa đã đóng cây nêu xuống đất là có một ngày hội, xưa
đã dựng thì nay phải nhắc lại đời đời cho con cháu nhớ và giữ gìn.... Hãy tìm cho
nhiều sợi dây chuỗi để đeo trên cổ khách trước khi đâm trâu... hãy nắm lấy cồng
chiêng để tập tành cho dân làng khi có lễ hội...
Do nhiều yếu tố tác động và lâu nay công tác sưu tầm chưa được quan tâm, nên
hình thức hát Tăm pơt nói riêng, vốn văn hóa dân gian nói chung của người Châu Mạ
ở Đồng Nai ngày càng mai một và có nguy cơ bị xóa sổ. Nếu không có biện pháp sưu
tầm, lưu giữ, các nghệ nhân hát Tăm pơt vốn đã ít ỏi lại đang già và dần thì loại hình
văn hóa này sẽ chỉ còn là ký ức xa xưa. Vấn đề này đặt ra cho các nhà làm văn hóa
cần đầu tư, quan tâm hơn nữa trong việc bảo tồn và phát huy vốn văn hóa dân tộc
nước nhà.
Ths. Phan Đình Dũng
Tìm hiểu lễ hội Sa Yang Va
Của người Châu Ro tại Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu
1.Tên gọi và nguồn gốc
Tiếng Châu Ro gọi là lễ Sa Yang Va/ nghĩa là cúng thần Lúa/ mừng lúa mới.
Nguồn gốc của lễ hội theo một số già làng cho biết được truyền từ bao đời nay. Cộng
đồng người Châu Ro cứ theo thông lệ hằng năm thì tổ chức cúng theo kiểu “xưa bày
nay theo”. Trước đây, lễ cúng Sa Yang Va được người Châu Ro cúng theo định kỳ
hàng năm. Thời gian cũng không ấn định cụ thể nhưng thường trong khoảng từ tháng
hai đến tháng ba âm lịch, vào những ngày trời đẹp, đêm có trăng sáng. Đây là lễ hội

30.9 Page 299

▲back to top
lớn nhất của cộng đồng và để lại những dấu ấn về lễ nghi nông nghiệp của người
Châu Ro. Trước đây khi tính cộng đồng còn chặt chẽ, thể chế nhà dài tồn tại, người
Châu Ro tổ chức cúng Sa Yang Va tại đây. Lễ hội cúng Sa Yang Va thường kéo dài
trong nhiều ngày đêm. Mọi người trong buôn làng đều tham dự. Những người thầy
cúng giữ vai trò hành lễ trong các nghi thức.
Lễ cúng được tổ chức với mục đích tạ ơn thần Lúa đã ban phúc cho gia đình
một mùa bội thu. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy trong nội dung lời khấn của lễ Sa
Yang Va nhắc nhiều đến đối tượng như các loại thần linh, tổ tiên và mang tính chất
cầu an cầu phúc cho cộng đồng, dòng tộc gia đình hay cá nhân.
Hiện nay, lễ cúng Sa Yang Va ít được người Châu Ro ấp Lý Lịch tổ chức do
nhiều nguyên nhân nhưng sâu xa nhất là do đời sống kinh tế khó khăn. Thường chỉ
có gia đình già làng Nguyễn Văn Nổi, Hồng Thị Lịch tổ chức. Thông thường, những
lễ cúng cúng Sa Yang Va tại đây được các cấp chính quyền, các ban ngành hỗ trợ
nhiều mặt. Lễ cúng thực hiện đầy đủ những nghi thức cổ truyền và thu hút không chỉ
cộng đồng người Châu Ro mà cả các thành phần dân tộc khác tại địa phương đến
tham dự.
2. Công tác chuẩn bị cho một lễ cúng cúng Sa Yang Va
2.1. địa điểm
Thông thường, lễ hội diễn ra tại nhà của người Châu Ro mà hai điểm chính là
ngôi nhà sàn và kho lúa của gia chủ. Một số địa điểm liên quan là rẫy lúa, rẫy mì và
các nơi khác trong rừng khi người Châu Ro chuẩn bị các thứ cần dùng đến trong buổi
lễ. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy ba địa điểm chính, quan trọng tạo nên tuyến
tính của lễ cúng Sa Yang Va này là: Rẫy lúa, nhà sàn và kho lúa.
2.2. Chùm lúa rẫy
Tại khu rẫy trồng lúa, khi thu hoạch mùa màng, người Châu Ro để lại một vạt
lúa tốt có những bông lúa trĩu hạt. Những bông lúa tốt được bó lại bằng tranh, rơm,
lá chuối và rào bốn bên bằng các loại gai bằng tre, cây cối để bảo vệ. Vạt lúa cây vẫn
sống, bông lúa nhiều hạt và chín vàng. Theo quan niệm của người Châu Ro thì hồn

30.10 Page 300

▲back to top
lúa rẫy trú ngụ tại đây và chờ cho đến khi họ tổ chức lễ Sa Yang Va thì rước về.
Nghi thức rước hồn lúa là nghi đầu tiên trong lễ cúng Sa Yang Va và rất quan trọng.
2.3. Bàn thờ nhang (Yang)
Bàn thờ Nhang được làm từ cây vàng nghệ và tre. Chiều cao của bàn thờ
khoảng 1,5m và rộng 1m. Bàn thờ Nhang gồm 3 phần và gắn vào vách nhà chính, về
hướng mặt trời mọc. Có hai tầng trên cách nhau khoảng 20cm, tầng lớp được đan
bằng nan tre. Còn những cây trụ chính và nối ngang thì làm bằng cây vàng nghệ. Tất
cả được chưa kỹ càng và kết nối theo cách đục lỗ buộc lạt với nhau. Đầu các cây
ngang và cột thẳng chính tạo cách điệu như đầu trâu, sừng dê.
Trên mỗi tầng nấc của bàn thờ có bài trí những vật dụng để cúng và vật cúng.
Phía trên cùng của hai cột chính gắn hai cây đèn sáp ong. Trên hai ngăn bàn Nhang
dùng để bày các vật cúng như bánh dày, một ít đồ lòng của con vật hiến tế, chén vỏ
cây xông hương và cây nhang chưa có huyết con vật hiến sinh. Phần dưới cùng là
phần trống của sàn nhà, giới hạn bởi cốt bàn thờ Nhang. Đây là nơi để chén rượu,
chén gạo và những con vật cúng (nửa đầu heo, nửa con gà).
2.4. Cây nêu
Khi tổ chức cúng Sa Yang Va, người Châu Ro thường làm một cây nêu đặt
trước sân nhà sàn - nhà có bàn thờ Nhang chính, diễn ra lễ cúng đồng thời khoảng sân
để tổ chức đốt lửa và sinh hoạt cộng đồng khi đêm xuống.
Cây nêu được làm từ cây vàng nghệ (Sơrbrơ) - một loại cây trong rừng, có thân
suôn, thẳng. Đặc biệt, loại cây này khi bào vỏ thì có màu vàng nghệ rất đẹp. Lá của
cây xanh, dài và thon, nhọn đầu (giống như lá xoài). Trái của cây vàng nghệ nhỏ vừa,
có dạng hình bầu tròn và dài nhọn đầu như trái cau, phía cuống có lớp bao bọc tạo
thành như một cái nắp đậy. Lá và vỏ cây thường được đem giã để suốt (đánh) cá.
Khi chặt cây vàng nghệ đem về, ngươi Châu Ro chọn phần suôn, thẳng để làm
cây nêu. Thường thì đoạn gốc dài trở lên khoảng 5 mét. Họ đặt cây vàng nghệ với
phần gốc chạm đất và phần ngọn cao lên vừa tầm người làm qua một chạng đỡ có hai
cây bắt chéo nhau. Thân cây vàng nghệ được bào nhẵn bốn phía, phía gốc to và thon

31 Pages 301-310

▲back to top

31.1 Page 301

▲back to top
dần lên phía ngọn.
Trang trí trên thân cây nêu: Khi thân cây vàng nghệ được bào nhẵn, dùng vôi
và củ nghệ tươi bôi đều từ gốc đến ngọn. Thân cây thấm nước vôi và màu vàng của
nghệ tạo cho cây có màu vàng tươi thêm và giữ được màu sắc trong thời gian dài.
Người Châu Ro dùng lá buông khô, tước đi những gân lá để buộc vào thân cây
vàng nghệ. Cách quấn theo hình chéo nhau từ dưới gốc lên đến ngọn, tạo những
khoảng trắng hình thoi đối xứng, uốn theo thân cây. Khi buộc lá buông thì chừa đoạn
gốc khoảng 1 mét.
Sau đó, họ dùng đèn dầu chai: Những cục nhựa từ cây dầu chảy ra, khô lại
được quấn trong lớp lá dứa tạo thành khối hình ống tròn (tựa như đòn bánh tét). Đèn
dầu chai được đốt lên cho khói rất nhiều, hơ vào thân cây từ gốc lên ngọn và phải trải
qua một thời gian rất dài. Đây là công đoạn làm khá tỉ mỉ để giữ cho thân cây có một
màu khói ươm vào đều khắp. Khi hun khói xong thì gỡ lớp lá buông quấn ra. Những
nơi trên thân- cây vàng nghệ có lá buông quấn sẽ tạo thành nếp sáng giữ màu so với
những mảng đen bị khói hun ám vào. Thân cây vàng nghệ có đường nét hoa văn với
các hình thoi đen và đường dây trắng liên tục nối chéo nhau. (hình thức trang trí cây
nêu xem ở bài Tìm hiểu về cộng đồng cư dân bản địa Châu Mạ, Châu Ro ở Đồng
Nai)
2.5. Rượu cần
Được người Châu Ro làm trước từ nhiều ngày. Loại gạo dùng làm rượu cần là
loại gạo rẫy của chính gia chủ. Phương thức làm cho gạo lên men, lấy lá cây xủ đen
lót ở phía dưới thúng, cho vào lớp gạo và phủ thêm một ít lá xủ đen. Có rất nhiều loại
lá dùng để ủ gạo. Khi hái lá về thì giã cho tơi vừa phải và phơi khô.
Khi gạo lên men, đem phơi nắng nhẹ rồi giã, vò cho vào ché khuấy đều. Dùng
một số lá cây rừng xanh như dâu tươi khèn lại, chèn đất cho thật kỹ để giữ độ nồng
và thơm.
Thường một lễ hội cúng Yang Va, người Châu Ro làm nhiều chén rượu cần để
đãi khách.

31.2 Page 302

▲back to top
2.6. Bánh dày
Một trong những công việc người Châu Ro chuẩn bị cho lễ cúng nhang Lúa là
làm món bánh dày. Bánh dày (Pin pu) được thực hiện vào trước lễ cúng một ngày.
Trước tiên, người ta ngâm gạo nếp trong nước khoảng nửa ngày, sau đó vớt ra cho
vào chõ hấp chín. Trong khi thờ xôi chín, người ta tiếp tục công việc rang mè đen.
Liều lượng cứ một lon mè cho 4 lít nếp.
Muốn cho mè chín đều, người ta để chảo thật nóng trên bếp lửa, sau đó múc
mỗi lần độ hai chén mè cho vào chảo để rang. Mè được khuấy nhanh, đảo qua đảo lại
cho thật đều để mè chín nhưng không bị cháy. Trong quá trình rang mè, người ta rắc
vào chảo một ít muối.
Khi mè chín, cho vào cối giã nhuyễn. Mè giã lúc còn nóng thì sẽ giòn và mau
nhuyễn. Trong khi giã rắc thêm một ít muối trộn lẫn với mè. Công việc rang và giã
mè đều do những người phụ nữ Châu Ro đảm nhiệm. Thường một cối giã có ba
người thực hiện.
Người Châu Ro quết một lớp mè trong cối sau đó cho xôi chín vào thực hiện
việc quết bánh. Mỗi cối quết bánh do hai hoặc ba người giã, một người canh giữ để
trở bánh cho đến khi nếp dẻo mịn. Trong khi giã, rắc thêm bột mè đen để nếp không
dính vào cối. Những người cầm chày giã mạnh. Khi bánh mềm dẻo thường bám vào
chày giã. Người canh bánh phải lấy ra và đập mạnh vào cối. Mỗi cối quết trong
khoảng thời gian 20 phút. Bánh dày quết xong rất dẻo và mịn, có màu xám tro của
mè đen. Bánh được vỗ tròn mỏng, đường kính mỗi ổ bánh khoảng 20 - 25 cm, dày 2 -
3 cm. Người ta dỡ bánh bỏ lên lá chuối có rắc sẵn bột mè, chồng các ổ bánh lên với
nhau. Khi thực hiện nghi thức cúng Nhang thì đem bánh dày (thường nguyên một ổ,
đặt lên bàn Nhang). Sau khi cúng xong, bánh dày được làm sẵn được cắt ra từng
miếng nhỏ vừa để đãi khách. Bánh dày có thể ăn không hoặc ăn với các thứ thịt
nướng. Bánh dày có thể giữ được lâu trong khoảng 10 ngày. Khi mặt bánh khô,
người ta dùng dầu chiên để ăn.
2.7. Ống tre lồ ô

31.3 Page 303

▲back to top
Tre lồ ô mọc trong nhiều khu rừng ở xã Phú Lý. Thân tre cao thẳng, từng đoạn
ống dài. Người Châu Ro chọn những cây tre ống dài chặt đem về trước diễn ra lễ
cúng nhiều ngày. Họ cưa thân tre thành những đoạn tương đối bằng nhau, thường dài
từ khoảng 4 - 5 gang tay người lớn (tương đương 8 tấc đến 1 mét). Những đoạn ống
tre có phần mắt làm gốc và một đầu thông. Tre lồ ồ dùng để nấu cơm lam, luộc củ
nần, củ chụp, củ mài.
2.8. Cơm lam
Người Châu Ro lấy nếp cho vào ống tre lồ ồ cưa sẵn. Ống tre dài thường là
một lóng . Khi cho gạo (có thể thêm một ít hạt mè) và nước vào thì lấy lá chuối hoặc
các lá cây rừng nhét lại. Dựng ống tre vào bếp lửa có cây ngang nấu cho đến khi
chín. Sau đó, chẻ ống tre ra hoặc cắt khúc thành từng đoạn nhỏ. Thường vỏ ống tre
được tuốt bớt đi để thân mềm phía trong. Khi ăn, có thể dùng tay bóc nhẹ lớp vỏ ống
mỏng, lấy cơm lam từng khúc nhỏ. Ăn cơm lam thường chấm với muối mè.
2.9. Đọt mây
Mây là loại dây leo, thân nhiều lớp vỏ có gai nhọn. Rừng miền Đông Nam Bộ
có rất nhiều mây nhưng mây dài và có ngọn non thường mọc trong các khu rừng sâu
ít bị khai phá. Những dây mây dài to, xanh mướt thường có phần ngọn trắng mềm
với vị ngọt. Người Châu Ro thường chặt những đọt mây để nướng hay nấu canh.
Trong ngày lễ cúng Sa Yang Va, đọt mây được chặt về dùng để nướng đãi khách.
Thời gian đi chặt đọt mây với số lượng nhiều phải mất từ hai đến ba ngày. Người ta
chặt nguyên ngọn mây và tuốt bỏ gai đem về. Đến ngày cúng lễ mới đem ra lột lớp
vỏ cứng ngoài nhưng vẫn giữ những lớp vỏ mỏng bên trong để nướng. Đọt mây
nướng trên than hồng sẽ thấy sém phần vỏ mỏng làm cho đọt non bên trong chín
mềm. Khi đủ độ chín, người ta lột lớp vỏ mềm và lấy đọt mây non cắt khúc dọn mời
khách. Đọt mây chín có mùi thơm béo và độ ngọt thanh.
2.10. Củ chụp
Cây cho củ có bột, là một loại thân dây leo, phía dưới có dạng củ nằm sâu
trong lòng đất (từ 0,5 m trở đi) chứa rất nhiều bột mà đồng bào thiểu số đã biết dùng
thay cho gạo. Thường mỗi dây cho củ lớn từ 0,5 kg - 5kg. Người dân tộc thiểu số hay

31.4 Page 304

▲back to top
dùng cây tre dài, chẻ đầu tua nhọn hình vòng dạng cái chụp để đào củ nấu ăn khi
nương rẫy thất bát nên gọi là củ chụp. Ở vùng rừng Phú Lý, hiện nay củ chụp được
đào trong những khu rừng rất xa nơi đồng bào Châu Ro sinh sống. Củ chụp được đào
về và gọt vỏ để bỏ trong ống tre lồ ô nướng đãi khách trong ngày lễ hội cúng Sa
Yang Va.
2.11. Củ nần
Củ nần từ một loại dây leo như loại dây khoai mỡ, lá hình thoi, thường 1 cuống
có ba lá chõi ra, rễ hình thành dạng củ. Dây nần càng lâu năm thì củ càng to nhưng
qua thời gian dài thì củ tự tiêu để đâm ra những chùm rễ mới. Từ những rễ mới lại
hình thành nên các củ khác. Dạng củ nần phát triển lúp búp trên mặt đất quanh dây,
nửa âm dưới mặt đất, nửa trồi lên phần cuống củ. Củ nần có màu trắng - vàng chứa
nhiều tinh bột. Người Châu Ro trước đây dùng củ nần để ăn trong những lúc thiếu
lương thực. Củ nần được xắt mỏng bỏ vào ché, cứ một lớp lát củ nần thì xen kẽ lá
búa để ngâm. Sau bảy ngày đêm ngâm đem ra suối nhồi nước cho hết màu nước đục
để mất các độc tố trong lượng bột thì có thể đem nấu để ăn. Trong lễ cúng Sa Yang
Va, củ nần được đào về gọt vỏ và ngâm trước với muối. Sau đó, chẻ lát bỏ vào ống
tre với nước để nấu làm thức ăn đãi khách.
2.12. Củ mì
Loại củ cho nhiều tinh bột. Cây thẳng thân có nhiều mắt. Thường được người
Châu Ro trồng quanh nhà hay trên rẫy. Loại củ mì có nhiều loại khác nhau. Thường
chuẩn bị cho lễ hội, người Châu Ro đào củ mì có thân màu trắng, vỏ củ màu trắng (có
nơi gọi là mì bún) đem về lột vỏ và ngâm nước. Sau đó xắt lát cho vào ống tre lồ ô để
nấu chín, đãi khách sau khi cúng.
2.13. Lá bép
Còn gọi là rau diếp. Đây là loại rau mọc trong rừng sâu, thường cách xa nơi
người Châu Ro sinh sống. Lá bép có màu xanh và tím... Thường người Châu Ro hái
về trước một ngày. Tại Lý Lịch, người phụ nữ Châu Ro đi hái lá bép mất một ngày
trời vì rừng xa và phải hái với số lượng nhiều để nấu canh hay nướng. Cách nướng lá
bép khá độc đáo. Người ta nhúng lá bép vào nước sau đó rảy nhẹ cho nước bớt lại.

31.5 Page 305

▲back to top
Họ xếp chồng lá bép vào một ít lớp lá chuối và bó lại vuông vức, buộc dây. Sau đó
mỗi vuông bó lá bép được kẹp vào nẹp tre nướng trên than lửa hồng. Mất một
khoảng thời gian không lâu thì lá bép được nướng chín. Họ mở ra và đãi khách. Lá
bép nướng ăn bốc bằng tay. Lá chín mềm, có vị thanh mát. Còn lá bép dùng nấu canh
thì người ta cho vào nồi đun sôi sau đó nêm gia vị (muối) vừa mức để có vị mặn và
ngọt vừa nếm. Đây là loại canh mà người Châu Ro trong bữa cơm trước đây thường
dùng.
2.14. Đan chiếu dứa
Chiếu dứa được người Châu Ro đan để sử dụng cho nhu cầu nghỉ ngơi hằng
ngày. Trong lễ hội cúng Yang Lúa, người Châu Ro đan chiếu dứa để những người
tham gia ngồi làm các lễ vật cúng, thức ăn hay đánh cồng chiêng, hát, thổi khèn,
kèn...
Cây dứa rừng có lá dài và mềm, dẻo. Người Châu Ro hái lá dứa, tuốt phần gai
trên lá và phơi 4 ngày. Qua bốn ngày đêm phơi nắng, sương, lá dứa mềm lại và người
ta bắt đầu đan chúng thành những tấm chiếu. Cách đan theo thể đan long mốt, tức xỏ
đan theo kiểu lồng ghép theo thứ tự trên dưới các cây với nhau. Các sợi lá dứa có bề
rộng khoảng 1 phân. Chúng được đan chèn nối tiếp nhau theo nhiều lần tạo thành tấm
rộng. Hướng đan từ trong ra ngoài và kết thúc thường ở các góc hình chữ nhật của
chiếu. Người đan bẻ góc lận vào dấu đầu mối của sợi dây. Tấm chiếu dứa thường có
kích cỡ rộng 6 tấc, dài 1 mét. Hiện nay, tại ấp Lý Lịch, bà Hồng Thị Trang (67 tuổi)
đan được loại chiếu này. Chiếu dứa được người phụ nữ Châu Ro tham gia lễ hội
dùng làm chỗ nghỉ ngơi hay làm các công việc chuẩn bị thức ăn.
2.15. Heo
Loại heo người Châu Ro dùng để cúng trong lễ Sa Yang Va là loại heo cỏ.
Trước đây, mỗi gia đình người Châu Ro thường hay nuôi loại heo này và khi nhà tổ
chức lễ cúng thì họ đem heo làm lễ vật Nếu nhà không nuôi thì có thể đi mua từ nơi
khác. Con heo không có quy định cụ thể nhưng khi dùng để cúng phải có những đặc
điểm như. Toàn thân phải đen (không có vết loang lổ các màu khác) thường là từ 10
kg trở lên, heo không bị khuyết tật hay bệnh.

31.6 Page 306

▲back to top
2.16. Gà
Loại gà trống của nhà nuôi hoặc mua. Không quy định cụ thể nhưng gà dùng
cúng thường mạnh khỏe, có dáng vóc đẹp và nhanh nhẹn, thịt nhiều. Gà dùng làm
thịt lấy huyết bôi để thực hiện một số nghi thức tiết tế và làm lễ vật bày cúng tại bàn
thờ Nhang.
2.17. Thịt thú rừng
Trước đây, mỗi khi tổ chức lễ cúng Sa Yang Va thì nhà người chủ thường cho
người thân đi săn thú rừng nhiều ngày. Nhiều loại thú rừng săn được sẽ lấy thịt dùng
chế biến các món để đãi khách. Các loại thú người Châu Ro thường săn được là heo,
cheo, thỏ, chồn, mễn, khỉ hay các loại chim.... Thường mỗi khi săn được con thú
nào, khi làm thịt, người Châu Ro thường giữ lại bộ xương hàm để treo trong nhà. Tại
nhà già làng Năm Nổi, trên mái nhà trước bàn thờ Nhang có treo một dãy dài những
hàm của con thú rừng mà người thân trong nhà săn được. Ngày nay, Nhà nước quy
định đóng cửa rừng và bảo vệ động vật hoang dã nên người Châu Ro không còn săn
thú rừng lấy thịt để đãi khách trong lễ hội.
3. Những nhạc khí cụ dùng trong lễ cúng Sa Yang Va
3.1. Chinh
Chinh là bộ nhạc cụ có bề mặt tròn, trơn phẳng. Bộ gồm 6 chiếc. Mỗi bộ chinh
ở từng cộng đồng Châu Ro khác nhau về dàn và định âm, chức năng riêng biệt.
Chất liệu làm nên bộ chinh bởi kim loại đồng. Khi có vật tác động vào tạo nên
tiếng vang lớn, ngân dài. Khi sử dụng, người Châu Ro dùng nắm bàn tay tác động lên
bề mặt trơn phẳng theo từng giai điệu tiết tấu âm thanh, nhằm tạo ra âm chuẩn. Đồng
thời tay còn lại cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phối hợp diễn tấu. Bàn tay
đặt dưới mặt lòng chinh lúc úp vào hay xòe dỡ với những cách ấn vào dỡ nhẹ hay thả
ra (bấm hay buông) để xử lý sắc thái âm thanh lớn, nhỏ, trầm bổng theo giai điệu mà
nội dung cần thể hiện.
Tính năng của chinh rất quan trọng. Đây là loại nhạc cụ không thể thiếu trong
lễ hội cổ truyền của người Châu Ro. Về mặt xã hội thì người nào biết tấu chính hay

31.7 Page 307

▲back to top
sở hữu bộ chinh cũng là niềm tự hào trong cộng đồng. Chinh là loại nhạc cụ có lợi
thế về tạo nên giai điệu hơn hẳn với chiêng (boong). Trong đàn chinh, người Châu
Ro có thể chọn ra một bộ ba chiếc để cho những người tấu chinh thi tài với nhau.
Người Châu Ro còn gọi chinh là đồng la. Hiện nay, già làng Nguyễn Văn Nổi
ở ấp Lý Lịch, xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu còn giữ dược bộ chinh. Chinh được sử
dụng bằng cách đeo đánh bằng tay. Đàn ông hoặc phụ nữ đều có thể đánh được.
Trong phối đánh không phân biệt giới nhưng theo thứ tự. Tùy theo những nội dung
thể hiện mà những người biết đánh sắp theo thứ tự để thể hiện. Trước đây, trong
cộng đồng Châu Ro, chỉ có những gia tộc, gia đình có điều kiện kinh tế khấm khá
mới sắm được bộ nhạc cụ này. Chinh được sử dụng trong các lễ hội cổ truyền, tiết tết
của người Châu Ro. Đây là loại hình nhạc cụ phối hợp diễn tấu tập thể.
3.2. Chiêng
Còn gọi là goong. Nhạc cụ chiêng gồm nhiều bộ như bộ có 5 chiếc, 6 chiếc
hoặc 7 chiếc. Loại nhạc cụ này trên mặt phẳng đánh có núm tròn nhô lên. Đây là loại
nhạc cụ khá phổ biến và quan trọng được người Châu Ro dùng trong các dịp lễ hội
cộng đồng trong lễ của chu kỳ vòng đời người như tang ma, lễ cưới. Người phụ nữ
Châu Ro thường sử dụng loại nhạc cụ này. Họ treo lên thành từng dàn, có thể trong
tư thế đứng hoặc ngồi mà đánh. Thông thường, mỗi dàn chiêng có khác nhau về định
âm, thang âm, kích cỡ và cách quãng. Bộ chiêng được phân định chiêng mẹ đến
chiêng con (chiêng lớn đến chiêng nhỏ). Tác động lên u núm để tạo âm thanh trên
chiếc chiêng người Châu Ro dùng đoạn thanh gỗ, thân cây gòn, cây tầm phúc nhưng
tốt nhất là các thân dây mây, chắc, dẻo bền. Nếu dùng cây gỗ khô để đánh thì người
ta thường buộc quấn vào đầu cây một lớp vải để khi đánh vào giảm độ vang chói của
kim loại.
Về mặt xử lý âm thanh, sắc thái của nhạc cụ chiêng tương tự như nhạc cụ
chinh chỉ khác nhau về vai trò tay trái khi tác động để tạo âm lớn, nhỏ trong sáng hay
mờ của chiêng không được thuận tiện như chinh. Lòng chinh trơn nên những động
tác tạo âm (bấm, buông) trong lòng còn chiêng do có lõm trong tạo u núm mặt trên
nên người đánh tạo âm theo chuẩn tiết tấu bằng cách nắm, buông trên vành.

31.8 Page 308

▲back to top
Chất liệu làm nên bộ chiêng chủ yếu bằng kim loại, trong đó đồng đóng vai trò chủ
đạo. Mỗi chiếc chiêng có độ nặng nhất định nên khi diễn tấu thường được đặt vị trí
cố định. Có hai tư thế khi đánh chiêng: đánh trong tư thế ngồi trong các lễ hội cổ
truyền, đánh trong tư thế đứng trong lễ tang ma. Cũng có một số trường hợp, người
Châu Ro đeo chiêng vào vai, mỗi người một chiếc tạo hình vòng tròn vừa đi vừa tấu.
Trong tư thế này, người tấu chiêng dùng nắm bàn tay để gõ vào u núm chiêng. Thông
thường chỉ tấu được 3 bài là phải nghỉ để lấy sức. Nhưng trên thực tế, những quy
định này ngày nay không còn giữ như trước đây. Những bài tấu trong lễ hội có nhịp
tấu vang, thể hiện sự vui mừng của con người và chào mời thần linh.
3.3. Đàn tre
Loại nhạc cụ này ngắn chỉ một phần thân ống của cây tre già Đoạn thân tre
được chọn cưa ngay hai đầu lóng giữ cho toàn đoạn tre giữ được nguyên vẹn hơi phía
trong ống. Trên phần ngoài vỏ ống, người Châu Ro tách tạo thành 6 dây. Thường để
tạo một dây phải tách làm 3 tách vỏ mỏng song song. Dây mỏng ở giữa để gảy tạo
thanh âm, còn 2 dây hai bên để phụ cho mảng trống của dây chính, chêm cho dây
giữa nhô ra.
Theo nhiều người Châu Ro lớn tuổi thì đây là nhạc cụ dễ làm. Nếu nhà người
Châu Ro nào nghèo không có tiền, hay trâu bò, chum choé quý để đổi chinh thì họ
làm đàn tre. Loại nhạc cụ này do một người diễn tấu với bài bản giống như một dàn
chinh nhưng âm thanh nhỏ hơn nhiều. Họ tự chế loại nhạc cụ này để có thể diễn tấu
hay thưởng thức thay thế cho dàn chinh trong các dịp lễ hội... Hiện nay, một số người
Châu Ro lớn tuổi còn sử dụng loại nhạc cụ này để giải trí hay gảy trong các dịp lễ tết
của gia đình. Những người trẻ ít biết sử dụng đàn tre này. Trong các dịp lễ hội, sau
khi ăn mừng, những người già làng thường tấu lên những bài nhạc để cho mọi người
nghe.
Khi sử dụng đàn tre, người Châu Ro thường đứng hoặc ngồi rất thoải mái. Đàn
tre có một điểm tựa phần gốc vào người diễn tấu. Đàn tre đưa hơi chếch lên so với
điểm tựa và về phía trước mặt. Hai bàn tay người tấu châu vào ôm thân đàn và các
ngón tay xếp theo từng bậc của dây. Tay phải đóng vai trò chủ đạo trong diễn tấu.

31.9 Page 309

▲back to top
Các ngón tay khác tùy theo sự thành thạo hay điêu luyện của người diễn tấu mà có
thể dùng để gảy các dây. Trước khi diễn tấu các bài cùng điệu thức chủ âm thì người
tấu phải chỉnh dây bằng cách đẩy những miếng gỗ chêm tại các đầu dây (ra, vào) để
nâng độ dây lên cao hay chùng xuống theo ý muốn (xem như cây ngựa đàn).
Đàn tre là loại nhạc cụ thường được dùng diễn độc tấu các bài bản giai điệu
như của cồng chiêng... Tính năng thể hiện của nó rất đa dạng, phong phú ở các tiết
tấu nhanh hoặc chậm, trầm lặng hoặc sôi động. Âm thanh của loại nhạc cụ này nghe
hơi mờ, tối, độ vang ngắn. Loại nhạc cụ này hiện nay có già làng Nguyễn Văn Nổi
(ấp Lý Lịch, xã phú Lý, huyện Vĩnh Cửu) thường sử dụng.
3.4. Kèn môi
Kèn được làm bởi một thanh tre lồ ô nhỏ, mỏng. Chiều dài khoảng 20 cm, rộng
0,2 cm. Mảnh tre được vuốt láng trơn bề mặt và lòng phía trong. Một đầu mảnh tre
tạo đầu nhú như hình tra cán rìu nhỏ. Một đầu vuốt nhọn dần. Giữa mảnh tre được
tạo một lưỡi gà để tạo âm thoa khi thổi. Phần lưỡi gà được tạo chiếm 23 chiều dài
lòng thân mảnh tre. Lưỡi gà còn có thể làm bằng một lá đồng mỏng. Vì chất kim loại
nên tiếng kêu sẽ thanh hơn nhưng khó làm.
Người Châu Ro dùng miệng để thổi kèn. Tay trái giữ lấy đầu nhọn. Phần lưỡi
gà đặt ở môi. Tay phải khảy bật phần đầu nhú làm cho lưỡi gà rung tạo thành âm
vang ra. Khi thổi, người ta dùng lưỡi điều chỉnh hơi và vòm miệng để thay đổi âm
sắc.
Thường người Châu Ro khi canh chòi, giữ rẫy thường sử dụng loại kèn môi để
thổi. Thanh niên của Châu Ro trước đây cũng thường dùng kèn môi để bày tỏ tình
cảm đối với cô gái mà mình yêu mến. Họ thường đến dưới nhà sàn hoặc những gốc
cây gần nhà cô gái để thổi.
Giai điệu và âm từ kèn môi phát ra rất nhẹ nhưng thanh. Người thổi tạo âm và
khảy theo chủ đích thì người nghe có thể hiểu được chủ ý. Âm phát từ kèn là tiếng
được tạo từ miệng, môi một cách nhẹ nhàng để khi thổi và khảy bật toàn thanh kèn
tạo nên độ luyến láy.

31.10 Page 310

▲back to top
Đây là nhạc cụ tự tạo. Trong lễ hội, người Châu Ro dùng kèn môi để cầu chúc
điều tốt lành cho những người tham dự lễ hội, vui chơi. Hiện nay, ở Lý Lịch, bà
Hồng Thị Lịch còn thổi được kèn môi.
3.5. Kèn lúa
Người Châu Ro dùng thân cây lúa để làm kèn thổi nên có tên gọi như thế. Thân
cây lúa phải lớn, trong thời kỳ trổ đòng thì có ống dài và đoạn mắt. Thân lúa được cắt
về để ngâm trong nước giữ độ tươi. Người ta dùng tay bóc lớp vỏ ốp thân lúa phía
ngoài, chọn lấy phần ống có đoạn mắt. Từ đoạn mắt dài ra khoảng một gang tay thì
cắt vát. Tại gần phần đoạn mắc dùng nan khứa một đường nhỏ cắt vào một phần ba
thân ống. Từ đường cắt khứa mỏng này bật lên phía sau khoảng một đốt ngón tay để
làm lưỡi gà. Trên ống thân lúa cùng bề mặt có lưỡi gà khoét bốn lỗ nhỏ thông vào
thân ống đều nhau (thường là hình vuông hoặc hình tròn) có tác dụng thoát hơi. Phần
đoạn mắt có lưỡi gà để ngậm vào miệng thổi, các lỗ hơi dùng ngón tay trỏ và giữa
của hai bàn tay vừa che vừa thả tạo làn điệu theo cách của người thổi. Thường người
ta dùng ngón trỏ, ngón giữa của hai bàn tay vừa che vừa thả tạo làn điệu. Người Châu
Ro trước đây dùng kèn lúa thổi theo các làn điệu để hẹn hò tâm sự tình yêu nam nữ.
Nay không còn duy trì. Trong lễ cúng Sa Yang Va, các phụ nữ lớn tuổi thổi kèn lúa
với các giai điệu trầm bổng nghe như nhớ về làn điệu xưa và góp vui cho cộng đồng
trong các tiết mục sinh hoạt văn nghệ trong thời gian diễn ra lễ hội. Tại ấp Lý Lịch
hiện nay, bà Hồng Thị Trang là người thổi kèn lúa có những làn điệu rất hay.
3.6. Kèn bầu
Kèn được làm bằng trái bầu già để khô và 6 ống trúc. Trái bầu được vét sạch
phần trong ruột để trống. Sáu ống trúc có độ dài ngắn khác nhau: ống dài nhất
khoảng 80 cm, ống ngắn nhất khoảng 45 cm.
Các ống trúc được gắn vào một phần bên hông của trái bầu rồi xuyên qua cả trái bầu
theo chiều ngang bằng sáp ong. Phía trên gắn 4 ống, phía dưới gắn 2 ống; đầu phía
ngọn choãi ra cùng một hướng nhưng với một góc lệch khoảng 15 - 20 độ. Các ống
trúc được chế lưỡi gà bằng miếng kim loại mỏng, phần lưỡi gà đưa vào phía trong
trái bầu. Trên thân ống trúc phía ngoài, mỗi ống có lỗ hơi phía dưới.

32 Pages 311-320

▲back to top

32.1 Page 311

▲back to top
Về kỹ thuật diễn tấu, người Châu Ro dùng miệng ngậm vào đầu trái bầu khô.
Hai tay giữ các ống trúc vừa giữ kèn đồng thời tạo nhịp âm theo ý muốn. Khi hút hơi
vào, các ngón tay giữ bịt các lỗ hơi trên thân ống trúc. Khi thổi hơi ra, ngón tay giữ
ống trúc nào nhả lỗ hơi thì lưỡi gà sẽ tạo ra âm thanh.
Tư thế người thổi kèn bầu đa dạng. Người thổi có thể ngồi hoặc đứng. Trong
các lễ hội với không khí nhộn nhịp, náo nhiệt, khi hòa tấu cùng dàn nhạc cụ như
chinh, chiêng, người thổi có thể vừa đi vừa thổi với những bước nhịp chân. Những
người thổi giỏi vừa nhảy vừa thổi nhưng vẫn giữ được thanh nhịp bài thổi.
4. Cách bài trí các khu vực diễn lễ cúng Sa Yang Va
Tuyến tính diễn ra lễ cúng Sa Yang Va tại ba địa điểm chính là rẫy lúa, nhà sàn
và kho lúa.
4.1. Rẫy lúa
Liên quan đến nghi thức rước hồn lúa. Tại đây, khi thu hoạch mùa, người ta
chọn vạt lúa có chùm bông nhiều hạt, chín vàng. Những bông lúa được bó lại bằng
tranh, rơm, lá chuối và rào bốn bên bằng các loại gai bằng tre, cây cối để bảo vệ cẩn
thận cho đến khi lễ cúng Sa Yang Va diễn ra .
4.2. Nhà sàn
Trên gian nhà chính của nhà sàn để bàn thờ Nhang và là nơi diễn ra những nghi
thức cúng trình Yang Nhi (Yang Nhà). Bàn thờ cúng có ba tầng nấc gắn vào vách. Từ
hai tầng trên bàn thờ có hai cây nhô thẳng ra phía trước để gắn hai cây đèn sáp. Tầng
trên cùng để chén đựng vỏ cây chùm hùm được hun khói xông; tầng thứ hai để bài trí
lễ vật cúng. Cây nhang (được mô tả trong phần cây nêu) được cắm vào bàn thờ từ
giữa tầng hai theo chiều xuôi xuống. Phần giỏ bông cây Nhang và các tia tỏa về phía
trước bàn thờ theo hướng song song với mái trần nhà / nơi để những đồ vật của mùa
cúng Yang Va năm trước.
Phần dưới cùng bàn thờ bày những chế đựng lúa, gạo, nếp của các mùa thu
hoạch trước. Trước bàn thờ khoảng 1 mét đặt chế rượu cần. Phía vách đối diện bàn
thờ Nhang là bộ chiêng được người Châu Ro dùng dây mây treo lên một cây ngang

32.2 Page 312

▲back to top
buộc theo một đà cây mái nhà. Những cái chiêng được treo vừa tầm đối với người
ngồi đánh.
Phía dưới sân nhà sàn được dọn sạch sẽ. Cây nêu được dựng giữa sân. Gốc cây
nêu là nơi cột những con vật sẽ làm thịt để hiến tế trong lễ hội. Cách cây nêu khoảng
2 mét có dựng khung giàn để treo chiêng (vị trí không bắt buộc). Xung quanh sân với
cây nêu làm tâm có làm những dãy cây rừng để làm chỗ ngồi cho người dự lễ .
4.3. Kho lúa
Là nơi để cất giữ lúa mà người Châu Ro thu hoạch mùa màng vừa qua. Trước
đây, với sàn kho bằng gỗ thì người Châu Ro trải lúa trên cả phía trong kho. Nay, với
nhu cầu bảo quản lâu dài nên người ta sử dụng các đồ đựng bằng nhiều chất liệu để
chứa lúa và cất giữ trong nhà kho. Dù nhà kho còn chứa lúa hay không thì khi tổ chức
lễ cúng Sa Yang Va thì trong kho phải có một số lúa tượng trưng. Nhà kho được dọn
cho tươm tất, sạch sẽ.
5. Diễn trình các nghi thức trong lễ cúng Sa Yang Va
5.1. Rước hồn lúa
Bắt đầu cho buổi lễ cúng Yang Lúa là nghi thức rước hồn lúa. Khi buổi sáng
của ngày cúng bắt đầu, lúc mặt trời lên, người nhà của người Châu Ro tổ chức lễ thực
hiện việc đi rước hồn lúa. Người gọi Yang lại khấn trình trước bàn thờ và cho người
đi lên rẫy. Người phụ nữ chính trong nhà và người thân (số lượng người không quy
định nhưng không đông lắm, thường chỉ có ba người) đem theo liềm, chà gạc, bầu
khô đựng nước để trong gùi mang đi. Họ đi về hướng rẫy lúa nơi để dành sẵn một
chùm lúa chín. Rẫy lúa ở khá xa với nhà người Châu Ro đang cư ngụ.
Tại khu rẫy, khi thu hoạch mùa màng, người ta để lại một vạt lúa tốt có những
bông lúa trĩu hạt. Khi đi đến nơi, người phụ nữ chính thực hiện nghi thức khấn. Lời
khấn mang nội dung: báo cho hồn lúa biết hôm nay nhà tổ chức lễ cúng Sa Yang Va
và mời hồn lúa từ rẫy về nhà dự lễ cúng, cầu xin hồn lúa thuận ý và phù hộ cho mọi
sự diễn ra tốt lành. Khấn xong, người phụ nữ lấy nước trong trái bầu khô đem theo
rảy vào chùm lúa thể hiện sự tẩy sạch và tươi tắn cho chùm lúa chọn. Những người đi

32.3 Page 313

▲back to top
theo dỡ bỏ những rào che, mở chùm lúa khỏi những dây bó, lá chuối và lấy liềm gặt
lấy, bó lại, bỏ vào gùi.
Khi gặt chùm lúa chọn xong, những người đi theo tìm đến một phần đất khác để chặt
hai ngọn mía và hai ngọn chuối con (có khi không có mía nhưng bắt buộc phải có đọt
chuối non). Những cây mía và cây chuối cũng được chọn sẵn trước với điều kiện lá
xanh, đọt thẳng, thường nảy nở từ những bụi gốc lớn. Trước khi chặt đọt chuối (cây
mía) người phụ nữ Châu Ro đọc lời khấn báo gia đình làm lễ cúng Yang Lúa và xin
được chặt chuối non về làm lễ; bên cạnh đó, họ đọc lời khấn cho con cái trong nhà
được an, được phúc, nhanh lớn như đọt chuối. Tất cả những đồ vật được bỏ vào gùi
và mang về nhà trình qua Yang Nhà.
Những vật lấy từ rẫy có ý nghĩa quan trọng trong quan niệm của người Châu
Ro khi tổ chức cúng. Chùm bông lúa chọn là hồn lúa của mùa màng và qua đó người
Châu Ro thể hiện lòng biết ơn đối với thần linh trong mỗi kỳ làm rẫy. Cái tốt nhất,
đẹp nhất dành cho ngày cúng tế Yang Lúa. Hai đọt chuối non (cây mía) thể hiện sức
sống, sự sinh sôi nảy nở của con cái như lời khấn và cho các loại cây khác mà người
Châu Ro trồng tỉa trên nương rẫy. Con số hai (chẵn) của lễ vật rẫy biểu hiện của
người Châu Ro trong quan niệm sự hoàn thiện, có đôi, có bạn cho cả người chủ rẫy,
chủ gia đình, người gọi Yang.
Khi những người đi rước hồn lúa về thì họ dừng lại ngay tại gốc cây nêu. Tại
gốc cây nêu có buộc sẵn các con vật hiến tế là heo và gà. Người ta để gùi xuống chứa
đựng các vật đem về từ rẫy: chùm bông lúa, hai cây mía, hai cây chuối như trình báo
cho thần linh, tổ tiên chứng giám.
5.2. Trình Yang nhà và làm vật hiến tế
Khi những người đi rước hồn lúa về trình các lễ vật tại gốc cây nêu thì người
gọi Yang ngồi chờ sẵn tại cửa nhà sàn. Người phụ nữ mang gùi lên cầu thang và giao
lại những vật mang từ rẫy cho người gọi Yang. Người gọi Yang đem các vật từ rẫy
vào trước bàn thờ. Các chùm bông lúa đặt lên tầng thứ hai của bàn thờ Sau đó, người
gọi Yang tách lấy một phần của chùm bông lúa ra từng bông gắn lên thân cây nhang
mùa cúng trước, đọt chuối non gắn hai bên cây nhang. Vừa đặt sắp các vật người gọi

32.4 Page 314

▲back to top
Yang vừa đọc lời khấn với vẻ mặt cung kính. Một người phụ cúng bắt con gà từ cây
nêu đưa cho người gọi Yang. Người gọi Yang cầm con gà cúng ngồi trước bàn thờ
Yang đưa lên vái ba lần, miệng đọc lời khấn xin làm thịt những con vật hiến tế.
Những người phụ cúng đem cây nhang và con gà xuống phía dưới nhà sàn làm thịt.
Một người cắt cổ gà lấy huyết bôi đều vào các chùm tia của cây nhang. Sau đó,
những người phụ cúng bắt heo từ gốc cây nêu làm thịt. Khi cắt cổ, họ dùng thanh tre
vuốt nhọn thọc huyết. Huyết chảy ra liền được họ lấy tay nhúng và bôi đều lên cây
nhang mà trước đó đã bôi huyết gà. Khi bôi xong, một người sẽ đem cây nhang lên
nhà sàn đưa cho người gọi Yang. Người gọi Yang cung kính đón lấy và đọc lời khấn
trình lên Yang nhà và gắn vào phía dưới bàn thờ Nhang. Khi cây nhang được bôi
huyết hai con vật tế thì được đem cắm vào phần dưới cùng của bàn thờ. Trong thời
gian trình các lễ vật từ rẫy cho tiến trình cây nhang đã được bôi huyết các con vật
hiến tế thì những người phụ nữ liên tục đánh giàn chiêng trên nhà sàn để tấu những
làn điệu nhộn nhịp mừng lễ cúng.
Phía dưới sàn nhà, ngay từ buổi sáng diễn ra lễ cúng, những người Châu Ro
tham gia lễ hội làm các thứ thức ăn như bánh dày, cơm lam, củ nần, củ mì, củ chụp,
đọt mây... để đãi khách khi lễ cúng hoàn tất. Nếu lượng thức ăn nhiều thì họ chuẩn bị
từ đêm trước lễ hội. Các thức ăn làm được bày sẵn theo thứ tự trên các sàn tre, cây
được làm sẵn.
5.3. Nghi thức cúng Yang Nhi
Lễ cúng Yang thường được bắt đầu vào buổi trưa. Để chuẩn bị cho buổi lễ
những người phụ cúng bắt đầu bài trí khu cúng trên bàn thờ Nhang trên nhà sàn. Bàn
thờ Nhang được bày các lễ vật. Chén vỏ cây chùm hùm được chuyển từ tầng trên
cùng xuống tầng thứ hai của bàn thờ để xông hương, hai cây đèn cầy sáp ong được
đốt lên. Bên cạnh đó là các lễ vật cúng như bánh dày, cơm lam, củ nần, củ mì, đọt
mây đã được nấu chín. Ché rượu cần được khai miệng, đổ nước vào, cắm những ống
hút bằng tre. Bốn ống hút nghiêng ra bốn hướng và 1 ống chính (ngắn) ở giữa và cái
cò bắc ngang miệng ché. Từ bốn ống hút bốn bên được cột nối vòng những sợi dây
chỉ đều nhau. Có hai sợi dây chỉ nối từ hai ống hút của ché rượu cần lên trên trần nhà

32.5 Page 315

▲back to top
/ nơi để những bông lúa, cây nhang của mùa cúng trước. Trên những sợi dây được kết
những bông gòn theo từng nấc tượng trưng cho cái thang để thần linh đến dự hưởng
rượu cần của mùa lúa đã thu hoạch. Người phụ cúng nối vào ống hút ngắn chính giữa
một đoạn dây ống nhựa để lấy ra một chai nước rượu đầu tiên.
Thịt của các con vật hiến tế được đem lên bàn thờ. Lễ vật này gồm một đùi heo
phía chân sau, giữ nguyên đuôi, một nửa con gà nhưng giữ nguyên phần đầu và đĩa
đựng một số đồ lòng của con vật như gan, cật, một ít thịt chặt rời. Các phần thịt để
tươi. Người gọi Yang bày lễ vật phía dưới bàn thờ Nhang cùng với một ổ bánh dày
và các loại củ nấu chín (nần, mì, chụp). Sau đó người phụ cúng đem đĩa thịt ra xâu
vào hai xiên tre (mỗi xiên tre xâu riêng biệt thịt heo, gà). Người gọi Yang ngồi trước
ché rượu cần, mắt hướng về bàn thờ Nhang đọc lời khấn. Những người phụ cúng
đứng phía sau. Tại Lý Lịch, già làng Năm Nổi đọc lời khấn. Lời khấn mang nội dung:
“Gia đình chúng tôi xin vái các thần linh, vái ông bà tổ tiên. Hôm nay gia đình tổ
chức cúng Yang Va. Chúng tôi xin thần linh, tổ tiên về chứng giám. Chúng tôi xin
trình Yang Nhi những việc đã qua. Chúng tôi cảm ơn thần linh, tổ tiên đã phù hộ gia
đình tôi một năm qua bình yên, mùa màng cây trái tốt tươi nương rẫy lúa cho nhiều
hạt. Hôm nay gia đình tôi làm heo, gà, bánh trái... tạ ơn thần linh, tổ tiên. Xin thần
linh, tổ tiên về cùng dự lễ cúng này và tiếp tục phù hộ, giúp đỡ mạng sống tất cả
mạng người trong gia đình. Người trong gia đình, dòng tộc dù ở đâu, làm gì, lúc ở
nhà hay làm rẫy, lúc lên rừng hay xuống suối đều được được Yang Như gìn giữ bình
an không bị bệnh tật, ma quỷ làm hại. Người trong gia đình từ già tới trẻ đều may
mắn. Cầu xin thần linh cho cây cối lúa rẫy chúng tôi trồng có mưa có gió thuận hoà,
giúp đỡ từ gốc tới ngọn, cây cối không bị thú dữ phá hư, mùa màng, thú nuôi không
có dịch hại, lúa cho thêm nhiều hạt, thu về cất đầy kho nuôi sống gia đình. Năm nay
tôi cúng lễ như thế này, năm sau gặt hái nhiều hơn tôi nguyện tạ ơn nhiều hơn. Bụng
dạ tôi thần linh đều biết, sống có trước có sau. Bụng dạ tôi không gian dối, giấu
giếm. Nếu bụng dạ tôi sai lời thì xin thần linh cứ quở phạt. Hỡi các thần lúa, tổ tiên
hãy nghe lời khấn hứa của tôi”.
Khi khấn xong, người gọi Yang đứng lên đi về phía bàn thờ vừa lâm râm đọc
lời khấn với nội dung cầu an cầu phúc vừa lấy mâm lễ vật như nâng lên mời thần

32.6 Page 316

▲back to top
linh. Người gọi Yang lấy một xiên thịt gà từ mâm lễ vật cắm vào ổ bánh dày trên
tầng hai của bàn thờ. Mâm lễ vật (phần thịt gà / nửa con với phần nguyên cái đầu;
phần thịt heo / đùi sau và nguyên cái đuôi; ổ bánh dày,với các loại củ nướng luộc
chín, xiên lòng heo và đặc biệt là đầu heo), chai rượu chắt từ ché rượu cần, chùm
bông lúa được những người phụ cúng mang đi theo người gọi Yang. Người gọi Yang
tay cầm cây nhang có bôi huyết vật tế từ bàn thờ đi đến kho lúa.
5.4. Nghi thức cúng Yang Va tại kho lúa
Đến kho lúa, chỉ người gọi Yang được trèo lên trong kho. Phần các lễ vật và
một chén vỏ chùm hùm khác được những người phụ giúp đứng phía dưới đưa lên.
Khi bước vào trong kho, người gọi Yang vái khấn lâm râm với nội dung trình báo
cho Yang Lúa biết gia đình tổ chức lễ cúng. Người gọi Yang cắm cây nhang vào giỏ
đựng lúa. Cây nhang dáng đứng thẳng. Chùm lúa được sửa soạn, dắt ngang lên cây
đòn dông của nhà kho trên ngọn nhang. Trên giỏ cây nhang để chén vỏ cây chùm
hùm hun khói xông nghi ngút. Dưới gốc cây nhang trong giỏ lúa đặt chai rượu. Mâm
lễ vật gồm thịt và bánh được bày trên sàn kho. Người gọi Yang vái lạy và ngồi tư thế
xếp bằng, mắt hướng lên chùm lúa và cây nhang đọc lời khấn. Nội dung của lời khấn
về cầu phúc cầu an tương tự như lời khấn tại bàn thờ Nhang trên nhà sàn nhưng cầu
thần Yang lúa trước. Nội dung có thể tóm lược như sau: “Cầu thần linh, tổ tiên về
đây chứng giám. Hôm nay, gia đình tôi làm lễ cúng Yang Va. Tôi đã trình qua Yang
Nhi. Nay tôi đem lễ vật đến cúng và cầu khấn Yang Va tại kho lúa của gia đình. Gia
đình tôi biết ơn Yang Va đã giúp đỡ mùa hái gặt đã qua. Cầu xin Yang Va luôn
thương xót gia đình tôi, phù hộ cho mùa màng, cây cối, nương rẫy của chúng tôi
trồng mau xanh mau lớn, có mưa có gió thuận hòa, không bị thú rừng phá phách,
dịch hại phá hủy. Lúa chúng tôi trông cho nhiều hạt, thu về chất đầy kho để nuôi
mạng gia đình. Xin thần linh. tổ tiên chứng giám cho lòng thành của gia đình chúng
tôi. Gia đình chúng tôi luôn giữ tấm lòng thành, năm nào cũng tổ chức cúng Yang, tổ
tiên. Xin thần linh, tổ tiên nghe lời khấn và phù hộ chúng tôi.
Đọc lời khấn xong người gọi Yang vái lạy ba lần và đứng lên quay trở xuống
đi về nhà sàn. Những lễ vật để lại trên kho lúa. Theo già làng Năm Nổi, trước đây,
mâm lễ vật để tại kho lúa ba ngày ba đêm. Hiện nay, những lễ vật để tại kho lúa

32.7 Page 317

▲back to top
khoảng một tiếng đồng hồ sau khi cúng xong. Sau đó, những người phụ cúng đem
xuống, phần thịt nấu chín, bánh trái đem lên nhà sàn đãi khách. Cây nhang vài ngày
sau được người gọi Yang đem lên đặt trên mái nhà trước bàn thờ trên nhà sàn.
5.5. Sinh hoạt cộng đồng
Người gọi Yang trở về lại nhà sàn và bắt đầu cho buổi sinh hoạt cộng đồng sau
khi các nghi thức cúng hoàn tất. Những người đánh cồng chiêng tấu lên những bài
mừng trong lễ hội. Giàn chiêng treo được những người phụ nữ tấu lên với nhịp điệu
rộn rã, lặp đi lặp lại nhiều lần. Những người phụ cúng dọn thức ăn đã chuẩn bị cho lễ
hội lên sàn nhà. Những người khách được mời, hầu hết là người lớn tuổi trong cộng
đồng ngồi dự trên nhà sàn. Những người trong cộng đồng tham gia sinh hoạt dưới
khoảng sân của nhà sàn. Tại đây, những bàn cây, tre được đặt sẵn các thứ thức ăn.
Mọi người vừa ăn uống, vừa nói chuyện vui vẻ.
Phía trên nhà sàn, người gọi Yang khai mở ché rượu cần mời khách. Người
phụ nữ lớn tuổi nhất nhà uống trước và mời những người khách. Theo quan niệm của
người Châu Ro, sự ưu tiên này là hành động biết ơn công lao của người phụ nữ do họ
phải chịu nhiều cực khổ, từ việc nương rẫy đến nội trợ. Lần lượt khách mời đều được
mời lên uống rượu cần. Một người trong gia đình cầm cây sáp ong trên bàn thờ đến
cúi chào người khách nào thì người khách đó được lên uống rượu cần. Ché rượu cần
có bốn ống hút. Thường đủ bốn người mới uống chung nhưng cũng có trường hợp có
hai hoặc ba người. Tuỳ theo sức mà khách có thể uống nhưng thường thì chủ nhà mời
mỗi khách một vò rượu (tương đương khoảng một chén nước). Người châm nước
ngồi sẵn bên ché rượu châm nước và cân cò vào mỗi khi khách uống.
Trong khi khách tham dự tiệc uống rượu cần, cồng chiêng được tấu lên. Những
người đánh cồng thì mang vào vai, vừa đi vừa đánh chung quanh nhà sàn. Một số
phụ nữ, trẻ em Châu Ro hát, múa những bài hát của dân tộc mình. Tiếng đàn tre, kèn
môi hay kèn lúa được nhiều người gảy thổi để cầu phúc, chúc lành cho nhau cho đến
khi tiệc tan.
Đêm xuống, tại khoảng sân trước nhà, người Châu Ro đất lửa cùng nhau nhảy
múa, hát ca. Những người đánh cồng vừa đi quanh đống lửa vừa đánh tấu lên tiếng

32.8 Page 318

▲back to top
cồng rộn rã. Họ đi theo chiều ngược kim đồng hồ, đánh tấu cồng theo vòng tròn từ
ngoài vào cho đến sát gốc cây nêu. Giàn chiêng treo được những người phụ nữ đánh
tấu lên hoà nhịp trong các điệu múa của các cô gái. Thường trong đêm đất lửa sinh
hoạt, gia chủ đem những ché rượu cần ra đãi khách và cộng đồng tham dự. Men rượu
cần làm cho mọi người như say thêm không khí của lễ hội, thôi thúc họ hát múa, trỗi
lên những làn điệu, tiếng nhạc, tiếng kèn trong bầu không khí nhộn nhịp. Mọi người
vui hoà trong không khí hội với men rượu cần cho đến khi đống lửa tàn, thường vào
lúc nửa đêm, mới kết thúc trọn vẹn ngày cúng Sa Yang Va.
Lễ hội Sa Yang Va là một nét sinh hoạt văn hóa rất độc đáo, duy nhất trong
năm của người Châu Ro còn bảo lưu được, góp phần làm đa dạng di sản văn hóa phi
vật thể của cộng đồng các tộc người ở Đồng Nai nói riêng và miền Đông Nam Bộ
nói chung. Tiếc thay, do nhiều nguyên do mà trong đó chủ yếu là phụ thuộc vào kinh
tế mà nhiều gia đình người Châu Ro không có đủ điều kiện để tổ chức, bảo tồn. Đây
là lễ hội quan trọng của cộng đồng người Châu Ro, cư dân nông ngiệp ở địa hình bán
sơn địa, làm kinh tế nương rẫy phụ thuộc vào thiên nhiên. Lễ hội là dịp tổ chức ăn
mừng mùa thu hoạch đã qua và chuẩn bị cho vụ mùa tới đồng thời thể hiện cách ứng
xử của người Châu Ro với thần linh, tổ tiên, môi trường tự nhiên và cộng đồng mà
theo họ có tác động sâu xa đến cuộc sống của cộng đồng nói chung hay từng thành
viên nói riêng.
Lễ hội Sa Yang Va được tổ chức tại ấp Lý Lịch trong những năm qua đều có
sự giúp đỡ của các cấp chính quyền, các cơ quan có chức năng của Nhà nước. Lễ hội
có tính chất cộng đồng và thu hút nhiều người dân địa phương tham gia. Trong
chương trình riêng của lễ hội hay giao lưu văn hóa các dân tộc nói chung đã trở thành
nét sinh hoạt văn hóa lành mạnh, góp phần trong công tác bảo tồn và phát huy các giá
trị văn hóa của công đồng các dân tộc Việt Nam.
Ths. Phan Đình Dũng

32.9 Page 319

▲back to top
Lễ hội: môi trường nảy sinh, duy trì loại hình hát – múa của
người Châu Ro, Châu Mạ
Cư dân Châu Ro, Châu Mạ và cư dân bản địa ở Đồng Nai. Cộng đồng các dân
tộc này có một đời sống tinh thần khá phong phú. Điều đó thể hiện trong các sinh
hoạt tinh thần của cộng đồng họ trải qua nhiều thế hệ nối tiếp nhau mà tiêu biểu là
loại hình hát, múa.
Trước đây, khi nghiên cứu về các dân tộc thiểu số bản địa Đồng Nai, một số
học giả cho rằng, các dân tộc này có đời sống văn hóa tinh thần phong phú. Trong
đó, đặc biệt là dân tộc Châu Mạ, họ cho rằng có một “Tâm hồn Mạ” để nói về điều
này. Chúng tôi nghĩ, người Châu Ro cũng vậy.
Quả thực, khi điền dã vùng đồng bào Châu Ro, Châu Mạ nhiều năm liền - dù
rằng không liên tục, nhưng chúng tôi cảm nhận được trong dáng người khắc khổ với
cuộc sống còn nhiều khó khăn mọi bề (nhất là cái ăn và cái ở) thì cộng đồng Châu
Ro, Châu Mạ luôn ẩn chứa một sự tiềm tàng của đời sống tinh thần qua loại hình
nghệ thuật hát múa.
Có thể nói rằng, trước đây, khi còn sống giữa đại ngàn, người Châu Ro, Châu
Mạ muốn “thấy” được sự tồn tại của bản thân, cộng đồng mình thì chính họ phải hát
lên. Họ hát trong môi trường gắn kết giữa con người với cái thiêng của rừng núi mà
bao đời họ từng quan niệm rằng tất cả mọi vật đều có linh hồn. Họ hát để ngợi ca hay
bày tỏ của chính bản thân với thế giới xung quanh, họ hát về những điều họ thấy và
chính họ làm thường ngày. Điều này, khi đi sâu trong sưu tầm, chúng ta dễ dàng
nhận thấy nội dung các bài hát có lời ca mộc mạc, thể hiện điều đó. Đặc biệt, trong
cộng đồng người Châu Mạ, khi đi tìm hiểu cách hát của họ, chúng tôi nhận thấy, họ
có một lối hát kể rất độc đáo. Đây hình như là một nét chung của các dân tộc cư trú
lâu đời ở vùng đất Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Nhiều đêm liền, chúng tôi dã từng
nghe một số các cụ lớn tuổi hát như thế. Chúng ta dễ dàng nhận thấy các bài hát
thường thường do phụ nữ hát với số đông hơn đàn ông. Và lời bài hát cũng như cách

32.10 Page 320

▲back to top
hát được lưu giữ bảo tồn bằng hình thức truyền khẩu với nhau.
Về loại hình hát, cộng đồng Châu Ro, Châu Mạ hát trong bất kỳ thời nào như
gian nào: hát trong lúc ở nhà ru con, lên nương, làm rẫy hay vào rừng hái lượm...
nhưng thường sôi nổi và hào hứng nhất là vào các dịp lễ hội. Trong các dịp lễ hội còn
tính cộng đồng cao, thời gian diễn ra nhiều ngày liên tiếp, ngoại trừ những nghi thức
cúng lễ thì phần lớn phụ nữ trong buôn làng tham gia ca hát. Không khí lễ hội cộng
đồng là môi trường tết cho người Châu Ro, Châu Mạ thể hiện tinh thần ca hát của
mình. Có những người lớn tuổi trong các tiệc vui của cộng đồng (cưới xin hiện nay)
đã từng hát kể nhiều tiếng đồng hồ về các bài hát xưa.
Qua những lễ hội của họ chúng tôi từng tham dự, lúc ban đầu khi chưa uống
rượu cần cho vít cần thì quả nhiều người trong số đông cộng đồng còn e dè, bỡ ngỡ
trước sự xuất hiện, tham dự của đông người. Nhưng khi có chất men rượu cần thì
dường như một sức sống được khơi dậy trong nhiều người Châu Ro, Châu Mạ. Họ
mạnh dạn hòa trong không khí của lễ hội để mà hát, mà múa. Chúng tôi nghĩ, chính
những thời điểm như thế, cái chất hát, múa chân chất của chính cộng đồng họ thể
hiện sâu sắc nhất.
Về loại hình múa, chúng tôi nghĩ, lễ hội cộng đồng cũng là một môi trường
thuận lợi đã từng làm nảy sinh cách vui hát, nhảy múa của người Châu Ro, Châu Mạ.
Khi tận mắt chứng kiến người Châu Ro, Châu Mạ nhảy múa, qua tiếp cận một số tư
liệu liên quan, chúng tôi nhận thấy rằng, các động tác trong thực hiện điệu múa của
người Châu Ro, Châu Mạ rất gần gũi với chính đời sống thường ngày của họ. Những
động tác như tỉa hạt, giương vũ khí (cung, ná) săn thú được họ thể hiện nhiều lần.
Một số điệu múa lấy trục thân làm chính để dùng đôi tay đưa qua hai bên với bàn tay
xòe hay chúm lại, từ dưới lên trên và xuống dưới như thể hiện việc chúc tụng hay
ngợi ca thần linh. Các bước chân sử dụng trong điệu múa nhẹ nhàng để tạo những
điểm nhún chung hài hòa trong đoàn múa. Trục thân người ít khi gập mà như tạo
dáng đứng, chỉ một số động tác hơi nghiêng người. Riêng, những người đàn ông
tham gia vào đoàn múa thường là những điệu múa tự do, họ thể hiện như minh họa
thêm cho những người phụ nữ đang múa. Họ có thể dùng động tác giương cung, ná

33 Pages 321-330

▲back to top

33.1 Page 321

▲back to top
cao vút lên hay gù mình xuống, một số thế điệu như đang vờn thú... Điều dễ dàng
thấy nhất trong các lễ hội là cách thức múa cộng đồng (tập thể) của người Châu Ro,
Châu Mạ. Chúng ta dễ hình dung hơn khi tham dự trong một lễ hội. Đó là cách bài trí
sân lễ hội dù có rộng hay hẹp thì trục chung đều xoay quanh các cây nêu. Người
Châu Ro, Châu Mạ thường đi quanh các cây nêu để hát, múa và đánh cồng chiêng.
Họ vừa hát, vừa múa đi theo vòng tròn. Cách thức đi có thể đi tới và trở hướng đi
ngược lại, đi từ vòng rộng cho tới thu hẹp lại quanh gốc nêu và từ đó dãn ra.
Tất nhiên, khi thực hiện ca hát, múa nhảy trong lễ hội, chúng ta thấy người
Châu Ro, Châu Mạ sử dụng những nhạc cụ. Chúng tôi chỉ xin kể tên một số nhạc cụ
của người Châu Ro, Châu Mạ như: Cồng, chiêng, trống Talood (sử dụng thể hiện có
tính tập thể); kèn môi, kèn bầu, sáo, đàn tre (sử dụng thể hiện có tính cá nhân). Chúng
tôi nghĩ rằng, có nhiều môi trường nảy sinh loại hình hát, múa của người Châu Ro,
Châu Mạ. Theo đó, từ quan niệm tín ngưỡng cho đến lễ hội là một môi trường thuận
lợi từ xưa đến nay để người Châu Ro, Châu Mạ làm nảy sinh và duy trì tốt loại hình
nghệ thuật hát, múa, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tinh thần của cộng đồng họ. Thế
nhưng, môi trường đó đã trải qua một thời kỳ dài “khủng hoảng” nên đã ảnh hưởng
nhiều đến những giá trị di sản văn hóa này.
Chúng ta có thể hình dung rằng, suốt trong thời kỳ kháng chiến thống Pháp và
chống Mỹ, cộng đồng Châu Ro, Châu Mạ không có một cuộc sống ổn định. Một bộ
phận người Châu Ro, Châu Mạ theo cách mạng kháng chiến, buôn làng dời chuyển
vào rừng. Trong hoàn cảnh đó, họ vừa lo cái ăn cho chính mình và giúp cách mạng
hoạt động trong rừng. Những hoạt động văn hóa tinh thần nhường chỗ cho mục tiêu
cao hơn. Còn bộ phận đồng bào bị dồn ép vào các buôn làng do chính quyền Sài Gòn
thực hiện thì cuộc sống cũng không ổn định. Môi trường sống khác biệt với môi
trường mà cộng đồng họ gắn bó với trước đây là núi rừng những bộ phận cộng đồng
Châu Ro, Châu Mạ tại các đồn điền thì cũng phải “cày” cho giới chủ để có cái mà
sông.
Nhìn chung, xảy ra trường hợp như thế này: bộ phận theo cách mạng bám rừng
kháng chiến có tính cộng đồng còn cao nhưng điều kiện phát triển các sinh hoạt văn

33.2 Page 322

▲back to top
hóa tinh thần trong hoàn cảnh khó có thể duy trì như trước. Bộ phận sống trong các
vùng tạm chiếm thì bị ảnh hưởng qua lại của nhiều quan hệ xã hội. Tính cộng đồng
không còn chặt chẽ như trước đây, môi trường sống thay đổi. Lại thêm tập quán sinh
sống, sự thoát ly khỏi môi trường sống chính với cái thiêng dần mất mà chính cộng
đồng họ chưa thích ứng tích cực cùng với đời sống kinh tế khó khăn, tựu chung, sinh
hoạt tinh thần của cộng đồng các dân tộc thiểu số bản địa này không có diều kiện để
duy trì, phát triển. Đó là một yếu tố lịch sử, xã hội mà chúng tôi cho rằng rất quan
trọng ảnh hưởng đến sự mai một những giá trị di sản về loại hình hát, múa của người
Châu Ro, Châu Mạ.
Và hiện nay, loại hình hát, múa của cộng đồng người Châu Ro, Châu Mạ đang
đứng trước những nguy cơ mai một. Những người lớn tuổi còn hát được những bài
hát của dân tộc mình thì ít dần và mất dần do tuổi tác. Những người trẻ thì ít ai được
dạy bày và thậm chí không còn thích những bài hát dân tộc mình trước những điều
mới mẻ trong nhịp sống phát triển hiện đại.
Chúng ta cũng không thể trách họ bởi cuộc sống của cộng đồng người Châu
Ro, Châu Mạ dù đã được Nhà nước đầu tư quan tâm nhưng nhìn chung, tất cả cộng
đồng người thiểu số bản địa ở Đồng Nai vẫn còn khó khăn. Có nhiều yếu tố xã hội
tác động ảnh hưởng đến vấn đề bảo lưu chúng trong yêu cầu phát triển là một vấn đề
cấp bách. Loại hình nghệ thuật hát múa được sưu tầm dù muộn chưa đầy đủ nhưng
đã phần nào “bảo tồn” qua những kết quả sưu tầm về loại hình nghệ thuật này của
cộng đồng người Châu Ro, Châu Mạ. Nhưng cũng cần phải nói đến vấn đề này, khi
thực hiện các đề tài về dân tộc nói chung, những vấn đề liên quan nói riêng, chúng tôi
nghĩ cần có sự đầu tư chu đáo, làm cho đến độ chứ không nên dừng lại ở mức độ thô
“làm cho có”, thì chưa thật sự phát huy trong thực tiễn xã hội nói chung hay chính
cộng đồng các dân tộc thiểu số nói chung.
Ths Phan Đình Dũng

33.3 Page 323

▲back to top
Dấu tích thành Biên Hòa di tích lịch sử cần được giữ gìn – tôn
tạo
Phải công tâm mà nói rằng: thành Biên Hòa xưa với những dấu tích còn sót lại
trong phạm vi nội ô thành phố Biên Hòa hôm nay là một điều may mắn cho vùng đất
này. Bởi lẽ, trải qua 170 năm được tạo dựng (tính từ mốc nguyên khởi), bao biến cố
của thời cuộc, xã hội đã làm thay đổi và mất đi nhiều di sản vật thể thì công trình cổ
thành Biên Hòa vẫn còn những dấu tích khá rõ nét, hiện diện trong đời sống hiện tại.
Trong diễn trình lịch sử của vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai, cổ thành Biên Hòa
là một dấu chứng gắn liền với những sự kiện quan trọng. Trong lý lịch di tích thành
Biên Hòa của Nhà Bảo tàng Đồng Nai thực hiện, phần nội dung đã nêu khá đầy đủ
những chi tiết này. Và có lẽ, chúng ta đồng thuận những trích dẫn, ghi chép hầu hết
từ trong tư liệu của Đại Nam nhất thống chí của Quốc Sử quán triều Nguyễn hay
Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức. Tư liệu ghi chép về cổ thành Biên
Hòa rất hiếm. Trong những đợt sưu tầm tư liệu phục vụ cho địa chí Đồng Nai vào
những năm cuối thập niên 90, thế kỷ XX, chúng tôi có đến một số thư viện tại Hà
Nội (Thư viện Quốc gia, Viện Hán Nôm, Thư viện Quân đội, Viện Sử học Việt Nam)
với mong muốn tìm những tư liệu Biên Hòa - Đồng Nai xưa nhưng tiếc rằng tư liệu
thu thập không nhiều, không có tư liệu về thành cổ Biên Hòa.
Theo một số tư liệu, chúng ta biết rằng, cổ thành Biên Hòa được bắt đầu xây
dựng vào năm 1834. Tư liệu cho biết như sau: Tháng 6, năm 1834, xây đắp thành đất
tỉnh Biên Hòa, 4 mặt thành đều dài 70 trượng, cao 4 thước 3 tấc, dày 1 trượng, mở 4
cửa. Đào hào rộng 2 trượng, sâu sáu thước Quan Khâm sai Đoàn Văn Phú chịu trách
nhiệm trong việc trù tính việc làm. Vua Minh Mạng đồng ý cho việc chọn lấy 1.000
dân trong hạt đứng ra xây đắp số dân làm thành được hậu cấp cho tiền gạo.
Và đến năm 1838, đợt xây dựng với quy mô lớn hơn về thành Biên Hòa được
tiến hành. Tư liệu cho biết: Tháng Giêng năm 1838, xây đắp thành tỉnh Biên Hòa.
Chu vi dài 338 trượng, cao 8 thước 5 tấc, dày 1 trượng 5 thước hào đào rộng 3

33.4 Page 324

▲back to top
trượng, cửa thành có 4 cửa. Vua Minh Mạng sai phát 4.000 binh dân làm việc và lại
cho đây là công trình trọng đại nên phái Vệ úy Vệ tả bảo nhị là Nguyễn Văn Gia,
Thự phó Vệ úy Tiền doanh Long Võ là Phan Văn Lăng, Vệ úy Tả thủy Gia Định là
Lê Văn Tự, Vệ úy Bình Thuận là Tôn Thất Mậu trông coi việc thực hiện.
Ngoài ra còn có một số tư liệu khác cũng nhắc đến thành Biên Hòa với một số
chi tiết khác như: có dựng 1 kỳ đài, mỗi cửa ra vào đều có bắc cầu đá ngang qua hào
để làm lối ra vào, hào rộng 4 trượng, sâu 6 thước, tường thành dày 1 trượng. Một số
giả thuyết cho rằng, thành Biên Hòa được xây dựng trên dấu tích cũ của một thành trì
của dân Lạp Man (Chân Lạp). Theo tác giả Lương Văn Lựu thì đời Gia Long, vào
năm 1816 thì thành Biên Hòa đã được xây. Trước tiên, thành Biên Hòa đắp bằng đất,
sau này, xây bằng đá ong.
Cổ thành Biên Hòa là một công trình phòng thủ quân sự của triều Nguyễn ở
vùng đất Biên Hòa. Hệ thống bố phòng ở Biên Hòa lúc bấy giờ còn có các trạm, lũy,
tấn, đồn thủ tại các nơi xung yếu. (Cũng cần nói thêm: tỉnh Biên Hòa lúc bấy giờ
gồm phủ Phước Long và 4 huyện: Phước Chánh, Phước An, Bình An, Long Thành.
Đối chiếu với địa giới hiện nay thì nó bao gồm các tỉnh hiện nay như: Biên Hòa, Bà
Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước và một phần đất của các quận, huyện
thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Thuận). Ngoài chức năng của một trung tâm
các hoạt động nhiều mặt của xã hội đương thời, cổ thành Biên Hòa đóng góp rất quan
trọng trong việc bố phòng, trấn an vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai. Thành Biên Hòa là
điểm chỉ huy của các cuộc trấn áp đối với sự nổi dậy phá hoại của các tộc người
miền núi không tuân phục triều Nguyễn, triều Nguyễn gọi chung là man sách.
Trong diễn trình lịch sử kế tiếp thành Biên Hòa có vị trí quan trọng của triều
Nguyễn trong việc trấn áp các cuộc nổi dậy mà tiêu biểu là cuộc khởi binh của Lê
Văn Khôi ở Phiên An. Cuộc khởi binh của Lê Văn Khôi vào năm 1833 và bị dập tắt
hoàn toàn vào năm 1835. Trong thời đoạn này, thành Biên Hòa nhiều lần đổi chủ.
Lúc thì quân của Lê Văn Khôi chiếm lấy, sau đó quân của triều Nguyễn chiếm lại. Sự
biến động này không chỉ làm đau đầu triều Nguyễn mà còn làm cho trăm dân của
Biên Hòa lâm vào nạn chiến tranh. Chính từ sau “sự kiện” Lê Văn Khôi, 3 năm sau,

33.5 Page 325

▲back to top
vua Minh Mạng thấy việc xây thành Biên Hòa “là công trình trọng đại”, chuẩn cho
xây thành Biên Hòa và sai phái trách nhiệm cho nhiều vị tướng quân. Tầm quan
trọng của thành Biên Hòa không chỉ bó hẹp trong tỉnh Biên Hòa mà còn của chung
khu vực Đông Nam Bộ. Điều này thể hiện sự phân công của vua Minh Mạng đối với
các vị quan ở Bình Thuận, Gia Định cùng được điều trông coi.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, bởi xu thế chủ hòa của triều Nguyễn lúc
bấy giờ nên dù đại quân được tăng cường đến, sung quân tại chỗ của Biên Hòa đã
không ngăn được bước tiến của quân thù. Cả thành Biên Hòa rơi vào tay giặc và bắt
đầu cho thời đoạn lần sử đau thương dưới sự thống trị ngoại xâm từ Tây phương.
Trong sự kiện này, thành Biên Hòa luôn luôn được đánh giá có một vị trí chiến lược
quan trọng. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thất bại của giai đoạn lịch sử này, nhưng
phải cần nhắc rằng, một địa thế quan trọng trong thời điểm lịch sử này là thành Biên
Hòa đã không được sử dụng đúng với tầm của chính nó.
Trong những giai đoạn lịch sử về sau, thành Biên Hòa gắn với những sự kiện
lịch sử đáng chú ý như trận đánh của nhóm hội kín Lâm Trung trại vào ngày 14 tháng
2 năm 1916. Đại cuộc bất thành, một số nghĩa dõng của nhóm bị quân Pháp dùng
nhiều phương cách bắt và tử hình. Tinh thần yêu nước và quật khởi xem nhẹ cái chết
vì đại nghĩa dân tộc của những người lãnh đạo Lâm Trung trại được người dân Biên
Hòa ghi nhớ, tạc lòng. Những người lãnh đạo nhóm yêu nước bị Pháp tử hình được
nhân dân địa phương thờ phụng tại chùa Bửu Hưng (người dân quen gọi là chùa Cô
Hồn - một trong những di tích đã được tỉnh Đồng Nai xếp hạng).
Khi thực dân Pháp tái chiếm Biên Hòa, lực lượng vũ trang yêu nước Biên Hòa
phối hợp với một số đơn vị khác ở miền Đông Nam Bộ tấn công vào thị xã Biên Hòa
vào đầu năm 1946. Trận đánh lịch sử này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong buổi
đầu kháng chiến chống Pháp của nhân dân Biên Hòa nói riêng và Nam Bộ nói chung.
Tinh thần trận đánh cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào tham gia kháng chiến, bất hợp tác
với giặc của nhiều tầng lớp nhân dân. Diễn biến trận đánh này chúng ta có thể tìm
hiểu chi tiết trong nhiều sinh sử của Biên Hòa - Đồng Nai, trong lý lịch hồ sơ di tích
này. Đây là trận tấn công đầu tiên của lực lượng cách mạng ở Nam Bộ vào một thị xã

33.6 Page 326

▲back to top
kể từ khi thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai.
Ngoài các sự kiện tiêu biểu trên, chúng ta có thể lược nêu những sự kiện khác
liên quan đến thành Biên Hòa trong các thời kỳ lịch sử về sau. Những sự kiện đó gắn
liền với thể chế thính trị đương thời hoặc liên quan tới quá trình đấu tranh kháng
chiến của phong trào yêu nước, phong trào đấu tranh cách mạng. Bởi lẽ, trong thời kỳ
từ 1945 - 1954 hay 1954 - 1975, chính quyền đương thời đã sử dụng và xây dựng
thêm một số công trình trong phạm vi cổ thành Biên Hòa phục vụ các hoạt động, chủ
yếu về an ninh, quân sự: doanh trại, nhà thương, nơi giam giữ, tra khảo, Sở An ninh
quân đội... Và sau ngày giải phóng (năm 1975), chính quyền cách mạng địa phương
tiếp quản và cũng đã tạo nên những đổi thay trong phạm vi của cổ thành để ngành
hậu cần công an hoạt động.
Chúng tôi mạo muội nói dông dài như thế để có cái nhìn về cổ thành này như
thế nào cho thật khách quan. Quả vậy, qua những tư liệu trên, chúng ta nhận thấy rõ
những điểm này:
Ø Về tên gọi, thành Biên Hòa có nhiều tên gọi theo cách dân gian như: thành
Cựu, thành Kèn, thành Xăng Đá. Tên gọi thành Kèn, thành Xăng Đá gắn với thời
Pháp xâm lược, chiếm lấy thành làm nơi tập trung quân lính. Thành Cựu - chúng tôi
nghĩ là người dân Biên Hòa gọi từ khi vua Minh Mạng cho xây thành mới. Có hai
vấn đề đặt ra tại đây: thành Cựu do người dân gọi để chỉ thành do Gia Long cho xây
từ năm 1816 (?) hoặc cũng có thể để gọi thành bằng đất do Minh Mạng cho xây năm
1834. Như vậy, cái tên gọi thành Cựu chỉ xuất hiện trong hai mốc sau: năm 1834
hoặc năm 1838.
Ø Thành Biên Hòa được xây dựng từ tháng 6 năm 1834. Ban đầu thành được
đắp đất với một quy mô vừa phải. Đến năm 1838 mới được xây bằng đá ong. Kiến
trúc hiện tồn như tường thành và một số cấu kiện kiến trúc khác là của di tích cổ
thành xây dựng cách đây 170 năm.
Ø Trải qua nhiều biến cố, thành Biên Hòa có nhiều thay đổi. Âu đó cũng là số
phận chung của vạn vật trong biến đổi dời thay của thời cuộc, xã hội con người. Tổng
thể quy mô thành Biên Hòa nguyên khởi không còn được bảo vệ. Đợt thu hẹp đầu

33.7 Page 327

▲back to top
tiên là khi quân Pháp chiếm đóng năm 1861, chu vi thành Biên Hòa được thu hẹp chỉ
còn 18. Những cấu kết kiến trúc xây dựng sau này trong phạm vi cổ thành dầu đã bị
thu hẹp cũng là những dấu tích có giá trị trong diễn tiến lịch sử của vùng đất Biên
Hòa - Đồng Nai.
Ø Cùng với hệ thống bố phòng khác, thành Biên Hòa là một công trình kiến
trúc quân sự trung tâm có vị thế chiến lược của vùng Đông Nam Bộ trong chính sách
trị an của nhà Nguyễn ở phía Nam của Tổ quốc. Dấu tích cổ thành Biên Hòa ngày
nay có giá trị phản ánh được một trong những chiều kích lịch sử trong diễn trình lịch
sử của Biên Hòa - Đồng Nai. Ngày nay, trong các thành trì chung của nhà Nguyễn ở
Nam Bộ, thành Biên Hòa có lẽ là duy nhất còn để lại những dấu tích cấu kết kiến trúc
lớn, khá đặc sắc.
Ø Chúng ta cũng đừng quên rằng cổ thành Biên Hòa được xây dựng là một
đóng góp to lớn của các thế hệ tiền nhân tại Biên Hòa. Trong buổi đầu xây dựng
thành bằng đất (năm 1834/1.000 người). Và xây bằng đá ong (năm 1838/4.000 người
có tổng cộng 5.000 lượt người dân tại Biên Hòa tham gia xây dựng. Đó là thành quả
lao động của người dân Biên Hòa - Đồng Nai xưa. Vật liệu xây dựng thành Biên Hòa
năm 1838 là vật liệu tại chỗ của Biên Hòa. Loại đá ong với những tảng lớn (hiện nay
còn lại một số cạnh tường thành) cho thấy chúng được khai thác vận chuyển khá kỳ
công mà người dân Biên Hòa đã thực hiện. Theo một tài liệu thống kê những năm
đầu thế kỷ XX, thì Biên Hòa có hằng trăm chỗ khai thác loại đá ong này nhưng đặc
biệt là các làng: Bình Đa, Nhựt Thanh, Tân An, Tân Bản, Bình Dương, Long Điềm,
Phước Tân, An Lợi, Bình Ý, Tân Mai, Vĩnh Cửu, Tân Phong, Bình Thành, Long
Thuận, Phước Long, Phước Kiêng. Nhân đây xin được nói thêm rằng, trước đây, khi
nhà Nguyễn tiến hành xây thành Bát quái tại Gia Định có ba lớp bảo vệ thì lớp trong
cùng được xây bằng loại đá ong Biên Hòa (cao 13 thước, chân tường dày 7 trượng 5
thước).
Xin được nêu lên vấn đề quy đổi đơn vị tính mét theo hiện nay. Trong hồ sơ lý
lịch di tích quy đổi ra như thế này: “chu vi 338 trượng = 1.784,8 m, cao 8 thước 5 tấc
: 3,91 m, dày 1 trượng = 4, 6 m, hào rộng 4 trượng = 16,4 m, sâu 6 thước = 2,76 m -

33.8 Page 328

▲back to top
dẫn theo cách tính trong Địa bạ triều Nghiên của tác giả Nguyễn Đình Đầu. Trong
Địa chí Đồng Nai (tập III, trang 180) khi đề cập thành Biên Hòa cho biết: “chu vi
338 trượng (khoảng 1.350 m), tường cao 8 thước 5 tấc (khoảng 3,4 m), dày 1 trượng
(4 m), hào rộng 4 trượng (16 m), sâu 6 thước (2,4 m)” .
Chúng tôi xin tóm lược dẫn lại một cách tính mà tác giả là Nguyễn Đình Đầu
nêu trong Địa chí Thành phố Hồ Chí Minh (Nxb TP.HCM 1987). Qua nhiều tư liệu
(Sách Quan chế của Paulus Của năm 1888, Tự điển Tabert năm 1838 - từ điển này
sử dụng tư liệu của một từ điển do Bá Đa Lộc và Hồ Văn Nghị soạn từ trước năm
1790) đã phỏng đoán rằng thước dùng ở Gia Định là thước mộc, quy đổi 1 thước mộc
dài 0m487. Nhưng loại thước này chỉ dùng cho đến năm 1805. Sau khi Nguyễn Ánh
lên ngôi đặt hiệu là Gia Long đã lấy thước cũ thời Lê để định chuẩn chung cho cả
nước phải sử dụng, đó là “quan mộc xích”, thước này dài 0m424.
Thiết nghĩ rằng, thước này vẫn được dùng trong thời vua Minh Mạng. Thành
Biên Hòa xây dựng trong thời Minh Mạng nên cách tính, ghi chép theo định chuẩn
thước này. Như vậy, khi lấy chuẩn, 1 trượng bằng 4m24, 1 thước bằng 0m424, chúng
ta sẽ lược đổi được những thông số về thành Biên Hòa như sau: chu vi 338 m
(khoảng 1.433,12 m), tường cao 8 thước 5 tấc (khoảng 3,604 m), dày 1 trượng
(khoảng 4,24 m), hào rộng 4 trượng (khoảng 16,96 m), sâu 6 thước (khoảng 2,544
m). Ý kiến này chúng tôi nêu như một sự tham khảo và rất mong được sự giúp đỡ cho
biết thêm của các nhà nghiên cứu.
***
Trên những cơ sở dữ liệu trên, chúng tôi cho rằng dấu tích kiến trúc cổ thành
Biên Hòa hiện tồn trong nội ô Biên Hòa hiện nay (phường Quang Vinh) là một di tích
lịch sử cần được bảo vệ, tôn tạo và phát huy trong đời sống hiện tại. Sự tồn tại của
những dấu tích kiến trúc này là một điều may mắn và tự hào cho địa phương, các nhà
quản lý chuyên ngành trong công tác bảo vệ. Mọi sự so sánh đều khập khiễng nhưng
nhân đây, chúng tôi cũng muốn có đôi lời về sự kiện liên quan đến thành cổ Thăng
Long trong một khía cạnh. Cổ thành Biên Hòa không có bề dày như hoàng thành của
vùng kinh kỳ Thăng Long. Nhưng phải mất thời gian và công sức, phải khai quật từ

33.9 Page 329

▲back to top
lòng đất mới tìm thấy vết tích hoàng thành; trong khi ở Biên Hòa, dấu tích lộ thiên
trên mặt đất. Diễn trình của vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai chỉ hơn 300 năm có lẻ thì
thành Biên Hòa đã tồn tại 170 năm. Các di tích vật thể loại hình thành từ thời Nguyễn
ở Nam Bộ hầu như không còn để lại dấu tích kiến trúc như thành Biên Hòa. Vì vậy,
khi bảo vệ di tích này, đây sẽ là một loại hình di tích độc đáo của cả Nam Bộ và có
thể phát huy tác dụng hiệu quả cao giá trị của thúng trong các hoạt động liên quan.
Nhưng chúng ta bảo vệ như thế nào? Đó chính là câu hỏi không kém phần
quan trọng. Theo chúng tôi được biết, việc bảo vệ di tích này còn có những chỗ
“vướng nhau” trong công tác quy hoạch đô thị. Khi xã hội phát triển bao giờ cũng có
những vấn đề nảy sinh giữa công việc bảo vệ di sản và phát triển mà quan trọng là
phát triển đô thị, khi nguồn đất là yếu tố cần thiết. Giá trị di sản là vô cùng quan trọng
nhưng không phải vì thế mà nó cản trở cho sự phát triển; song cũng không phải vì
phát triển bằng mọi giá mà chúng ta phá bỏ giá trị di sản. Những thiệt hại về kinh tế
chúng ta có thể khắc phục được dù có mất nhiều thời gian nhưng giá trị di sản thì
không thể. Vì vậy qua một số tư liệu chúng tôi tham khảo, một số nơi khi tiến hành
quy hoạch phát triển, công tác điều tra di sản thường được thực hiện trước. Đối với di
tích thành cổ Biên Hòa, chúng tôi đề nghị giữ nguyên hiện trạng của di tích trong hồ
sơ quanh vùng bảo vệ. Như thế, có nghĩa một số chi tiết về quy hoạch đô thị liên
quan đến di tích thành Biên Hòa cần được điều chỉnh. Hẳn mọi công dân của Biên
Hòa sẽ rất vui sướng khi thấy thành phố Biên Hòa phát triển với những quy hoạch
khoa học, hiện đại. Và người dân sẽ càng tự hào hơn nữa khi trong đô thị hiện đại ấy
bảo lưu những giá trị di sản độc đáo của nơi mình đang sống. Một khoảng của chiều
kích lịch sử gắn liền với công sức của tiền nhân, những sự kiện lịch sử được hiển hiện
trong lòng một đô thị mới và giá trị di sản ấy được giữ gìn cho muôn đời sau dù cuộc
sống, xã hội có phát triển đến mức nào.
Di tích thành cổ Biên Hòa được bảo vệ sẽ làm phong phú thêm danh mục di
tích của thành phố Biên Hòa và là một loại hình di tích độc đáo. Trong tương lai,
chắc chắn thành phố Biên Hòa sẽ phát triển hơn hiện tại. Hiện nay, thành phố Biên
Hòa đã là đô thị loại II trải qua 11 năm (1993-2004). Hoạt động văn hóa thành phố

33.10 Page 330

▲back to top
này chắc chắn sẽ phát triển theo hướng tích cực và tất yếu phù hợp với sự phát triển
chung cua địa phương. Vì vậy, di tích thành cổ Biên Hòa sẽ có cơ hội, điều kiện
thuận lợi để phát huy hơn. Chúng tôi cũng mạo muội nêu lên ý kiến này: chúng ta có
thể tôn tạo, sử dụng những cấu kết kiến trúc trong phạm vi di tích thành Biên Hòa
thành bảo tàng và hình thành một điểm sinh hoạt văn hóa của thành phố Biên Hòa.
Bộ sưu tập súng thần công, đại bác hiện nay tại Bảo tàng Đồng Nai chuyển về đây
trưng bày sẽ tăng thêm ý nghĩa, giá trị của chúng. Nội dung cấu kết trình bày tại di
tích sẽ rất phong phú khi thể hiện lịch sử của vùng đất Biên Hòa và tôn vinh những
danh tướng có công với xứ sở này. Đây cũng có thể được xem như một Võ miếu -
vốn di tích là thành trì quân sự, trong khi chúng ta đã xây dựng một công trình văn
hóa - Văn miếu.
Ths Phan Đình Dũng
Ø Tài liệu tham khảo
1 Tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai. Địa chí Đồng Nai (tập I, III). Nxb
tổng hợp Đồng Nai, 2001.
2. Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam nhất thống chí (tập 5). Nxb Thuận
Hóa, Huế, 1992.
3. Ban chấp hành Đảng bộ Đồng Nai. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đồng Nai (tập l).
Nxb Đồng Nai, 1997.
4. Giáo sư Trần Văn Giàu chủ biên. Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh
(tập lịch sử). Nxb TP. HCM, năm 1987.
5. Trịnh Hoài Đức. Gia Định Thành thông chí (tập Thượng, Trung, Hạ). Bản
dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo, Nha văn hóa, Phủ Quốc Vụ khanh đặc trách Văn hóa
xuất bản, năm 1973.
6. Cuộc khởi binh của Lê Văn Khôi ở Gia Định 1833-1835. Nxb To. Hồ Chí
Minh, 1991.
7. Viện Sử học, Tiễu phỉ Nam Kỳ (viết gọn). Tài liệu đánh máy tham khảo năm
1997.

34 Pages 331-340

▲back to top

34.1 Page 331

▲back to top
8. Phan Đình Dũng, Dấu tích Biên Hòa xưa. Tạp chí Sông phố, 1998.
9. Và một số tài liệu khác lưu tại Bảo tàng Đồng Nai.
Xây dựng – giữ gìn và phát huy các giá trị di sản văn hóa
trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
1. Vài nét về vùng đất, con người
Đồng Nai là đơn vị hành chánh cấp tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ của Việt
Nam, nằm vị trí 100 22’30” đến 100 36” vĩ Bắc và 1070 l0” đến 1060 4’15” kinh
Đông; là vùng đất nối liền giữa Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên.
Tỉnh Đồng Nai có diện tích 5.862,37 km2, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên của
cả nước và 25,5% diện tích tự nhiên vùng Đông Nam Bộ, giữ vị trí quan trọng trong
vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam của đất nước. Đồng Nai là tỉnh có nhiều
thành phần dân tộc cộng cư. Cư dân Đồng Nai có tinh thần đoàn kết, cần cù trong lao
động và kiên cường trong công cuộc giải phóng dân tộc. Xuyên suốt lịch sử giải
phóng dân tộc, nhân dân Đồng Nai đã anh dũng, kiên cường vượt qua mọi khó khăn,
gian khổ tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Chặng đường
đầy thử thách, gian nan nhưng rất hào hùng ấy đã thấm đượm biết bao sự hy sinh của
nhiều thế hệ Đồng Nai, góp phần làm nên trang sử vàng của vùng đất Miền Đông
gian lao mà anh dũng.
Với bề dày về văn hóa, truyền thống và ưu thế chiến lược trong vùng trọng
điểm phát triển kinh tế Đồng Nai là vùng đất đầy năng động trong xu hướng phát
triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay. Kinh tế Đồng Nai sẽ phát triển một khi
chúng ta khai thác đúng tiềm năng vốn có của nó, song cũng phải nhìn nhận rằng, với

34.2 Page 332

▲back to top
những đặc điểm về dân cư, việc xây dựng, giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa trên
địa bàn Đồng Nai đặt ra những vấn đề cần giải quyết một cách thấu đáo. Trong phạm
vi bài viết này, chúng tôi đề cập công tác xây dựng, giữ gìn và phát huy các giá trị di
sản trong đời sống tinh thần trên địa bàn tỉnh Đồng Nai với mong muốn góp phần vào
trong việc: “xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” theo định
hướng của Đảng, Nhà nước ta, mà cụ thể là ở địa bàn Đồng Nai.
2. Xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh
Bề dày của văn hóa vùng và truyền thống cách mạng địa phương là niềm tự
hào song cũng vừa là trách nhiệm của con người Biên Hòa - Đồng Nai trong hiện tại.
Do đặc điểm về dân cư trong quá khứ cũng như hiện tại, Đồng Nai luôn luôn là một
vùng đất mở nên đã, đang và sẽ đón nhận đối với nhiều bộ phận dân cư từ mọi miền
đến sinh sống, làm việc. Tính chất mở này làm cho Đồng Nai đa dạng những sắc thái
trong đời sống văn hóa. Về mặt xã hội thì đặc điểm mở này tác động đến đời sống
tinh thần chung của cộng đồng tại chỗ trước đây và quá trình hội nhập đã xảy ra và về
sau. Những yếu tố tích cực làm cho đời sống tinh thần xã hội Đồng Nai phong phú
nhưng đồng thời những yếu tố tiêu cực lại tạo nên những ảnh hưởng không nhỏ trong
xã hội. Vì vậy việc xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh cần phải thực hiện
thường xuyên và trên cơ sở tính chất, đặc điểm của địa bàn, của dân cư.
Những điều kiện phát triển kinh tế thị trường đã tác động nhiều mặt trong đời
sống xã hội mà trong đó có cả tích cực và tiêu cực. Về mặt tiêu cực thì những tệ nạn
xã hội, lối sống lệch chuẩn, trái thuần phong mỹ tục, mê tín dị đoan... vẫn tồn tại
(những sự việc, vấn đề mà báo chí đã nêu lên nhiều). Một thời đoạn, chúng ta đã ra
sức bài trừ nhưng kết quả chỉ trong chừng mực nhất định. Đề cập đến những điều
này, không phải chúng ta phủ nhận những kết quả đã đạt được trong công việc xây
dựng đời sống văn hóa trong thời gian qua mà để cần nhận thấy những thiếu sót,
cách làm không triệt để hay chưa hiệu quả để có những bước đi đúng và thiết thực
hơn.
Trong thời gian qua, ngành Văn hoá thông tin Đồng Nai đã có nhiều nỗ lực
trong việc xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, đem lại nhiều lợi ích thiết thực

34.3 Page 333

▲back to top
cho đời sống tinh thần của quần chúng. Những thiết chế văn hóa cơ sở được hình
thành, cơ sở hạ tầng được xây dựng nhưng cũng chưa đồng bộ do nhiều yếu tố khách
quan và chủ quan. Hiện nay, trên các địa bàn cơ sở, các ngành, các cấp phối hợp, vận
động thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã góp
phần trong những chuyển biến tích cực của đời sống xã hội. Những con số cụ thể từ
thống kê, báo cáo nói lên được những thành quả trong công cuộc xã hội hoá hoạt
động văn hóa. Những sinh hoạt văn hóa, phong trào hành động được phát động, nhân
kỷ niệm lễ, Tết... như: Về nguồn, sinh hoạt truyền thống, tìm hiểu... cho mọi lứa tuổi,
mọi giới, các tổ thức ban, ngành, đoàn thể giúp tho nhiều người hiểu thêm về văn
hoá, đem lại những sân chơi bổ ích cho đời sống tinh thần của người dân. Đó là nỗ
lực phối hợp của các cấp chính quyền, các tổ chức trong hệ thống chính trị trong việc
xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh.
Thế nhưng, những điều đó vẫn chưa đủ khi chúng ta chỉ lừng lại ở dạng phong
trào, hoặc chăm chú chạy theo thành tích mà nhiều lúc xem nhẹ chất lượng thật sự
của chúng. Khi xây dựng một một trường văn hóa lành mạnh ở Đồng Nai, chúng ta
cần phải dựa trên những nét đặc thù của địa phương, của từng cụm dân cư. Muốn có
một môi trường văn hoá lành mạnh, trước hết phải có một môi trường xã hội lành
mạnh, gia đình văn hóa đúng nghĩa. Môi trường văn hóa gắn liền với môi trường sinh
hoạt và công tác của tập thể, cộng đồng dân cư... Trên những tiêu chuẩn chung được
qui định, chúng ta phải nhận thấy loại hình nào thích hợp cho việc tuyên truyền, xây
dựng và vận động cho từng địa bàn, đối tượng, ví như khu dân cư đô thị, địa bàn
đồng bào có đạo, khu dân cư nông thôn, khu đồng bào thiểu số khu công nhân... Các
ngành chức năng trong quản lý Nhà nước cần củng cố, hoàn thiện những thiết chế
văn hóa cơ sở (nhà văn hóa, phòng truyền thống, bưu điện văn hóa, thư viện, câu lạc
bộ...), khuyến khích các hình thức sinh hoạt văn hóa (hội diễn văn nghệ, hội thi, lễ
hội...) theo hướng chủ động và tính tự quản của người dân dưới sự hướng dẫn của cơ
quan chức năng. Chúng ta vừa “xây” dựng môi trường văn hoá đồng thời phải
“chống” lại những hiện tượng, tệ nạn xã hội đi ngược lại văn hoá. Phương châm của
chúng ta khi thực hiện là “xây” phải đi đôi với “chống”; xây là biện pháp cơ bản và
chống thì phải thực hiện triệt để. Nếu không thực hiện đồng bộ thì không bao giờ

34.4 Page 334

▲back to top
đem lại kết quả.
Xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh là một nhiệm vụ có quan hệ
khắng khít với việc xây dựng con người, là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Nói
như thế, không có nghĩa chúng ta xem nhẹ trách nhiệm của ngành văn hóa mà chính
ngành văn hóa phải đi đầu trong trách nhiệm ấy, một chức năng mà Nhà nước đã
giao phó. Trên tinh thần định hướng của Đảng, Nhà nước ta về văn hóa, ngành văn
hóa phải nỗ lực hết mình, hoàn thành được nhiệm vụ, điều đó, đòi hỏi cán bộ làm văn
hóa phải đặt cao tinh thần trách nhiệm, có trình độ, năng lực và cái tâm vì sự nghiệp
văn hóa.
3. Giữ gìn, phát huy các giá trị di sản văn hóa
Trong diễn trình của một dân tộc di sản văn hóa đóng một vai trò rất quan
trọng vì nó là nguồn lực nội sinh cho quá trình tiếp biến, phát triển văn hóa. Di sản
văn hóa tạo nên ký ức văn hóa của mỗi dân tộc mà chức năng của nó là tạo nên bức
chân dung tự họa của dân tộc, yếu tố cơ bản tạo thành bản sắc văn hóa dân tộc. Việt
Nam là một đất nước có lịch sử lâu đời, đã để lại một di sản lịch sử to lớn và vô cùng
quí giá. Trong sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến bảo vệ,
phát huy vốn di sản văn hóa nói chung.
Đồng Nai là một trong những tỉnh phía Nam chứa đựng nhiều giá trị di sản văn
hóa. Về di sản vật thể hiện nay Đồng Nai có nhiều di tích lịch sử được xếp hạng với
đa dạng về loại hình: khảo cổ lịch sử kiến trúc, tín ngưỡng, lưu niệm danh nhân,
truyền thống cách mạng... Bên cạnh đó còn hàng trăm, hàng nghìn di tích khác cũng
không kém phần quan trọng đã góp phần tạo nên một diện mạo văn hóa Đồng Nai
qua quá trình hình thành phát triển của vùng đất này. Về di sản văn hóa phi vật thể
mảnh đất Đồng Nai còn ẩn chứa nhiều giá trị mà chính thúng ta hôm nay chưa khai
thác, bảo vệ toàn vẹn. Những giá trị văn hóa ấy vẫn còn đặt lên vai của những người
làm công tác văn hóa nói chung, bảo tồn bảo tàng nói riêng trong sự bảo vệ và phát
huy chúng.
Ngành văn hóa thông tin đã có nhiều nỗ lực trong việc bảo vệ các giá trị di sản
văn hóa. Ngoài các di tích đã được liệt hạng, trên địa bàn tỉnh chúng ta đã thực hiện

34.5 Page 335

▲back to top
điều tra, kiểm kê phổ thông và tiến hành lập hồ sơ khoa học cho nhiều di tích khác.
Bên cạnh đó, trong các hoạt động hàng năm, nhiều di tích xuống cấp được Nhà nước
(nguồn Trung ương và địa phương) đầu tư kinh phí để trùng tu, bảo tồn. Tại một số di
tích, các cơ quan chức năng thực hiện công tác trưng bày (Chiến khu Đ, Nhà Xanh,
Nhà lao Tân Hiệp) để phục vụ cho nhu cầu tuyên truyền, giáo dục. Loại hình văn hóa
phi vật thể (lễ hội, phong tục, tập quán, các loại hình nghệ thuật hát, múa nhạc cũng
được quan tâm sưu tầm để bảo lưu như: Di sản Hán - Nôm trong đình, chùa Biên
Hòa; Lễ hội đâm trâu cửa người Châu Mạ; Nghệ thuật hát, múa, nhạc của người
Châu Ro, Châu Mạ; Chuyện kể, loại hình hát kể các dân tộc thiểu số bản địa; Tín
ngưỡng và lễ hội người Hoa...
Những kết quả trên cho thấy, chúng ta đã không quay lưng lại với giá trị di sản
văn hóa bằng những hành động thiết thực. Thế nhưng, do nhiều yếu tố tác động, công
tác bảo vệ và phát huy các di sản văn hóa này chưa thật sự được quan tâm đúng mức.
Nhiều di tích lịch sử còn quản lý thiếu chặt chẽ tình trạng di tích xuống cấp chưa
được trùng tu, tôn tạo kịp thời hoặc trùng tu chưa tương xứng, chưa thật sự khoa học,
trong đó có những yếu tố vượt khỏi tầm quản lý của ngành văn hóa. Về di sản văn
hoá phi vật thể, ngành văn hóa thực sự chỉ mới bước đầu trong việc nghiên cứu bảo
tồn trong khi chúng đứng trước những nguy cơ mai một thật sự; những giá trị sưu tầm
chỉ chiếm một phần khiêm tốn trong khối lượng lớn trước nguy cơ mất đi vĩnh viễn;
khối tài sản vô giá này chưa được đánh giá, quan tâm đến độ. Bên cạnh đó, mặt trái
của sự phát triển kinh tế thị trường luôn làm cho các giá trị truyền thống đối mặt với
những nguy cơ tha hoá vì khuynh hướng thương mại hóa, đầu cơ và lợi dụng văn hóa
để trục lợi.
Bảo vệ các giá trị di sản là một việc làm thiết thực nhưng chỉ dừng ở đó cũng
chưa đủ. Vấn đề đặt ra là chúng ta làm sao phải phát huy những giá trị trong đời sống
hiện tại, phục vụ cho đời sống tinh thần của đại bộ phận quần chúng, để biến những
giá trị này thành động lực để phát triển đất nước. Để những giá trị di sản luôn sống,
chúng ta không chỉ thực hiện công tác bảo tồn mà còn phải tuyên truyền giáo dục,
phổ biến kiến thức về giá trị di sản văn hóa bằng nhiều loại hình phong phú, đa dạng

34.6 Page 336

▲back to top
đến với mọi người. Chúng ta cần lưu ý quan tâm đến việc đẩy mạnh giao lưu văn hóa
với các địa phương trong nước và ngoài nước khi có điều kiện thuận lợi. Trong điều
kiện đất nước mở cửa giao lưu, hội nhập về kinh tế, văn hóa nước ta ngày càng gắn
bó chặt chẽ với đời sống văn hóa khu vực và thế giới. Đây là một tiến trình hai chiều.
Chúng ta chủ động giới thiệu những giá trị di sản văn hóa đến với bè bạn khắp năm
châu song song với việc tiếp nhận những cái hay, cái đẹp, cái tiên tiến từ các nước
khác để bồi đắp cho nền văn hóa nước nhà phát triển đồng thời kiên quyết ngăn chặn
những ảnh hưởng tiêu cực nhân cơ hội xâm nhập vào.
Việc giao lưu, hợp tác trong thời gian qua chúng ta thực hiện chưa thật sự đem
lại kết quả. Trong bình diện của nước nhà, chúng ta chỉ mới dừng lại giới thiệu tiềm
năng về kinh tế là chủ yếu mà chưa chú trọng đến giới thiệu các giá trị văn hóa.
Chúng ta chỉ mới thực hiện có tính chất đơn điệu trong khu vực Đông Nam Bộ mà
chưa thật sự nắm bắt cơ hội quảng bá rộng rãi, duy trì thường xuyên. Đối với quốc tế
thì càng ít hiệu quả hơn nhiều. Ngành bảo tồn bảo tàng thì mới hợp tác (chưa ở thế
chủ động) trong một số công trình nghiên cứu. Nhưng phải nhìn nhận rằng, việc giao
lưu, hợp tác đem lại hiệu quả cao trong việc phát huy các giá trị di sản văn hóa.
Thông qua hợp tác (cụ thể với trường Đại học Chiêu Hòa, Nhật Bản), vốn di sản nhà
cổ ở Đồng Nai được kiểm kê và một trong số di tích được kiểm kê (nhà cổ Trần Ngọc
Du ở Tân Vạn) được trừng tu, tôn tạo. Qua đó chúng ta học được nhiều bài học từ
cách quản lý, cách thức trùng tu đối với di tích lịch sử. Không những thế, chính
những người làm khoa học Nhật Bản lại giới thiệu vốn di sản của Đồng Nai đến đất
nước họ. Lấy một ví dụ ấy để cho chúng ta nhận thấy sự hợp tác, giao lưu đúng nghĩa
của nó là một việc làm hết sức cần thiết và đem lai hiệu quả cao trong việc phát huy
giá trị di san.
Chúng ta đã bỏ qua quá nhiều cơ hội thuận lợi để thực hiện quảng bá văn hóa
địa phương. Thử hỏi trong thời điểm Việt Nam tổ chức SEA GAMES lần thứ 22 vừa
qua, chúng ta đã làm được gì để tận dụng chúng quảng bá cho văn hóa Đồng Nai. Có
bao nhiêu công trình, tập sách giới thiệu tuyên truyền cho văn hóa Đồng Nai được
xuất bản, ấn hành quảng bá đến công chúng trong nước, với quốc tế, khu vực khi mà

34.7 Page 337

▲back to top
xu hướng phát triển du lịch hiện nay đang gắn liền với việc khai thác di sản văn hóa.
Bản thân chúng tôi đã từng đã đi nhiều nhà sách nhưng quả thật, tìm một dầu sách về
văn hóa Đồng Nai trên các giá kệ bày sản phẩm thì hầu như cực hiếm. Dường như
chúng ta luôn luôn chậm không chịu nắm bắt những cơ hội như thế này. Thật đáng
tiếc.
Công việc bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa cũng chính là một hình thức “xây”
môi trường đời sống tinh thần có trách nhiệm cho cộng đồng đối với tài sản chung
của dân tộc.
Giá trị di sản văn hóa không cần phải nhắc lại ai cũng hiểu là tài sản vô giá của
quốc gia. Điều quan trọng là chúng ta đã có thái độ đối xử cách thức sử dụng với tài
sản đó như thế nào? Trong suốt sự nghiệp cách mạng Đảng, Nhà nước ta luôn quan
tâm đến việc bảo tồn, phát huy chúng trong công cuộc xây dựng đất nước. Trước
những thuận lợi để phát triển và cả những nguy cơ làm phương hại đến giá trị di sản,
Nghị quyết V của Trung ương Đảng khóa VIII đã chỉ ra những mục tiêu cụ thể,
phương châm của chúng ta tiến hành xây dựng một “nền văn hóa Việt Nam tiên tiến
dậm đà bản sắc văn hóa dân tộc”.
Ở Đồng Nai chúng ta đã làm được gì? Khi nhắc lại những kết quả đạt được
trong thời gian qua, chúng ta có quyền tự hào nhưng đừng ru mình trong đó mà quên
rằng công việc xây dựng, bảo vệ và phát huy giá trị di sản là một việc làm luôn được
duy trì thường xuyên. Khi nêu lên những mặt yếu kém trong quản lý thực hiện không
phải chúng ta phủ nhận tất cả thành tựu mà chúng ta đã làm được mà để qua đó
chúng ta nhận được những bài học kinh nghiệm để quản lý tốt hơn, làm tốt hơn công
nhiệm vụ mà Nhà nước giao phó.
Dẫu có nói nhiều đến nguyên nhân, các yếu tố khách quan chăng nữa, thì trước
hết, chúng ta phải nhận thức rằng, trách nhiệm chính vẫn thuộc về những con người
làm công tác văn hóa, mà cụ thể ở địa phương là trách nhiệm của ngành văn hóa. Bảo
tồn các giá trị di sản văn hóa là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp bách trong
giai đoạn hiện nay, nhất là trong xu thế đất nước ta, tỉnh Đồng Nai “mở cửa” hội
nhập để phát triển. Lý luận chúng ta đã có, hãy bắt tay vào làm một cách khoa học và

34.8 Page 338

▲back to top
tâm huyết. Xin được mượn lời của một bài hát để kết: Làm văn hóa cũng “cần có một
tấm long”.
Ths Phan Đình Dũng
Bảo tồn và phát triển văn hóa phi vật thể ở Đồng Nai
Căn cứ - vào dạng tồn tại của sản phẩm hay giá trị văn hóa, người ta thường
phân loại thành “văn hóa vật chất” và văn hóa “phi vật chất” (“physical culture” và
“non - physical culture”). Gần đây, UNESCO sử dụng thuật ngữ “tangible culture”
(văn hóa phi vật thể), dùng thuật ngữ nào thì văn hóa phi vật thể cũng được hiểu: đó
là sáng tạo truyền thống của một cộng đồng văn hóa được thể hiện bởi một nhóm cá
thể và được nhìn nhận như là những khát vọng của cộng đồng; chúng phản ánh bản
sắc văn hóa và xã hội của nó. Những chuẩn mực và giá trị của folklore được truyền
miệng bằng cách mô phỏng, bắt chước cùng các biện pháp khác. Hình thức của
folklore cùng với những thứ khác có ngôn ngữ, văn học, âm nhạc, múa, trò chơi, thần
thoại, nghi lễ, phong tục, nghề thủ công, kiến trúc và các nghệ thuật khác...
Do tính chất của mình, văn hóa phi vật thể được truyền miệng, lưu giữ trong trí
nhớ, tình cảm, tư tưởng của chủ nhân nên nó chiếm vị trí quan trọng trong tổng thể
văn hóa dân tộc và rất dễ mai một, nếu không chú ý bảo tồn và phát triển. Nhận thức
được ý nghĩa như vậy, UNESCO đã có một chương trình bảo vệ và phát huy “di sản
văn hoa phi vật thể” (The intangible culture heritage) trên phạm vi toàn cầu. Nhiều
hội nghị quốc tế mở ra được đông đảo các nhà khoa học hưởng ứng.
Và các nhà khoa học đều nhìn nhận vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan trọng của văn
hóa phi vật thể và nỗ lực phối hợp cùng nhau trong việc bảo tồn, phát huy vốn quý
này. Tính cấp thiết của văn hóa phi vật thể các dân tộc trên thế giới đều giống nhau
nhưng nó biểu hiện khác nhau trong đời sống của mỗi dân tộc. Vì thế, mỗi quốc gia
đều chọn cho mình con đường và cách tiếp cận phù hợp. Hiện nay, các quốc gia trong
khu vực châu Á - Thái Bình Dương (giàu cũng như nghèo, phát triển cũng như chưa

34.9 Page 339

▲back to top
phát triển) đều chương trình hóa các hoạt động bảo vệ phát huy văn hóa phi vật thể ở
các lĩnh vực, ngôn ngữ, nghệ thuật biểu diễn, truyền thống truyền miệng, phong tục
tập quán, nghề thủ công, kinh nghiệm sản xuất; quan niệm về ăn, mặc ở, chữa bệnh...
Ngay ở địa bàn của mỗi nước, văn hóa phi vật thể cũng biểu hiện không đồng nhất
trong các cộng đồng dân tộc cho nên việc bảo tồn, phát huy nó ở từng vùng, từng dân
tộc cũng có biện pháp và chính sách không giống nhau trên cơ sở chương trình thống
nhất của quốc gia. Cách làm của Nhật, Trung Quốc, Singapore... được nêu thành kinh
nghiệm quý.
Ở Việt Nam, vấn đề bảo tồn, phát huy ới sản văn hóa dân tộc được nêu nhiều
trên sách báo nhưng còn bề bộn công việc phải làm trên thực tế. Sự mai một dần của
những giá trị văn hóa phi vật thể được khua chuông báo động nhiều lần, nhưng cho
đến nay vẫn chưa có một chương trình quốc gia mang tính khả thi nhằm làm kim chỉ
nam cho các vùng, các tỉnh cùng thực hiện cho thống nhất và phù hợp thực tế. Điểm
riêng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, một tỉnh vùng kinh tế trọng điểm cũng thấy đủ thực
trạng và cấp thiết của việc bảo tồn và phát huy văn hóa phi vật thể mang hình bóng
của cả nước.
Nhà Bè nước chảy phân hai
Ai về Gia Đình, Đồng Nai thì về.
Câu ca ấy cho thấy, từ xa xưa mảnh đất Đồng Nai đã có lực thu hút khách
phương xa, không phải vì lý do kinh tế. Có một vẻ đẹp thuộc lĩnh vực phi vật thể
khiến cho Đồng Nai bén duyên với người xa xứ:
Rồng chầu ngoài Huế
Ngựa tế Đồng Nai
Nước sông trong đổ lộn sông ngoài
Thương người xa xứ lạc loài tới đây
Đến đây thì ở lại đây
Bao giờ bén rễ xanh cây thì về.

34.10 Page 340

▲back to top
Cho nên, khi nói Đồng Nai giàu đẹp người địa phương cũng như khách phương
xa đều cảm nhận vẻ đẹp ở tấm lòng quí hơn sự giàu có về sản vật, của cải. Vẻ đẹp ấy
là vốn tim là niềm tự hào của Đồng Nai, trong nó mang bóng dáng, cốt cách, tâm hồn
của dân tộc Việt Nam. Trải qua bao năm tháng, nó được duy trì và phát triển trong tư
tưởng tình cảm con người, bằng mắt bằng tay không thể thấy được, không thể sờ
được. Nay, trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển xã hội theo hướng công
nghiệp hóa - hiện đại hóa, liệu vốn quí ấy còn mất. Nó được biểu hiện như thế nào?
Sẽ ra sao? Đó là điều xã hội đang quan tâm nhưng câu trả lời đang còn nhiều ẩn số.
Tỉnh Đồng Nai hiện nay chỉ là một phần của xứ Đồng Nai nổi danh khi xưa.
Tên hành chính có thay đổi, đơn vị hành chính nhiều lần tách nhập nhưng xứ Đồng
Nai vẫn là vùng văn hóa không thể chia cắt trong đời sống tinh thần của người địa
phương. Di chỉ khảo cổ cho thấy con người có mặt ở đây từ nhiều nghìn năm trước,
là chủ nhân của nền văn hóa rực rỡ với sáng tạo phong phú và trình độ chế tác cao.
Người Việt chuyển đến sinh sống muộn hơn, có thể rải rác từ trước năm 1650, đến
năm 1679 có sự xuất hiện của tập đoàn người Hoa Trần Thượng Xuyên; năm 1698
chúa Nguyễn mới sai Nguyễn Hữu Cảnh vào khai sinh hành chánh cho vùng đất này.
Tiếp đó, nhiều đợt di dân từ Ngũ Quảng, từ châu thổ sông Hồng vào lập nghiệp ở xứ
Đồng Nai với nhiều lý do khác nhau. Người Việt từ nơi xa chuyển đến Đồng Nai
mang theo hình bóng quê hương mình tạo thành cộng đồng đa sắc thái văn hóa cho
xứ Đồng Nai.
Đặc điểm đáng chú ý của văn hóa xứ Đồng Nai là sự đan xen, hội nhập của
nhiều nguồn văn hóa trên cơ sở kết tinh cái đẹp, cái phù hợp của các giá trị văn hóa
khắp nơi trong nước tạo thành bản sắc, rộng mở, năng động, nhạy cảm với cái mới,
tiếp thu nhanh khoa học kỹ thuật, dễ hòa nhập với thiên nhiên và cộng đồng; và do
vậy cũng dễ biến đổi, thu nhận cả cái tốt lẫn cái xấu... Đặc điểm này mang đường nét
bản sắc văn hóa Việt Nam đang trên đường giao lưu, hội nhập với thế giới. Từ
ngưỡng cửa này, có thể hình dung diện mạo của một nền văn hóa hiện đại, đậm đà
bản sắc dân tộc, kết tinh được tinh hoa văn hóa nhân loại mà chúng ta đang cần
hướng đến.

35 Pages 341-350

▲back to top

35.1 Page 341

▲back to top
Một ví dụ nhỏ cũng đủ cho thấy sự đan xen, hội nhập kết tinh của nhiều yếu tố
văn hóa: “Hát bóng rỗi” là một hình thức diễn xướng dân gian quen thuộc ở Đồng
Nai, trong đó điệu múa, lễ vật đậm nét Chăm, nghi thức kiểu người Hoa, trò diễn vui
vẻ mang dấu ấn của trò chơi dân gian Nam Bộ... Đó không phải là một phép cộng
toán học mà sự kết tinh cái đẹp phù hợp thị hiếu thẩm mỹ của người địa phương. Với
đặc điểm như thế, vốn văn hóa phi vật thể ở xứ Đồng Nai dồi dào phong phú, giàu vẻ
đẹp trên nhiều lĩnh vực hình thành tài sản quí báu cả về số lượng và chất lượng. Nó
chứa trong trí nhớ, cảm xúc và kinh nghiệm của dân gian, lệ thuộc vào tuổi tác sinh
hoạt của chủ nhân và không phải muốn khai thác lúc nào cũng được .
Tiếc thay, từ sau ngày Thống nhất đất nước đến nay, mỗi năm, chúng ta đều
kiểm kê tài sản từ cái xe, cái tủ, cái bàn, cái ghế... nhưng chưa một lần tính chuyện
kiểm kê tài sản văn hóa phi vật thể ở xứ Đồng Nai, chưa xác định giá trị của nó, chưa
được hiểu hết sự vận động giao lưu biến đổi của nó, chưa biết được và đương nhiên,
chưa có biện pháp hữu hiệu để giữ gìn và phát huy.
Một vài khảo sát riêng lẻ cho thấy ở Đồng Nai, vùng đất mới cho nên không có
thần thoại bản địa, ít truyền thuyết (hầu hết là truyền thuyết địa danh hoặc gắn với
nhân vật lịch sử), truyện cổ tích khá phong phú, phần lớn giải thích về hoa trái,
muông thú, địa danh và các đình chùa, miếu mạo ở địa phương. Trong các hình thức
tự sự, yếu tố hư cấu ít tham gia vào câu chuyện, nhường phần cho sự phân tích gần
với logic khoa học.
Theo hồi ức người già, những điệu hò cấy, hò chèo ghe, hò xay lúa khi xưa
từng làm sôi động các bến sông, đồng lúa ở Long Thành, Nhơn Trạch, Biên Hòa, Tân
Uyên... Nhưng sự phát triển công nghiệp dần dà tiễn đưa các hình thức này đi vào
quá khứ theo những người lớn tuổi. Người sưu tầm ở Đồng Nai thường chạm vào ký
ức vừa dí dỏm vừa tiếc nuối của nghệ nhân lớn tuổi:
Câu hát tui đựng một vò
Đến khi mở nắp nó bò lu bu
Câu hát tui đựng một lu

35.2 Page 342

▲back to top
Đến khi mở nắp chổng khu đi tìm.
Gần đây, do tín hiệu xanh “giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc” trong
nhân dân dậy lên “cơn sốt” khôi phục lễ hội; có cả lễ hội truyền thống cổ truyền lẫn
những lễ hội biến tướng hoặc vụ lợi. Các lễ hội: Cúng đình, cúng miếu, dinh Cô, đền
Nam Hải... tới các sinh hoạt: Hầu Bà, Chập Địa - Nàng, Hát bóng rỗi trở lại với dân
gian sau nhiều năm vắng bóng. Bên cạnh đó, các hiện tượng buôn thần bán thánh
cũng phát triển ngày càng tinh vi, phức tạp. Riêng đối với đồng bào dân tộc, người
Châu Ro, Châu Mạ, Xtiêng... trước đây trọn lòng trọn dạ với cách mạng, nay đang có
xu hướng ngả theo lực hút của kinh thánh Tin Lành. Rõ ràng, tâm linh của dân gian
vẫn luôn thôi thúc và đang đi tìm chỗ đứng. Nếu Đảng và Nhà nước không chăm sóc,
vun trồng đúng mức phải chăng nó nảy mầm theo hướng khác.
Đồng Nai đang bước nhanh trên con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa, là
vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Hơn lúc nào và ở đâu hết, vốn di sản văn hóa phi
vật thể đang cọ sát với nhịp sống công nghiệp, với xu hướng tin học hóa, quốc tế hóa
đang bật lên tiếng kêu đòi hỏi có sự chú trọng thích đáng. Sự chú trọng thích đáng
cần nhất cho hiện nay là một chính sách khẩn trương trân trọng trong việc kiểm kê,
đánh giá phân loại, bảo tồn và làm phát triển vốn di sản văn hóa phi vật thể ở địa
phương như các nước trong khu vực từng làm. Đã chậm, nhưng có còn hơn không.
Bởi vì thời gian không đợi ai cả, tiền của không thể và không bao giờ mua được
những văn hóa phi vật thể đã mất.
Ts. Huỳnh Văn Tới

35.3 Page 343

▲back to top
PHẦN PHỤ LỤC
&

35.4 Page 344

▲back to top

35.5 Page 345

▲back to top

35.6 Page 346

▲back to top

35.7 Page 347

▲back to top

35.8 Page 348

▲back to top

35.9 Page 349

▲back to top

35.10 Page 350

▲back to top

36 Pages 351-360

▲back to top

36.1 Page 351

▲back to top

36.2 Page 352

▲back to top

36.3 Page 353

▲back to top

36.4 Page 354

▲back to top

36.5 Page 355

▲back to top

36.6 Page 356

▲back to top

36.7 Page 357

▲back to top

36.8 Page 358

▲back to top

36.9 Page 359

▲back to top

36.10 Page 360

▲back to top

37 Pages 361-370

▲back to top

37.1 Page 361

▲back to top

37.2 Page 362

▲back to top

37.3 Page 363

▲back to top

37.4 Page 364

▲back to top

37.5 Page 365

▲back to top

37.6 Page 366

▲back to top

37.7 Page 367

▲back to top

37.8 Page 368

▲back to top

37.9 Page 369

▲back to top

37.10 Page 370

▲back to top

38 Pages 371-380

▲back to top

38.1 Page 371

▲back to top

38.2 Page 372

▲back to top

38.3 Page 373

▲back to top

38.4 Page 374

▲back to top

38.5 Page 375

▲back to top

38.6 Page 376

▲back to top

38.7 Page 377

▲back to top

38.8 Page 378

▲back to top

38.9 Page 379

▲back to top

38.10 Page 380

▲back to top

39 Pages 381-390

▲back to top

39.1 Page 381

▲back to top

39.2 Page 382

▲back to top

39.3 Page 383

▲back to top

39.4 Page 384

▲back to top

39.5 Page 385

▲back to top

39.6 Page 386

▲back to top

39.7 Page 387

▲back to top

39.8 Page 388

▲back to top

39.9 Page 389

▲back to top

39.10 Page 390

▲back to top
MỤC LỤC
– LỜI GIỚI THIỆU
– Tản mạn về danh xưng Đồng Nai
– Nghiên cứu khảo cổ học ở Đồng Nai thực trạng và những giá trị văn hoá lịch sử
– Những thành tựu tiêu biểu của cư dạn tiền sử Đồng Nai
– Đồ gốm tiền sơ sử Đồng Nai qua kết quả nghiên cứu khảo cổ học
– Tín ngưỡng dân gian của cư dan người Việt ở Đồng Nai
– Tìm hiểu những ngôi đình ở Đồng Nai
– Những ngôi chùa cổ ở Biên Hòa
– Bác Hồ trong đời sống van hóa tinh thần của nhân dân Đồng Nai
– Đền Hùng Vương Biên Hòa với tục thờ cúng tổ tiên
– Tục thờ cúng nữ thần ở Đồng Nai
– Tản mạn về chuyện cọp ở Biên Hòa – Đồng Nai
Những làng cổ ở Đồng Nai
– Bộ sưu tập gốm từ sông Đồng Nai
– Một số thắng cảnh Đồng Nai
– Bước đầu tìm hiểu cộng đồng người Hoa ở vùng Biên Hòa – Đồng Nai
– Bước đầu khảo sát một số cơ sở tín ngưỡng người ở Đồng Nai
– Tìm hiểu một số lễ hội của người Hoa
– Tìm hiểu về cộng đồng cư dân bản địa Châu Ro – Châu Mạ ở Đồng Nai
– Bước đầu tìm hiểu về chuyện kể Châu Ro – Châu Mạ
– Tìm hiểu loại hình hát kể Tăm Pớt của người Châu mạ ở Đồng Nai
– Tìm hiểu lễ hội Sa Yang Va của người Châu Ro tại Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu
– Lễ hội: Môi trường nảy sinh, duy trì loại hình hát – múa của người Châu Ro, Châu
Mạ
– Dấu tích thành Biên Hòa di tích lịch sử cần được giữ gìn tôn tạo
– Xây dựng – giữ gìn và phát huy các giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Đồng
Nai
– Bảo tồn và phát triển văn hóa phi vật thể ở Đồng Nai
– PHẦN PHỤ LỤC